TIN TỨC

Bài thơ “Một nửa bông hồng”... và những trăn trở nhân sinh

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-10-06 06:17:27
mail facebook google pos stwis
3885 lượt xem

LÊ XUÂN LÂM
 

MỘT NỬA BÔNG HỒNG
 

Tôi vào vườn hoa

ngắt một bông hồng.

và bạn có tin không

bông hồng chỉ còn một nửa.

 

Một nửa bông hồng mắc ở dây thép gai

tàn tích chiến tranh để lại

cánh hồng non tơ mềm mại

run run trên tay tôi.

 

Dẫu đi hết cuộc đời

chắc chẳng bao giờ tôi quên buổi ấy

khi tặng nửa bông hồng cho bạn gái

tôi chờ nỗi ngạc nhiên. Em chỉ mỉm cười

 

Một bông hồng xé thành hai nửa

đang héo dần, bạn ơi.

 

Cuộc chiến tranh đã qua lâu rồi

gai thép nhọn vẫn đâm vào hiện tại

tôi vô tình hái hoa cho bạn gái

trên tay tôi: Một nửa bông hồng.

 

27.11.1985

(Thơ Văn Công Hùng, tập “BẾN ĐỢI”, Hội VHNT Gia Lai, 1992).

 

MỘT CHÍNH LUẬN SẮC SẢO!

Thoạt tiên, tôi đọc thấy “một nửa bông hồng” như một tự sự, về cái khoảnh khắc rủi ro của tình yêu đôi lứa. Nhưng rồi bỗng tôi nhận ra bài thơ đúng thực là một chính luận thật sắc sảo, chuyển tải khá mạnh mẽ thông điệp cảnh báo về những bất hạnh thực sự đã và sẽ đến sau chiến tranh. Bạn nghĩ sao?...

 Lỗi phép nhà thơ, tôi xin làm một cách trình bày khác, không cách dòng như thơ, mà vẫn câu chữ ấy, nhưng xếp viết như bài văn. Bài văn đó sẽ như thế này đây:

 

MỘT NỬA BÔNG HỒNG

Tôi vào vườn hoa/ ngắt một bông hồng./ và bạn có tin không/ bông hồng chỉ còn một nửa./ Một nửa bông hồng mắc ở dây thép gai/ tàn tích chiến tranh để lại/ cánh hồng non tơ mềm mại/ run run trên tay tôi.

Dẫu đi hết cuộc đời/ chắc chẳng bao giờ tôi quên buổi ấy/ khi tặng nửa bông hồng cho bạn gái/ tôi chờ nỗi ngạc nhiên. Em chỉ mỉm cười 

Một bông hồng xé thành hai nửa/ đang héo dần, bạn ơi.

Cuộc chiến tranh đã qua lâu rồi/ gai thép nhọn vẫn đâm vào hiện tại/ tôi vô tình hái hoa cho bạn gái/ trên tay tôi: Một nửa bông hồng.

27.11.1985

           

Bạn hãy đọc đi! Nhưng đừng đọc như đọc thơ,mà như đọc văn, bạn sẽ thấy lời văn, giọng văn… có sâu sắc và thuyết phục như một chính luận không? Bạn cũng sẽ thấy luận đề chính ở đây chính là rủi ro bất hạnh thời hậu chiến như tôi vừa nói trên kia đấy!

Xin bạn hãy chú ý ngày tháng năm mà tác giả ghi dưới bài thơ. Để thấy chiến tranh kết thúc năm 1975, đến 1985 là vừa 10 năm chẳn. Tôi mách thêm thông tin này: Theo tác giả cho biết, thì năm 1958 là năm sinh của ông. Nghĩa là Văn Công Hùng hoàn thành bài thơ “một nửa bông hồng” năm ông 27 tuổi.

Năm 1985, hay như lịch sử vẫn ngoái lại, gọi là những năm 80 của thế kỷ trước, thì tính cho đến nay, cũng chưa phải đã xa xăm gì. Cho nên, những người trạc tuổi nhà thơ, ngay cả lớp em út sau này nữa, hẳn vẫn còn nhớ “những năm tháng không thể nào quên” ấy. Đó là năm ta kỷ niệm 40 năm Việt Nam Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa; là năm làn sóng người vượt biên, rời bỏ đất nước ra đi, để lại lịch sử tiếng Việt hai chữ “thuyền nhân”; là năm lạm phát phi mã, đổi tiền và thực thi chính sách giá – lương – tiền, trái quy luật kinh tế; là năm chiến tranh đã đi qua 10 năm, nhưng biên giới phía Nam, rồi phía Bắc đã và vẫn còn rền vang tiếng súng của những cuộc chiến giữ đất đẫm máu; đó còn là năm Đảng cầm quyền đang tiến tới Đại hội đổi mới tư duy…Bạn hãy nhớ lại đi! Ôi cái thời đất nước đói nghèo, quá khứ nhói đau …

Trong cái dòng chảy đó của lịch sử, của cuộc sống sau chiến tranh, câu hỏi muôn đời của con người lại dội lên nhức nhối : Tìm đâu thấy hạnh phúc, hạnh phúc đang ở đâu?!...

Hãy nhớ, năm 1985 Văn Công Hùng mới 27 tuổi đời. Là sinh viên trường Văn mới rời ghế nhà trường được vài ba năm, chưa phải đã là nhà thơ Văn Công Hùng như hiện nay, lại được điều lên công tác tại Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Gia Lai – Kon Tum, một tỉnh Bắc – Tây Nguyên xa lơ lắc so với nơi anh được sinh ra và lớn lên. Nhưng có lẽ tình yêu thì hẳn là không xa lạ với anh. Và thêm nữa, có lẽ đây mới là điều quan trọng nhất, là tình thơ dường như đã được Trời phú sẵn cho trong máu huyết, ngay từ buổi cha mẹ sinh ra anh. Thế nên, Văn Công Hùng đã có lúc nhìn thời cuộc anh sống, bằng trái tim và con mắt của Nhà Thơ. Cảm nhận thấu tình cái hiện thực thơ ấy… để rồi bằng cái công cụ Thơ Trời cho, anh đã viết nên bài thơ “một nửa bông hồng” này. Để rồi, cho ta thấy, Văn Công Hùng đã mạnh mẽ cầm nguyên cả “một nửa bông hồng”, xông thẳng vào dòng chảy lịch sử nhân sinh kia, để cắm lên đó cái câu hỏi về tình yêu và hạnh phúc, với đầy những rủi ro, cam chịu; những chia lìa bất hạnh, không chỉ của riêng mình, mà còn của cả thế hệ vừa đi qua chiến tranh nữa. Sức luận chiến giữa hạnh phúc con người, với bất hạnh chiến tranh của “một nửa bông hồng”, vì thế đã đạt đến tầm phổ quán...

Thì đây, bạn hãy nhìn đây: “Tôi vào vườn hoa/ ngắt một bông hồng./ Và bạn có tin không/ bông hồng chỉ còn một nửa./ Một nửa bông hồng mắc ở dây thép gai/ tàn tích chiến tranh để lại/ cánh hồng non tơ mềm mại/ run run trên tay tôi.”

Thế đó, bạn có biết không: “Dẫu đi hết cuộc đời/ chắc chẳng bao giờ tôi quên buổi ấy/ khi tặng nửa bông hồng cho bạn gái/ tôi chờ nỗi ngạc nhiên. Em chỉ mỉm cười

Một bông hồng xé thành hai nửa/ đang héo dần, bạn ơi.”

Và xin bạn hãy nhớ. “Cuộc chiến tranh đã qua lâu rồi/ gai thép nhọn vẫn đâm vào hiện tại/ tôi vô tình hái hoa cho bạn gái/ trên tay tôi: Một nửa bông hồng.”

Rõ ràng, ai chẳng biết Hoa Hồng là biểu tượng của tình yêu và hạnh phúc!... Cũng không ai không biết cái “dây thép gai đâm nát trời chiều” kia là bản mặt tàn ác của chiến tranh. Và rồi vào hậu chiến, giữa vườn hoa hạnh phúc, cả khi chiến tranh đã đi qua, nhưng vẫn còn đó tàn tích mà chiến tranh để lại, đến đủ làm rách nát cả hạnh phúc đã tưởng như là không thể…

MỘT SÁNG TẠO THƠ ĐỘC ĐÁO!

Tôi xin cùng bạn trở lại nguyên tác “một nửa bông hồng” để cùng xem cái gì đã làm nên tính chính luận sắc sảo nêu trên, TỰbài thơ, TỪchính bài thơ này. Bởi vì, nếu trải ra như một luận văn thế kia, thì sứ mệnh chuyển tải thông điệp của nó sẽ mất đi biết bao truyền cảm, chỉ thơ mới chuyển tải được; hiệu quả cảnh báo nhân sinh của thông điệp, chỉ thơ mới khiến bao trái tim nhân tình thức tỉnh được…

 Thì đây, chính là bởi hình tượng thơ: MỘT NỬA BÔNG HỒNG ! Đó cũng chính là cái TỨ của bài thơ – một sự sáng tạo nghệ thuật độc đáo, bất ngờ của tác giả.

Câu chuyện khởi đầu từ việc chàng trai hăm hở vào vườn hoa, khẽ khàng, trân trọng, “ngắt” một bông hồng. Nhưng bạn có tin không”,“bông hồng chỉ còn một nửa” . “Một nửa bông hồng mắc ở dây thép gai”. Cái gai thép nhọn xé bông hồng thành hai nửa kia chính là“tàn tích chiến tranh để lại”. Và chao ôi!“cánh hồng non tơ mềm mại”. Cứ “ run run trên tay…”.

Tôi tự hỏi, vào vườn hoa cơ mà, sao cứ phải chọn hoa hồng để gặp phải rủi ro?! Rồi, hiểu rồi, là hoa để tặng “cho bạn gái”, cho tình yêu. Nhưng mà nhìn kìa, thật xót xa khi bông hồng hái được chỉ còn một nửa. Và một nửa bông hồng với những cánh hồng non tơ mềm mại đang run run…

Tôi lại tự hỏi, cánh hồng run run, hay bàn tay cầm nửa bông hồng run run? Cả hai! Một là thực thể và một nữa là tâm thế. Cái thực thể là cánh hồng. Nó run run vì bỗng bị xé thành hai nửa, không còn được là nguyên vẹn bông hồng nữa. Cái tâm thế là bàn tay của người cầm. Bàn tay cầm nửa bông hồng cũng run lên nỗi xót xa thương tiếc bông hồng bỗng bị xé thành hai nửa…

Luận đề “nỗi buồn chiến tranh”, thương đau hậu chiến, đã được hình tượng thơ MỘT NỬA BÔNG HỒNG  gợi lại, đặt ra; không phải bằng hàng trăm trang sách, hay hàng ngàn lời tuyên giáo, mà chỉ bằng một chữ “mắc” đầy rủi ro rình rập, với một thoáng “run run” bất hạnh khôn lường, trên bàn tay của khát khao tình yêu và hạnh phúc… Nhưng sao mà tôi thấy nhói lòng đến vậy!

Còn người được tặng hoa thì sao? “tôi chờ nỗi ngạc nhiên. Em chỉ mỉm cười” . Một chữ “chờ” và cái “dấu chấm” giữa câu thơ cho tôi biết cái tình yêu 27 tuổi kia không hề lơ ngơ, vội vã chút nào, khi nếu có thế thì cũng là phải nhẽ! Tôi nói thế, vì khi mới đọc qua lượt đầu bài thơ, tôi đã nghĩ “bông hồng chỉ còn một nửa. Một nửa bông hồng mắc ở dây thép gai”, chính là có nguyên do từ việc “ngắt” vội vàng, bất cẩn. Rủi ro ấy, nếu có, thì cũng là phải nhẽ thôi! Yêu thế kia mà, hồi hộp, vội vàng, rạo rực… thế kia mà!

Nhưng không phải! Chữ “mắc” giữa câu thơ cho tôi hay cái tình yêu kia đã đến điểm Hồng, không hề ngu ngơ, hời hợt. Có “ngắt” đấy, nhưng vẫn là một chọn lựa khá cẩn trọng. Phải điều, bông hồng rất đẹp kia, đã không thể gỡ ra nguyên vẹn. Để một nửa bông hồng đành đoạn “mắc” ở dây thép gai, thành một hệ lụy, một hệ quả… dĩ nhiên, đương nhiên, như hậu chiến là một thực tại, thực tồn – cái mặt sau tấm huân chương chiến công của chiến thắng! 

“Em chỉ mỉm cười” ! Một sự chấp nhận diễu cợt hay cảm thông, hời hợt hay khoan dung, vẫn quyết đi đến tận cùng hay đường ai nấy bước…?!... Không một hứa hẹn, hẹn hò nào được thốt thưa, thỏ thẻ ở đây cả. “Em chỉ mỉm cười... Và tôi bỗng nhận ra thông điệp từ chữ “chỉ” trong cái “mỉm cười” của em. Ấy là chấp nhận cảm thông, mà không hề diễu cợt; độ lượng khoan dung, mà không hề hời hợt. Nhưng còn cùng đi đến chung cuộc tình yêu ư… Hãy chờ đấy! đợi đấy!

“Một bông hồng xé thành hai nửa

đang héo dần, bạn ơi.”

Thực tại vẫn là thực tại. Không hề và cũng không được ảo tưởng. “Hoa dù đẹp mấy cũng tàn”. Bông hồng dẫu đẹp nguyên, vẫn héo. Đó là lẽ thường luật tử - sinh mà. Nhưng “Một bông hồng xé thành hai nửa/ đang héo dần,..” thì không phải là một lẽ thường nữa. Đó là tức tưởi, bất thường; đó là cưỡng bức, oan khiên… Một tình yêu và cái đẹp tưởng đã thoát khỏi chết chóc trong cuộc chiến, vẫn còn bị tàn tích của chính cuộc chiến ấy rình rập, chực chờ hũy hoại…  

“Cuộc chiến tranh đã qua lâu rồi

gai thép nhọn vẫn đâm vào hiện tại

Hậu quả dù là có thật, quá khứ dẫu có để lại nhiều đớn đau mất mát thật, nhưng dù sao “quá khứ cũng chỉ là cái đến trước tương lai mà thôi”. Nhưng hãy cứ hét lên đi, vẫn phải hét lên nữa đi! Bởi cuộc sống là một sự tiếp nối, nhân quả, nhân sinh. Vẫn biết “đêm dù tối nhất vẫn dẫn đến ban mai”, nhưng không có đêm thì sẽ không có ngày, ghi lấy, nhớ lấy!

“tôi vô tình hái hoa cho bạn gái

trên tay tôi: Một nửa bông hồng.”

MỘT NỬA BÔNG HỒNG! Đó cũng chính là cái TỨ của bài thơ, là một sự sáng tạo độc đáo của nhà thơ, và vẫn sẽ còn gây bất ngờ cho nhận thức thẩm mỹ của bất cứ ai tìm đọc và thức nhận thông điệp về “một nửa bông hồng” của Văn Công Hùng...

Tôi đã định kết thúc bài viết này, như ở trên đây, thì chợt nhớ lại chuyện xưa.

Rằng đã một thời người ta từng tranh cãi trường thiên, bất luận…  về cái gọi là “nghệ thuật vị nghệ thuật”, hay “nghệ thuật vị nhân sinh”, mà quên mất rằng, cãi nhau thế thì thật là vô bổ, cũng thật là vô nghĩa… Lại nữa, rằng “chính trị và nghệ thuật” là hai lĩnh vực khó chung sống hài hòa với nhau… Tôi nghĩ, còn phân biệt thế nữa thì cũng thật là vô minh.

Phải thấy rằng tất cả mọi sự đều có cái đích cuối cùng là nhân sinh bất diệt. Như bài thơ “một nửa bông hồng” của Văn Công Hùng được ta đọc ở đây, là nghệ thuật đấy, nhưng chính trị biết bao, nhân sinh biết bao! Bởi chỉ khi nào hình thức và nội dung đạt đến sự thống nhất hài hòa nhất, hữu cơ gắn bó nhất, thì đó mới chính là nghệ thuật nhân sinh đích thực.

Và đó là điều tôi đã thấy ở MỘT NỬA BÔNG HỒNG !

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm