TIN TỨC

Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-04-08 12:54:35
mail facebook google pos stwis
23 lượt xem

Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình "Những miền quê trong thơ Việt" - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.

Tất nhiên cầu kỳ thế không có nghĩa nội dung bị xem nhẹ. Sau này tôi thêm một lần đồng cảm với nữ nhà thơ Lữ Mai trong tập thơ "Dắt nhau về cũ" cũng viết về các tỉnh thành trong cả nước…

Tất nhiên đó chỉ là cái cớ! Tập bình thơ về các vùng miền này cũng vậy, các bài thơ được chọn để bình đã vượt khỏi ranh giới hành chính.

 

Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình - ảnh 1

Bìa sách “Những miền quê trong thơ Việt” - nơi các địa danh đất nước được “vẽ lại” bằng thơ và lời bình, tạo nên một bản đồ cảm xúc giàu chiều sâu

 

Hành trình cảm xúc trên đất Việt

Xứ mình dài - rộng - dọc - ngang - núi - sông - trời - biển đâu đâu cũng có các nhà thơ, các bài thơ ngâm ngợi thù tạc kiểu Bà Huyện Thanh Quan tức cảnh sinh tình nơi con đèo lãng mạn bậc nhất nước Việt… Các miền quê vào thơ với đủ sắc thái chung - riêng: Viết vì một ai đó; viết sau một lần lang bạt đến; viết để lưu dấu, để ngỏ lời… 36 bài thơ đợt này, hai nhà phê bình văn học Nguyễn Hoài Nam và Đỗ Anh Vũ chọn bình, gắn với nhiều địa danh viết theo “đơn đặt hàng” từ trái tim. Viết bằng cảm xúc mới quý; không chạy theo các chuyến cơ sở đón mời, các trại sáng tác…, nghe đọc báo cáo, đi thăm đây đó, tiệc tùng…, rồi viết ào nhiều bài na ná nhau: Anh đưa em thăm quê anh, có tiềm năng này, tiềm năng kia, địa danh này, thắng cảnh nọ…, liệt kê như ngành du lịch khoe thế mạnh.

Có một giai thoại về nhạc sĩ Trần Chung, sinh thời, một bận ông và đoàn nhạc sĩ được Vườn Quốc gia Cúc Phương mời về sáng tác. Trong lúc lãnh đạo tiếp đoàn, cung cấp thông tin khái quát về Vườn, Trần Chung trốn đi đâu không ai biết. Mọi người chia nhau vào sâu trong Vườn tìm, thấy nhạc sĩ nằm ngủ dưới gốc “cây chò ngàn năm”, ngay cạnh chai rượu uống dở… Sau chuyến ấy, Trần Chung có ca khúc Nhớ về Cúc Phương để đời với giọng ca Trung Đức.

34 tác giả trong tập sách phần lớn là các tên tuổi trong làng thơ Việt: Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Tế Hanh, Nguyễn Bính, Hoàng Cầm, Nguyễn Duy, Thu Bồn, Phan Thị Thanh Nhàn… và một vài gương mặt trẻ. 36 bài thơ đủ các thể: Lục bát, 5 chữ, 6 chữ, thơ tự do… cũng chiếm tối đa là các bài nổi tiếng. Thơ và tác giả đã sống trong trí nhớ người yêu thơ, có thể kể ra đây theo chiều dài đất nước và chiều dọc thời gian - ý tưởng lựa chọn của hai đồng chủ biên.

Những Tiếng hát con tàu (Chế Lan Viên); Khau Vai (Trần Hòa Bình); Mưa Thuận Thành (Hoàng Cầm); Đêm sông Cầu (Đỗ Trung Lai); Áo lụa Hà Đông (Nguyên Sa); Hà Nội vắng em (Tế Hanh); Đò Lèn (Nguyễn Duy); Miền Trung (Hoàng Trần Cương); Giời mưa ở Huế (Nguyễn Bính); Tạm biệt Huế (Thu Bồn); Còn chút gì để nhớ (Vũ Hữu Định); Đèo Cả (Hữu Loan); Mũi Cà Mau (Xuân Diệu)… là những “cột mốc” thơ neo trên bản đồ địa danh đất Việt. Mới trích nhanh như thế đã đủ thấy sự hấp dẫn của tập sách với độ sắc và tinh của nhóm chủ biên.

Cách dàn trận chữ nghĩa cơ bản thống nhất giữa hai chủ biên từ dung lượng cho đến kết cấu bài bình. Ta có thể thấy sự đồng điệu trong cách mở tung vài nét lý lịch bài thơ, tác giả, rồi tỉa vào từng chi tiết, làm bật tứ bài thơ và găm chặt ý chốt. Công thức vậy nhưng vẫn có những nét “óng ánh” riêng của mỗi người; sự đa sắc của chính các bài thơ với nhiều thi ảnh, cấu tứ khác nhau khiến các “shot” bình cũng nhờ thế không chệch hướng rơi vào đơn điệu.

 

Chạm vào “huyệt đạo” của thi ca

Thơ hay ắt có đất để bình, tất nhiên bình sao để tạo được một văn bản liên thông lại là một chuyện khác, với “đề bài” lời bình phải gọn, sắc, tối đa 300 chữ, để chỉ dẫn những ai chưa biết sẽ tìm đến bài thơ hoặc gói lại “lời bạt” tối giản trong mối đồng cảm với những người đã đọc; và cung cấp cho các thầy cô giáo, các học sinh, sinh viên học Ngữ Văn như một dạng ngữ liệu tham khảo…

Viết cực ngắn - cực khó, nói như nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm, đó phải là thứ “văn bia”, chốt câu nào “chết cứng” câu đó. Thơ hay, nhiều ý tại ngôn ngoại, bài bình ngắn phải “điểm” chuẩn những “huyệt đạo” quan trọng trên cơ thể bài thơ. Xin “điểm” vài “huyệt đạo” mà Đỗ Anh Vũ và Nguyễn Hoài Nam đã “điểm” để thấy sự dụng công của hai tác giả.

Đỗ Anh Vũ chốt về Khau Vai (Trần Hòa Bình): “Câu thơ như một nhận định phổ quát cho mọi kiếp người: Ai trong đời chẳng có một Khau Vai”; về Phố Phái (Nguyễn Việt Chiến): “Thi sĩ giống như bước từ những bức tranh ra cõi người, đã tạm khép lại một cơn mộng du để đón những tia nắng ấm áp, những tiếng chim líu lo ríu rít”.

Trong khi đó, Nguyễn Hoài Nam cũng tối giản không kém khi kết bài bình về Đò Lèn (Nguyễn Duy) bằng câu ngắn mà nặng: “Có thể đọc và xem bài thơ Đò Lèn như lời sám hối của Nguyễn Duy trước vong linh bà, một lời sám hối thành thực và cảm động về tất cả những gì mà tuổi thơ ông đã vô tư được hưởng trên sự cơ cực của bà”; và đây nữa: “Nhà thơ Trần Mạnh Hảo vốn không xuất thân xứ Nghệ, nhưng với bài thơ Sông Lam, có thể nói rằng ông đã để lại cho xứ Nghệ một bài tỉnh thi”. Có lời bình sắc lẹm: “Hoa đỏ cứa vào rừng là một câu thơ tài hoa, như nhát chém thật ngọt cho một sự chia lìa” (Đỗ Anh Vũ); và trong trẻo như thơ: “Còn một chút gì để nhớ, bài thơ ra đời trong bối cảnh chiến tranh khốc liệt, nhưng lại dịu mát như một giọt sương chiều nơi phố núi Tây Nguyên” (Nguyễn Hoài Nam)…

Còn nhiều vùng đất và thi phẩm, hai tác giả đồng chủ biên chưa chạm tới, không phải do bàn chân thấm mỏi mà chỉ vì giới hạn khuôn khổ “chuyến đi”. Khi “tấm bản đồ” đất Việt bằng thơ và bình đã được phác thảo, cũng phải nhắc đến vai trò thiết kế mỹ thuật của họa sĩ Trần Thắng, 36 bức minh họa đẹp một cách thăng hoa và hợp lý của họa sĩ Lê Cường, giờ là lúc chúng ta lật giở trang sách và tự điền thêm cho riêng mình những “cột mốc” thơ trong suốt chiều dài miền chữ S và lịch sử thơ ca đất Việt.

Trần Nhật Minh

Nguồn: Báo Văn Hóa

Bài viết liên quan

Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm