TIN TỨC

Bài thơ “Một nửa bông hồng”... và những trăn trở nhân sinh

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-10-06 06:17:27
mail facebook google pos stwis
3709 lượt xem

LÊ XUÂN LÂM
 

MỘT NỬA BÔNG HỒNG
 

Tôi vào vườn hoa

ngắt một bông hồng.

và bạn có tin không

bông hồng chỉ còn một nửa.

 

Một nửa bông hồng mắc ở dây thép gai

tàn tích chiến tranh để lại

cánh hồng non tơ mềm mại

run run trên tay tôi.

 

Dẫu đi hết cuộc đời

chắc chẳng bao giờ tôi quên buổi ấy

khi tặng nửa bông hồng cho bạn gái

tôi chờ nỗi ngạc nhiên. Em chỉ mỉm cười

 

Một bông hồng xé thành hai nửa

đang héo dần, bạn ơi.

 

Cuộc chiến tranh đã qua lâu rồi

gai thép nhọn vẫn đâm vào hiện tại

tôi vô tình hái hoa cho bạn gái

trên tay tôi: Một nửa bông hồng.

 

27.11.1985

(Thơ Văn Công Hùng, tập “BẾN ĐỢI”, Hội VHNT Gia Lai, 1992).

 

MỘT CHÍNH LUẬN SẮC SẢO!

Thoạt tiên, tôi đọc thấy “một nửa bông hồng” như một tự sự, về cái khoảnh khắc rủi ro của tình yêu đôi lứa. Nhưng rồi bỗng tôi nhận ra bài thơ đúng thực là một chính luận thật sắc sảo, chuyển tải khá mạnh mẽ thông điệp cảnh báo về những bất hạnh thực sự đã và sẽ đến sau chiến tranh. Bạn nghĩ sao?...

 Lỗi phép nhà thơ, tôi xin làm một cách trình bày khác, không cách dòng như thơ, mà vẫn câu chữ ấy, nhưng xếp viết như bài văn. Bài văn đó sẽ như thế này đây:

 

MỘT NỬA BÔNG HỒNG

Tôi vào vườn hoa/ ngắt một bông hồng./ và bạn có tin không/ bông hồng chỉ còn một nửa./ Một nửa bông hồng mắc ở dây thép gai/ tàn tích chiến tranh để lại/ cánh hồng non tơ mềm mại/ run run trên tay tôi.

Dẫu đi hết cuộc đời/ chắc chẳng bao giờ tôi quên buổi ấy/ khi tặng nửa bông hồng cho bạn gái/ tôi chờ nỗi ngạc nhiên. Em chỉ mỉm cười 

Một bông hồng xé thành hai nửa/ đang héo dần, bạn ơi.

Cuộc chiến tranh đã qua lâu rồi/ gai thép nhọn vẫn đâm vào hiện tại/ tôi vô tình hái hoa cho bạn gái/ trên tay tôi: Một nửa bông hồng.

27.11.1985

           

Bạn hãy đọc đi! Nhưng đừng đọc như đọc thơ,mà như đọc văn, bạn sẽ thấy lời văn, giọng văn… có sâu sắc và thuyết phục như một chính luận không? Bạn cũng sẽ thấy luận đề chính ở đây chính là rủi ro bất hạnh thời hậu chiến như tôi vừa nói trên kia đấy!

Xin bạn hãy chú ý ngày tháng năm mà tác giả ghi dưới bài thơ. Để thấy chiến tranh kết thúc năm 1975, đến 1985 là vừa 10 năm chẳn. Tôi mách thêm thông tin này: Theo tác giả cho biết, thì năm 1958 là năm sinh của ông. Nghĩa là Văn Công Hùng hoàn thành bài thơ “một nửa bông hồng” năm ông 27 tuổi.

Năm 1985, hay như lịch sử vẫn ngoái lại, gọi là những năm 80 của thế kỷ trước, thì tính cho đến nay, cũng chưa phải đã xa xăm gì. Cho nên, những người trạc tuổi nhà thơ, ngay cả lớp em út sau này nữa, hẳn vẫn còn nhớ “những năm tháng không thể nào quên” ấy. Đó là năm ta kỷ niệm 40 năm Việt Nam Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa; là năm làn sóng người vượt biên, rời bỏ đất nước ra đi, để lại lịch sử tiếng Việt hai chữ “thuyền nhân”; là năm lạm phát phi mã, đổi tiền và thực thi chính sách giá – lương – tiền, trái quy luật kinh tế; là năm chiến tranh đã đi qua 10 năm, nhưng biên giới phía Nam, rồi phía Bắc đã và vẫn còn rền vang tiếng súng của những cuộc chiến giữ đất đẫm máu; đó còn là năm Đảng cầm quyền đang tiến tới Đại hội đổi mới tư duy…Bạn hãy nhớ lại đi! Ôi cái thời đất nước đói nghèo, quá khứ nhói đau …

Trong cái dòng chảy đó của lịch sử, của cuộc sống sau chiến tranh, câu hỏi muôn đời của con người lại dội lên nhức nhối : Tìm đâu thấy hạnh phúc, hạnh phúc đang ở đâu?!...

Hãy nhớ, năm 1985 Văn Công Hùng mới 27 tuổi đời. Là sinh viên trường Văn mới rời ghế nhà trường được vài ba năm, chưa phải đã là nhà thơ Văn Công Hùng như hiện nay, lại được điều lên công tác tại Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Gia Lai – Kon Tum, một tỉnh Bắc – Tây Nguyên xa lơ lắc so với nơi anh được sinh ra và lớn lên. Nhưng có lẽ tình yêu thì hẳn là không xa lạ với anh. Và thêm nữa, có lẽ đây mới là điều quan trọng nhất, là tình thơ dường như đã được Trời phú sẵn cho trong máu huyết, ngay từ buổi cha mẹ sinh ra anh. Thế nên, Văn Công Hùng đã có lúc nhìn thời cuộc anh sống, bằng trái tim và con mắt của Nhà Thơ. Cảm nhận thấu tình cái hiện thực thơ ấy… để rồi bằng cái công cụ Thơ Trời cho, anh đã viết nên bài thơ “một nửa bông hồng” này. Để rồi, cho ta thấy, Văn Công Hùng đã mạnh mẽ cầm nguyên cả “một nửa bông hồng”, xông thẳng vào dòng chảy lịch sử nhân sinh kia, để cắm lên đó cái câu hỏi về tình yêu và hạnh phúc, với đầy những rủi ro, cam chịu; những chia lìa bất hạnh, không chỉ của riêng mình, mà còn của cả thế hệ vừa đi qua chiến tranh nữa. Sức luận chiến giữa hạnh phúc con người, với bất hạnh chiến tranh của “một nửa bông hồng”, vì thế đã đạt đến tầm phổ quán...

Thì đây, bạn hãy nhìn đây: “Tôi vào vườn hoa/ ngắt một bông hồng./ Và bạn có tin không/ bông hồng chỉ còn một nửa./ Một nửa bông hồng mắc ở dây thép gai/ tàn tích chiến tranh để lại/ cánh hồng non tơ mềm mại/ run run trên tay tôi.”

Thế đó, bạn có biết không: “Dẫu đi hết cuộc đời/ chắc chẳng bao giờ tôi quên buổi ấy/ khi tặng nửa bông hồng cho bạn gái/ tôi chờ nỗi ngạc nhiên. Em chỉ mỉm cười

Một bông hồng xé thành hai nửa/ đang héo dần, bạn ơi.”

Và xin bạn hãy nhớ. “Cuộc chiến tranh đã qua lâu rồi/ gai thép nhọn vẫn đâm vào hiện tại/ tôi vô tình hái hoa cho bạn gái/ trên tay tôi: Một nửa bông hồng.”

Rõ ràng, ai chẳng biết Hoa Hồng là biểu tượng của tình yêu và hạnh phúc!... Cũng không ai không biết cái “dây thép gai đâm nát trời chiều” kia là bản mặt tàn ác của chiến tranh. Và rồi vào hậu chiến, giữa vườn hoa hạnh phúc, cả khi chiến tranh đã đi qua, nhưng vẫn còn đó tàn tích mà chiến tranh để lại, đến đủ làm rách nát cả hạnh phúc đã tưởng như là không thể…

MỘT SÁNG TẠO THƠ ĐỘC ĐÁO!

Tôi xin cùng bạn trở lại nguyên tác “một nửa bông hồng” để cùng xem cái gì đã làm nên tính chính luận sắc sảo nêu trên, TỰbài thơ, TỪchính bài thơ này. Bởi vì, nếu trải ra như một luận văn thế kia, thì sứ mệnh chuyển tải thông điệp của nó sẽ mất đi biết bao truyền cảm, chỉ thơ mới chuyển tải được; hiệu quả cảnh báo nhân sinh của thông điệp, chỉ thơ mới khiến bao trái tim nhân tình thức tỉnh được…

 Thì đây, chính là bởi hình tượng thơ: MỘT NỬA BÔNG HỒNG ! Đó cũng chính là cái TỨ của bài thơ – một sự sáng tạo nghệ thuật độc đáo, bất ngờ của tác giả.

Câu chuyện khởi đầu từ việc chàng trai hăm hở vào vườn hoa, khẽ khàng, trân trọng, “ngắt” một bông hồng. Nhưng bạn có tin không”,“bông hồng chỉ còn một nửa” . “Một nửa bông hồng mắc ở dây thép gai”. Cái gai thép nhọn xé bông hồng thành hai nửa kia chính là“tàn tích chiến tranh để lại”. Và chao ôi!“cánh hồng non tơ mềm mại”. Cứ “ run run trên tay…”.

Tôi tự hỏi, vào vườn hoa cơ mà, sao cứ phải chọn hoa hồng để gặp phải rủi ro?! Rồi, hiểu rồi, là hoa để tặng “cho bạn gái”, cho tình yêu. Nhưng mà nhìn kìa, thật xót xa khi bông hồng hái được chỉ còn một nửa. Và một nửa bông hồng với những cánh hồng non tơ mềm mại đang run run…

Tôi lại tự hỏi, cánh hồng run run, hay bàn tay cầm nửa bông hồng run run? Cả hai! Một là thực thể và một nữa là tâm thế. Cái thực thể là cánh hồng. Nó run run vì bỗng bị xé thành hai nửa, không còn được là nguyên vẹn bông hồng nữa. Cái tâm thế là bàn tay của người cầm. Bàn tay cầm nửa bông hồng cũng run lên nỗi xót xa thương tiếc bông hồng bỗng bị xé thành hai nửa…

Luận đề “nỗi buồn chiến tranh”, thương đau hậu chiến, đã được hình tượng thơ MỘT NỬA BÔNG HỒNG  gợi lại, đặt ra; không phải bằng hàng trăm trang sách, hay hàng ngàn lời tuyên giáo, mà chỉ bằng một chữ “mắc” đầy rủi ro rình rập, với một thoáng “run run” bất hạnh khôn lường, trên bàn tay của khát khao tình yêu và hạnh phúc… Nhưng sao mà tôi thấy nhói lòng đến vậy!

Còn người được tặng hoa thì sao? “tôi chờ nỗi ngạc nhiên. Em chỉ mỉm cười” . Một chữ “chờ” và cái “dấu chấm” giữa câu thơ cho tôi biết cái tình yêu 27 tuổi kia không hề lơ ngơ, vội vã chút nào, khi nếu có thế thì cũng là phải nhẽ! Tôi nói thế, vì khi mới đọc qua lượt đầu bài thơ, tôi đã nghĩ “bông hồng chỉ còn một nửa. Một nửa bông hồng mắc ở dây thép gai”, chính là có nguyên do từ việc “ngắt” vội vàng, bất cẩn. Rủi ro ấy, nếu có, thì cũng là phải nhẽ thôi! Yêu thế kia mà, hồi hộp, vội vàng, rạo rực… thế kia mà!

Nhưng không phải! Chữ “mắc” giữa câu thơ cho tôi hay cái tình yêu kia đã đến điểm Hồng, không hề ngu ngơ, hời hợt. Có “ngắt” đấy, nhưng vẫn là một chọn lựa khá cẩn trọng. Phải điều, bông hồng rất đẹp kia, đã không thể gỡ ra nguyên vẹn. Để một nửa bông hồng đành đoạn “mắc” ở dây thép gai, thành một hệ lụy, một hệ quả… dĩ nhiên, đương nhiên, như hậu chiến là một thực tại, thực tồn – cái mặt sau tấm huân chương chiến công của chiến thắng! 

“Em chỉ mỉm cười” ! Một sự chấp nhận diễu cợt hay cảm thông, hời hợt hay khoan dung, vẫn quyết đi đến tận cùng hay đường ai nấy bước…?!... Không một hứa hẹn, hẹn hò nào được thốt thưa, thỏ thẻ ở đây cả. “Em chỉ mỉm cười... Và tôi bỗng nhận ra thông điệp từ chữ “chỉ” trong cái “mỉm cười” của em. Ấy là chấp nhận cảm thông, mà không hề diễu cợt; độ lượng khoan dung, mà không hề hời hợt. Nhưng còn cùng đi đến chung cuộc tình yêu ư… Hãy chờ đấy! đợi đấy!

“Một bông hồng xé thành hai nửa

đang héo dần, bạn ơi.”

Thực tại vẫn là thực tại. Không hề và cũng không được ảo tưởng. “Hoa dù đẹp mấy cũng tàn”. Bông hồng dẫu đẹp nguyên, vẫn héo. Đó là lẽ thường luật tử - sinh mà. Nhưng “Một bông hồng xé thành hai nửa/ đang héo dần,..” thì không phải là một lẽ thường nữa. Đó là tức tưởi, bất thường; đó là cưỡng bức, oan khiên… Một tình yêu và cái đẹp tưởng đã thoát khỏi chết chóc trong cuộc chiến, vẫn còn bị tàn tích của chính cuộc chiến ấy rình rập, chực chờ hũy hoại…  

“Cuộc chiến tranh đã qua lâu rồi

gai thép nhọn vẫn đâm vào hiện tại

Hậu quả dù là có thật, quá khứ dẫu có để lại nhiều đớn đau mất mát thật, nhưng dù sao “quá khứ cũng chỉ là cái đến trước tương lai mà thôi”. Nhưng hãy cứ hét lên đi, vẫn phải hét lên nữa đi! Bởi cuộc sống là một sự tiếp nối, nhân quả, nhân sinh. Vẫn biết “đêm dù tối nhất vẫn dẫn đến ban mai”, nhưng không có đêm thì sẽ không có ngày, ghi lấy, nhớ lấy!

“tôi vô tình hái hoa cho bạn gái

trên tay tôi: Một nửa bông hồng.”

MỘT NỬA BÔNG HỒNG! Đó cũng chính là cái TỨ của bài thơ, là một sự sáng tạo độc đáo của nhà thơ, và vẫn sẽ còn gây bất ngờ cho nhận thức thẩm mỹ của bất cứ ai tìm đọc và thức nhận thông điệp về “một nửa bông hồng” của Văn Công Hùng...

Tôi đã định kết thúc bài viết này, như ở trên đây, thì chợt nhớ lại chuyện xưa.

Rằng đã một thời người ta từng tranh cãi trường thiên, bất luận…  về cái gọi là “nghệ thuật vị nghệ thuật”, hay “nghệ thuật vị nhân sinh”, mà quên mất rằng, cãi nhau thế thì thật là vô bổ, cũng thật là vô nghĩa… Lại nữa, rằng “chính trị và nghệ thuật” là hai lĩnh vực khó chung sống hài hòa với nhau… Tôi nghĩ, còn phân biệt thế nữa thì cũng thật là vô minh.

Phải thấy rằng tất cả mọi sự đều có cái đích cuối cùng là nhân sinh bất diệt. Như bài thơ “một nửa bông hồng” của Văn Công Hùng được ta đọc ở đây, là nghệ thuật đấy, nhưng chính trị biết bao, nhân sinh biết bao! Bởi chỉ khi nào hình thức và nội dung đạt đến sự thống nhất hài hòa nhất, hữu cơ gắn bó nhất, thì đó mới chính là nghệ thuật nhân sinh đích thực.

Và đó là điều tôi đã thấy ở MỘT NỬA BÔNG HỒNG !

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm