TIN TỨC

Võ Tấn Cường và chiêm nghiệm về sự phù phiếm của thi ca

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-04-12 17:58:01
mail facebook google pos stwis
5895 lượt xem

 

Nguyễn Văn Hòa

 Jakobson từng nói: “Thơ là ngôn ngữ tự lấy mình làm cứu cánh”. Nhà thơ Võ Tấn Cường tự thức sâu sắc điều này nên anh rất coi trọng việc sáng tạo ngôn ngữ thi ca. Hơn ai hết anh nhận ra vai trò, vị trí của nhà thơ trong việc kết giao và gạch nối kỳ diệu giữa cõi tâm linh, con người và vũ trụ. Thiên chức của nhà thơ vô cùng thiêng liêng nhưng trọng trách cũng rất nặng nề. Vì thế, để làm tròn bổn phận và thiên chức đó không phải là điều đơn giản trong một sớm một chiều. Bởi trong lĩnh vực nghệ thuật nói chung, người làm thơ nói riêng điều tối kỵ nhất là sự hời hợt, cẩu thả. Bên cạnh tài năng thiên phú, niềm đam mê thì cần phải có cái tâm lẫn ý thức trách nhiệm của người cầm bút. Võ Tấn Cường là một thi sĩ đúng nghĩa, anh sống và cống hiến hết mình với thi ca mà ở đó không có mùi của danh lợi, tiền tài. Ở đó không có sự đua chen, ganh ghét, hiềm khích và những tanh tưởi đu bám… Nơi đó chỉ có chỗ cho thiên lương, cho những khát khao sáng tạo nghệ thuật, là tiếng nói chân thành và thống thiết nhất từ con tim nhà thơ. Chính điều này tạo nên nét phong cách, bản chất sáng tạo riêng mang đậm dấu ấn cá nhân; khẳng định cá tính sáng tạo và lý tưởng thẩm mỹ của Võ Tấn Cường.


Nhà thơ Võ Tấn Cường.

Thơ Võ Tấn Cường luôn hướng đến cái đẹp, cái cao cả, thiên lương dù đôi lúc đó chỉ là sự mộng tưởng, là niềm mơ ước ở tương lai “ảo mờ”, xa tít. Do đó, anh thường tìm đến những ảo mộng, ước mơ. Hành trình lao động và sáng tạo nghệ thuật của Võ Tấn Cường đã phần nào minh chứng cho điều vừa nói ở trên.

Võ Tấn Cường là người cần mẫn, nỗ lực, luôn có ý thức tìm tòi để làm mới cảm xúc và sự thể hiện trong thơ. Với anh, mỗi sự vận động của thiên nhiên, cây cỏ, con người… đều tạo cho anh những cảm xúc, liên tưởng để anh sáng tạo. Nhà thơ cho rằng, đó không chỉ là thiên chức mà còn là nghĩa vụ và trách nhiệm của người thi sĩ. Vì thế, mọi thứ anh thấy, mọi việc anh chứng kiến, và cả những điều trong dự cảm đều là mạch nguồn sáng tạo thôi thúc anh phải cất lên tiếng nói thông qua thơ. Tiếng nói ấy, xuất phát từ tâm cảm, chiêm nghiệm, suy tư về con người và cuộc đời trong cái nhìn của một con người đa cảm. Ở đâu, lúc nào, bao giờ hễ bắt gặp hình ảnh nào đó cũng đều để lại trong anh những cảm xúc khó phai. Nhà thơ đắm chìm trong không – thời gian thực – ảo với lời thơ da diết, nghẹn ngào…

– “Chiều đi qua lò thiêu/ Ngước nhìn đám khói đen kịt hình quái vật/ Nhớ Chế Lan Viên/ Ông đi đến lò thiêu bằng nụ cười bình thản/ Bỏ lại bên đường dấu chân thầm lặng/ Bỏ lại câu thơ tứa máu hoàng hôn…” (Qua lò thiêu nhớ Chế Lan Viên).

– “Đêm không trăng không sao không túi thơ bầu rượu/ Tôi gặp Nguyễn Du thức dậy sau giấc ngủ gần 200 năm/ chậm bước dạo bến Ninh Kiều/ Chiếc áo nâu Người mặc sũng nước mắt của chúng sinh lầm than lạc lối/ Chiếc túi thơ Người mang đựng đầy gió bụi lấm láp vị mặn muối đời/ Những nàng Kiều như những bóng ma trơi mời gọi cơn đói khát ái tình…” (Gặp Nguyễn Du ở bến Ninh Kiều).

– “Đêm hoang. Tôi hóa trăng bập bềnh sông Tiền miên man trôi phà Rạch Miễu. T ơi! Hồn anh trôi nổi cõi nào? Tôi nhớ đêm trăng chuyến phà say thơ say hồn say tình trôi nổi. Anh ném tập thơ vào mộ sóng thủy táng nỗi đau chìm nổi kiếp người. T ơi! Bao phận Kiều Nguyệt Nga nổi trôi chờ Lục Vân tiên cứu rỗi? Tôi gọi tên anh gọi Lục Vân Tiên thời đại. Sóng thì thầm khúc nổi trôi muôn thuở. Lục bình dập dềnh cõi tím mong chờ hoang lạnh dòng sông. Cái đẹp hồn hoa cứu rỗi những linh hồn trôi nổi? …” (Khúc nổi trôi phà Rạch Miễu).

Giọng chủ đạo trong thơ Võ Tấn Cường là giọng điệu tâm tình, thủ thỉ, suy tưởng, triết lý; thể hiện rõ nét nỗi cô đơn, hoang hoải, hoài nghi trong cuộc sống và cả trong tình yêu. “Lửa sự thật thiêu rụi hình nộm rơm ái tình/ Cánh đồng cuối mùa yêu hiu hắt cơn gió si mê nhạt nhòa bóng nghĩa tình/ Tôi gom tro bụi đổ hài cốt hình nuộm rơm ái tình trôi mênh mang dòng sông quên lãng/ Dọn sạch cõi nhớ/ Khô hạn cánh đồng yêu/ Tôi hóa xơ xác hình nuộm rơm cô độc ngóng bóng chiều.” (Hình nộm rơm ái tình).

Bằng vốn sống, sự hiểu biết anh tự thức sâu sắc thời đại mà anh đang sống, thời đại mà trong suy nghĩ của một bộ phận không nhỏ xem thơ là món ăn tinh thần vô bổ và phù phiếm. Họ chạy theo và thỏa mãn những dục vọng đời thường, tranh quyền, đoạt lợi, hơn thua, ganh ghét đố kỵ, toan tính lẫn nhau. Cuộc đời họ là những thực dụng, tầm thường, trần trụi nên ngay cả giấc mơ của họ cũng tầm thường như thế! Trong mắt của những người sống vì lợi danh, thơ ca là phù phiếm nhưng với cá nhân Võ Tấn Cường thì sự phù phiếm ấy cũng có giá trị của nó. Giá trị đó, đôi khi bạc tiền, quyền cao chức trọng không thể đổi được.

Trong bài: “Đồng xu và trái tim”, bằng cách nói ám gợi, nhân vật trữ tình “tôi” bày tỏ thái độ, bản chất, quan điểm, lập trường của chính mình trước những ma lực, cám dỗ, sức mạnh của đồng tiền và trước ranh giới mong manh của tình người. “Người muốn ban cho tôi tình thương/ như bố thí đồng xu rỉ sét và cáu bẩn/ Nửa đồng xu óng ánh vẻ băng giá rợn mặt người/ Nửa đồng xu tỏa hơi ấm nóng trái tim đắm đuối/ Đồng xu rơi/ Giật thót hồn trẻ thơ ngủ vùi chiếc nôi phù thủy…/ Tôi đem tuyết trinh hồn tôi chơi canh bạc đời mình/ Yếu mềm trái tim chống chọi sấp ngửa đồng xu sắc lạnh/ Rỉ máu đỏ trộn lẫn máu xanh kim loại/ Người ơi!/ Tôi không phải kẻ ăn mày tình thương/ Xin nhặt trả người đồng xu toan tính/ Dù tuyệt lộ chết khát miền sa mạc tình người/ Tôi vẫn mơ giọt tinh khiết suối nguồn yêu.”

Võ Tấn Cường rất có lý khi cho rằng: “Vũ trụ của nhà thơ quy định và ẩn chứa quyền năng siêu việt sức mạnh tâm linh của nhà thơ đối với ngôn từ và tạo vật. Nhà thơ khai phóng mọi giác quan hòa trộn chúng thành siêu cảm và hòa nhập với thế giới ngôn từ để tạo dựng nên vũ trụ của thi ca. Thi ca thâu tóm và vén mở vũ trụ trong mọi chiều kích, phá vỡ ranh giới vật lý giữa các sự vật để chúng liên kết và giao hòa với nhau bằng trật tự siêu cảm giữa thế giới tâm linh của nhà thơ. Nhà thơ giữ vai trò thiêng liêng và là người kết giao là gạch nối kỳ diệu giữa cõi tâm linh con người và vũ trụ?”.

Sự gắn kết của cấu tứ, của ngôn từ không còn nằm ở vần điệu mà ở mạch suy tưởng của nhà thơ. Để từ đó tạo tiền đề cho nhà thơ mở rộng sự liên tưởng và sáng tạo trước hiện thực cuộc sống hiện đại lắm phức tạp này. Người đàn bà bán ớt (Trong bài thơ cùng tên) không chỉ hiểu ở nghĩa thực mà Võ Tấn Cường còn gợi ra cho người đọc trường liên tưởng khác về số phận, cuộc đời, sự bạc bẽo, đắng cay, trống vắng, lo âu trong mối quan hệ đa chiều của đời sống. “Những đốm lửa cay thiêm thiếp góc chợ chiều/ Những trái ớt đỏ xát rát lời rao ngọt lịm/ Người đàn bà bán vị đắng cay/ Ướp nhạt nhẽo hồn người phố chợ/ Những trái ớt cháy lên đốm lửa khát khao/ Ai mặc cả sức nóng ngọn lửa?/ Ai bán mua đắng cay đời người?”.

Võ Tấn Cường là nhà thơ có sở trường trong việc sử dụng ngôn ngữ thơ mang tính lạ hóa, siêu thực, huyền ảo. Với ngôn ngữ ấy cùng hình thức thể loại thơ tự do đã mở rộng biên độ phản ánh: thể hiện rõ nét thân phận con người cô đơn, nhiều khát vọng bất thành; chiêm nghiệm về tình đời – tình người với bao giềng mối chao đảo… Điều Võ Tấn Cường lưu tâm nhiều vẫn là tiếng nói riêng của anh về người làm thơ nói chung và thân phận những người thi sĩ như anh trên hành trình sáng tạo thi ca: “ngụp lặn”, “lăn lóc”, đầy hoài nghi, lắm trăn trở, nhiều suy tư. Anh sâu sắc nhận ra rằng: “Điều trớ trêu là thi ca có thể nuôi dưỡng, làm phong phú tâm hồn nhưng lại không thể nuôi sống được thân xác con người. Giống như tình yêu có thể nuôi sống linh hồn nhưng lại thường gây đau đớn cho thể xác. Thi ca bất lực trước cái chết nhưng lại có thể xoa dịu nỗi đau của con người trước sự ngắn ngủi, mong manh của kiếp người. Thi ca tồn tại trong sự phù phiếm của chính nó trong mối tương quan với sự vật và cuộc sống…”.

Bằng sở trường và sự linh hoạt trong việc xâu chuỗi các hình ảnh, biểu tượng, Võ Tấn Cường đã tìm cách đẩy những sáng tạo của mình chạm tới cội nguồn, chiều sâu văn hóa. “Tôi bị bỏ rơi hang tiền sử/ Vách đá rêu phong vọng kiếp lặng câm/ Tôi bỏ rơi cõi trần thế/ Ngủ miên man giun dế thì thầm/ Tôi soi gương mặt đá/ Tâm linh hồn sương móc/ Tiếng khóc sơ sinh thanh lọc hình hài/ Tôi đi bằng bốn chân/ Con đường hun hút vực sâu âm âm cõi đá/ Bám chặt sợi dây leo tiền kiếp/ Tôi rơi cõi hoang vu…” (Hang tiền sử).

Sức dung chứa những hình ảnh vừa quen, vừa lạ, mang sự lấp lánh đầy mê hoặc tạo nên không gian thơ trùng phức, thể hiện một hiện thực đa tầng. Ở đó, nhà thơ thỏa sức bày tỏ những trăn trở, suy tư, nghiệm sinh về con người và cuộc đời.

Bài thơ: “Chân dung tôi ở bào tàng”, nhà thơ thổi vào người đọc cảm giác bồng bềnh trong cõi mộng, vừa thật vừa ảo, biểu hiện tất cả những mặt sáng – tối, hoang vắng, lạnh lùng, đau đớn, u mê, đói khát, thiên thần, quỷ sứ… Võ Tấn Cường tạo dựng khoảng thời gian, không gian đặc biệt mà ở đó phơi trải ra tận cùng một cái tôi tự biểu hiện, tự soi tỏ: “Cưỡi khẩu thần công tôi bay lùi quá khứ/ Rơi thềm rêu cõi hoang tàn tro bụi/ Tôi chiêm ngưỡng chân dung tôi/ treo lơ lửng góc bảo tàng hơn một ngàn năm sau…/ Chân dung tôi nửa thiên thần nửa quỷ sứ/ Chân dung tôi nửa hoang đàng nửa thánh thiện/ Chân dung tôi nửa bóng tối nửa ánh sáng ban mai/ Chân dung tôi úp mặt góc tối tưởng niệm bóng tương lai/ Úp mặt cõi chết mơ hồi sinh ốc đảo tình hoang vắng/ Chân dung tôi chối từ bóng tôi/ Chân dung tôi ngoảnh mặt lạnh lùng/ Ngỡ ngàng tôi chối bỏ chính tôi/ Tôi lạc lõng miền hư vô/ Tôi mò mẫm tìm những mảnh vụn thịt da/ và linh hồn lả tả bay khắp chốn…”

Điều đáng trân trọng là thi sĩ Võ Tấn Cường đã tìm cho mình hướng đi riêng với một cái tôi cá tính đầy tự tin, đa chiều kích. Đôi lúc phiêu bồng, suy tưởng nhưng lại rất thật và có cơ sở từ thực tại. Hình như anh không cho phép chính bản thân anh ngơi nghỉ mà phải tận hiến, phải sáng tạo vì đã “lỡ” làm kiếp thi nhân. “Tôi viết câu thơ trên màn hình trắng/ như viết tên mình trên cát…/ Viết như sinh ra từ bào thai trắng/ Viết như tự sát bằng thuốc độc thời gian/ Viết như hoài thai sinh linh con chữ/ Viết như yêu em bằng tình yêu câm lặng/ Viết liều thần dược trị nỗi cô đơn/ Câu thơ hóa thân pha lê trắng.” (Viết trên cát).

Có thể mơ hồ, có thể vô nghĩa lý nhưng với Võ Tấn Cường đã mang trên mình thiên chức “thi sĩ” thì phải sáng tạo, phải có ý thức tạo nên cho mình cái riêng, cái khác biệt. Làm được điều này không phải đơn giản mà cần phải hi sinh và chịu thiệt thòi trên một phương diện khía cạnh nào đó của cá nhân… Nhưng Võ Tấn Cường xem đó lại là sự “giải tỏa”, là mục tiêu, là niềm hạnh phúc của anh với chữ nghĩa. Trên từng con chữ đang nhảy múa cũng là sự dung chứa bao điều của cuộc sống phồn tạp này.

Thơ Võ Tấn Cường là loại thơ kén người đọc, bởi đằng sau lớp ngôn từ, hình ảnh, tứ thơ… buộc người đọc phải giải mã, bóc tách, liên tưởng… thì mới có thể hiểu được thông điệp mà nhà thơ gửi gắm. Vì thế, thơ Võ Tấn Cường dày đặc các ẩn dụ, hình ảnh, biểu tượng… Đó chính là cách để nhà thơ dịch biến con chữ, mở ra chiều kích và sự liên tưởng đến vô cùng. Đặc biệt, tất cả đều đều hướng về cái đẹp, về mối quan hệ giữa thơ với đời sống thông qua hình tượng cái tôi trữ tình cụ thể.

Thơ Võ Tấn Cường thường tạo nên một khoảng thời gian, không gian một cách lạ lùng, huyền diệu và đầy bí ẩn, bảng lảng khói sương, đậm màu huyền nhiệm. Thông qua biểu tượng giấc mơ hoang với cây sáo huyền nhiệm để nhân vật trữ tình tôi “băng qua giá băng cơn mê dại ái tình” với những ham muốn tột bậc từ cõi vô thức nhằm thỏa mãn cơn khát tình yêu, giải tỏa những ẩn ức, khát khao, dồn nén mà bấy lâu nhân vật “tôi” chưa có dịp tỏ bày.

“Giấc mơ hoang/ Cây sáo tình rơi đáy vực hư vô/ Tôi tự róc thịt mình lấy ống xương thổi sáo/ Linh hồn tái sinh ống sáo bay lảnh lót vườn xanh/ Gọi tình lưu lạc chốn mê quay về bến cũ/ Gọi bóng trăng tỉnh thức cơn mộng du đáy sóng/ Gọi đóa phù dung xòe cánh/ mơ ấm màn sương lạnh lẽo mùa đông…”. Ở đó, có sự đan xen giữa thực – ảo, rất lãng mạn, mang đậm yếu tố tâm linh, gợi mở những điều sâu kín của chính mình.

Thơ Võ Tấn Cường mang thân phận của con người cô đơn, con người tồn tại trong nhiều mối quan hệ của xã hội hiện đại nhưng trong tâm thế bất an bởi những điều bất ổn, thậm chí phi lý. “Những gương mặt thơ ngây khao khát sự sống/ Những gương mặt hoan lạc pha lẫn nỗi kinh hoàng/ Gương mặt cô gái bán hoa: hoan lạc và đau đớn/ Gương mặt chàng trai nghiện ma túy: phảng phất khói sương phiêu diêu/ Gương mặt nhà sư: thánh thiện pha lẫn dâm dục/ Gương mặt luật sư: hằn nỗi oan khiên/ bao kiếp người cần lao khốn khổ/ Gương mặt kẻ buôn bán thánh thần:/ nhe nanh thú dữ giữa nụ cười trẻ thơ…” (Cửa sinh tử).

Dõi theo hành trình sáng tạo nghệ thuật của Võ Tấn Cường, chúng ta dễ nhận ra anh có nguồn năng lượng sáng tạo rất lớn cộng với niềm đam mê mãnh liệt và nhất là sự can đảm vượt thoát qua mọi rào cản, quy tắc để hướng đến điều nhân văn, nhân ái hơn…

Hiện thực cuộc sống hiện đại bề bộn, ngổn ngang bao điều được – mất, phải – trái, đúng – sai, thiện lương – ác quỷ… Võ Tấn Cường đã làm cuộc hành trình để chỉ ra và lý giải về sự hiện hữu, truy vấn một cách rốt ráo bởi nhà thơ muốn giải tỏa những ẩn ức, ứ nghẹn trong lòng. Có lúc, nhân vật trữ tình tìm đến giấc mơ, để từ giấc mơ mở ra nhiều những điều ảo diệu khác với những hoài nghi bằng hàng hoạt những câu hỏi tu từ.

– “Tôi soi gương sông Hậu gặp gương mặt người tình cũ/ Mơ lau lách ru sương nhiệm màu/ Tóc ai bay rối bời bời miền ảo ảnh// Ai đợi ai ở bến sông chờ?/ Tôi mơ gối đầu sóng nước sông Hậu/ Ngủ miên man giấc ngủ thiên thần”. (Đêm sông Hậu).

– “Phía cửa sổ tầng 9 anh dõi tìm vầng trăng nhợt nhạt/ Bên kia đường những bức tượng ngủ đứng/ mơ mái nhà bình yên ấm áp/ Phía nhà sách đường Nguyễn Huệ/ Những cuốn sách bụi bặm ngủ vùi trên kệ sách/ Người đàn ông bán kính ngoẹo đầu trên những chiếc kính tối tăm ảo giác/ Mơ giấc mơ còm cõi kiếp mưu sinh?/ Làm sao ta nhận ra nhau?/ Làm sao anh tìm được em?/ Anh chui vào chiếc hộp bê – tông/ Trốn vào thế giới ảo” (Giấc mơ trong hộp bê – tông).

Tuy nhiên, không phải lúc nào nhà thơ cũng có cảm giác được “giải tỏa”, đôi khi anh cũng cảm thấy bức bách vì những thứ bất cập, những điều trái tai gai mắt, những ngang trái, bất công vẫn cứ mặc nhiên tồn tại. Hình ảnh những đứa trẻ ở đảo Nam Du phải gồng mình với bão tố để đi giăng lưới, cắm câu làm người đọc không khỏi xốn xang. Tuổi thơ và những quyền cơ bản nhất của trẻ đã bị đánh cắp. Buồn đến nao lòng. “Những con chữ ngủ yên trong phận bạc giấy trắng/ Những chiếc lưỡi câu cong dấu hỏi?/ Tuổi thơ em về đâu?/ Sóng gió đưa em về đâu? Em câu bóng mây hay câu chiếc bóng của mình?” (Những đứa trẻ ở đảo Nam Du). Những câu hỏi tu từ không cần có câu trả lời nghe nhức nhối và buốt rát tâm can.

Bản chất nghệ sĩ, sự nhạy cảm và ý thức trách nhiệm công dân Võ Tấn Cường luôn đau nỗi đau của sự tha hóa đạo đức, mặt trái của thời công nghệ số, người ta bất chấp đi mọi thứ chỉ vì cái lợi trước mắt, chỉ sống vì tiền và danh lợi… Vì thế, có dịp ngang qua rừng U Minh lòng anh lại đau nhói trước cảnh: “Cánh rừng hấp hối/ lưỡi thần lửa liếm rụi màu xanh/ Tro tàn bay xám vùng ảm đạm/ Những cánh cò rũ chết/ Vành tang trắng chấp chới vòm trời/ Tang lễ hiện hình hư ảo.”

Bao nhiêu câu hỏi đặt ra và cứ vang vọng mãi trong anh: “Ai cứu chồi non khỏi biển lửa?/ Ai cứu nổi bầy ong khỏi cơn say mật?/ Ai cứu vầng trăng khỏi bị nấu sôi đáy nước? Ai cứu bóng râm bị mặt trời nuốt chửng?”. Nhà thơ hỏi trong sự vô vọng kiệt cùng trước hình ảnh cánh rừng giãy chết. Để rồi “tôi” phải tìm về em như tìm về chốn an lành, trinh nguyên nhất: “Tôi tìm cánh rừng trong mái tóc của em/ Tôi tìm cánh rừng nguyên sinh trên ngực em/ Tôi lạc lối và thổn thức…/ Cánh rừng và tôi cùng chết/ Nỗi chết đắng cay và nỗi chết ngọt ngào.”. Một sự trở về rất ý nghĩa và vô cùng độc đáo, bởi có sự đối sánh và liên tưởng không ngờ!

Nạn ô nhiễm môi trường và sự vô ý thức của con người được nhà thơ khéo léo nhắc đến trong bài thơ “Bài ca người móc cống”. Cái hay là Võ Tấn Cường xâu chuỗi đến những ký ức đẹp của tuổi thơ để nói về thực tại hôm nay. Từ thực tại hôm nay nhà thơ lại đi tìm về những giấc mơ xa. Từ cống đen rác rưởi, người thi sĩ ngẫm ngợi về những trắng đen, nhấp nhô ẩn giấu bí mật cặn bã của kiếp người.

Nhà thơ sáng tác phần lớn là thể thơ tự do, với đặc trưng của thể loại này, anh có thể tung tẩy và thỏa sức thể hiện, tạo nên những lớp ngôn ngữ, hình ảnh mang nét riêng để thể hiện cái đa dạng, bộn bề của đời sống chung. Điều này góp phần tích cực vì đã làm thỏa mãn chiều sâu nhận thức, chiều sâu trí tuệ.

“Cửa sinh tử” là một bài thơ văn xuôi khá dài, khá hay và có nhiều nét độc đáo. Có thể nói bài thơ thể hiện rõ nét những nghiệm sinh, triết luận về con người và cõi thế trong sự tương giao của nhiều mối quan hệ, của nhiều đối tượng, con người, sự việc, diễn tiến của đời sống: “Ám ảnh của chàng bác sĩ sản khoa – nhà thơ về cửa sinh tử; Ám ảnh của người giữ nhà xác về cửa tử; Khúc hoan ca của cô gái bán hoa; Ám ảnh của sản phụ về cửa sinh tử; Ám ảnh của người phu đào huyệt về cửa sinh tử; Khúc bi hài của chàng bác sĩ sản khoa – nhà thơ về cửa sinh tử; Khúc bi ca của gã lãng tử về cửa sinh tử; Cơn trở dạ linh hồn của chàng bác sĩ sản khoa – nhà thơ; Bài ca về cửa sinh tử của người mộng du; Đối thoại của chàng bác sĩ sản khoa – nhà thơ với cửa sinh tử…”

Tất cả đều nằm trong một chỉnh thể nhưng với nhiều sắc diện, nhiều hàm nghĩa về thân phận con người ở cửa sinh tử. Nhà thơ rất tinh ý và sắc sảo trong việc biểu đạt, diễn giải, khéo léo để cho từng chủ thể nói lên tiếng nói, suy ngẫm với cái nhìn đa chiều về đời, về người, về những nỗi buồn – vui, ám ảnh giữa sự sống – cái chết… “Mẹ ơi!/ Con sợ bình minh/ Đưa mẹ về miền hư ảo/ Ngày mai không còn mẹ/ Mồ côi căn nhà trống vắng/ Mồ côi chiếc bóng/ Con tìm đâu hơi ấm chỗ mẹ nằm?”. (Mai con đưa mẹ ra đồng).

Hành trình thơ của Võ Tấn Cường từ Cánh thời gian (2000), Gọi xanh (2004), Chân dung thủy ngân (2018), Cửa sinh tử (2019), đến Ru giọt máu (2021) là bằng chứng về những tìm tòi, cách tân, nỗ lực hết mình trong việc làm mới thơ ca đương đại. Tuy nhiên, bên cạnh cái đạt được chắc chắn vẫn còn những thứ đang trong bước thể nghiệm, dò đường. Phải là người có bản lĩnh, có vốn sống, vốn văn hóa, niềm đam mê, sự tận hiến như anh thì mới có thể “can đảm” tìm cho mình một hướng đi riêng mang đậm dấu ấn cá nhân như thế. Võ Tấn Cường thể hiện rõ nét một cái tôi sáng tạo nghiêm túc của một thi sĩ thuần khiết đúng nghĩa, sẵn sàng tận hiến hết mình vì nghệ thuật. Dẫu biết rằng bản chất của sáng tạo là đổi mới, là không đi theo lối mòn của người khác đã đi; nhưng xác lập cho mình lối đi riêng chắc chắn sẽ lắm chông chênh, nhọc nhằn và cả sự cô độc.

N.V.H

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm