TIN TỨC

Bảo Lộc - người thơ ở lại

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-06-15 09:46:38
mail facebook google pos stwis
775 lượt xem

ĐÀO ĐỨC TUẤN

Ta đến đây/ Khác với mây/ Là ở lại”. Đi Bảo Lộc đầu năm 2025, có 3 người thơ tôi muốn gặp là thi sĩ Bùi Thanh Tuấn (đang bệnh), nữ sĩ Thu Nguyệt (chủ Vườn thiền Thong Dong) và kỳ sĩ Nguyễn Đức Sơn (mất năm 2020). Kỳ sĩ Nguyễn Đức Sơn xin hầu bạn đọc sau vậy.


Những cơn mưa Bùi Thanh Tuấn

Trên đường lên Bảo Lộc, tôi nóng lòng gặp bạn thơ Bùi Thanh Tuấn, người viết bài thơ được nhạc sĩ Trương Quý Hải phổ thành tình khúc vang danh “Hà Nội mùa vắng những cơn mưa”. Trước đó không lâu, nghe tin bạn bị trọng bệnh, quy cố hương. Tuấn vẫn xài FB “Bùi Thanh Tuấn (Lão Bộc)”, tôi gọi thì giọng anh như reo: “Tới ngay! Tao đang trông!”.


Nhà thơ Bùi Thanh Tuấn ký tặng sách.

Bùi Thanh Tuấn là nhà thơ, nghệ sĩ nổi tiếng là một sự thật. Bùi Thanh Tuấn là một nhà báo đa năng là một sự thật. Bùi Thanh Tuấn hào hoa, đa mang nỗi buồn là một sự thật. Đầu 2025, tôi gặp một Bùi Thanh Tuấn nhớ nhớ quên quên, cứ chực khóc khi bạn cũ đến thăm. Anh giờ đang dưỡng bệnh tại nhà, sau khi phát hiện và điều trị bệnh ung thư vòm họng.

Gặp nhau, Tuấn cứ cầm tay tôi lắc lắc, thỉnh thoảng lại nói câu “mày lên đây thăm, tao mừng quá”. Dẫu biết cuộc sống vô thường nhưng thật rưng rưng khi gặp lại thằng bạn đẹp trai, đa tài mới ngày nào còn sung mãn bạt ngàn, giờ phải chống gậy run run. Tuấn gầy đi rõ rệt, nước da không còn trắng hồng như lần trước tôi gặp. Giờ chủ yếu anh loanh quanh nhà, ở cùng người chị ruột và vợ chồng đứa cháu. Trên bàn thuốc men la liệt.

Chúng tôi xin phép đưa Tuấn đi chơi Bảo Lộc phố. Dẫu quên nhiều chuyện gần đây nhưng anh vẫn còn nhớ vanh vách “đã từng 2 lần cưới vợ. Không có con. Giờ ở một mình. Học Sài Gòn. Ở mấy năm Hà Nội. Làm phim cho HTV, Phương Nam. Mở Cà phê Lão Bộc tại Bảo Lộc. Đi Âu, đi Á, ở Mỹ mấy năm. Rồi về lại quê…”. Ngồi trên taxi, Tuấn trầm ngâm “mấy tháng nay tao mới lại ra phố”. Trên đường, anh chỉ nơi này xưa Trịnh Công Sơn ở trọ, nơi kia xưa anh thuê mặt bằng mở Cà phê Lão Bộc, khuôn viên này xưa là trường kỹ nghệ đẹp nhất Đông Dương… Bạn bè Bảo Lộc vẫn thương quý tận tâm với Tuấn. Hễ anh gọi là họ đến ngay.

Bùi Thanh Tuấn nhỏ hơn tôi 3 tuổi nhưng vẫn mày tao như từ buổi đầu. Anh sinh năm 1974 tại Bảo Lộc, Lâm Đồng. Cuối năm 1992, anh viết bài thơ “Chia tay người Hà Nội” để tặng một người bạn gái. Hè 1993, nhạc sĩ Trương Quý Hải phổ bài thơ và dựa câu đầu đặt tên “Hà Nội mùa vắng những cơn mưa”. Rất nhanh chóng, bài hát đi vào lòng công chúng.

Bùi Thanh Tuấn cho hay: “Nhạc và thơ trong “Hà Nội mùa vắng những cơn mưa” có một mối tình đẹp. Chỉ trong 24 tiếng sau khi “lãng tử Hà thành” Trương Quý Hải phổ, bài hát đã có một đời sống riêng. Rồi phải 3 năm sau khi viết bài thơ “Chia tay người Hà Nội”, tôi mới lần đầu tiên đặt chân đến Hà thành. Tôi viết về Hà Nội bằng tưởng tượng, hình dung của riêng mình. Mà tưởng tượng bao giờ cũng lung linh…”.

Gặp nhau lần nào cũng thấy Tuấn hào sảng nói cười, yêu bạn bè vô tư lợi. Có lúc anh tư lự “mình “ăn” bài “Hà Nội mùa vắng những cơn mưa” nhiều quá…”. Thế nhưng mấy ai trong nhóm chúng tôi sớm tạc dạ công chúng được như anh. Đến nay, Bùi Thanh Tuấn đã in 2 tập thơ: “Còn chút tình riêng trong mắt nhau” (2000) và “Phiên bản” (2008). Tôi moi trong tủ sách của anh còn mấy cuốn “Phiên bản”; cuối bìa 4 có “dọa” sắp in 3 cuốn: “Hạnh phúc chỉ là lời nói dối”, “Tứ tuyệt cà chớn”, “Tứ tuyệt tình”. Ngoài sáng tác thơ, anh là người làm phim tài liệu, viết du ký tài hoa. Anh còn là ca sĩ, nhạc sĩ sáng tác những ca khúc “số má” như “Ru lòng khờ dại”, “Phúc âm buồn”…

Bùi Thanh Tuấn từng tâm sự: “Thành công đến sớm cũng là một bài học đời dạy mình. Dường như tôi chỉ muốn quên đi hết ngày hôm qua mình là ai, từng là gì, làm được gì, đau khổ hân hoan ra sao… Tôi chỉ giữ đúng niềm hãnh diện là mình luôn đã là chính mình, trung thành với một con người mơ mộng nhưng trần trụi vốn có. Tôi đã kiếm được tiền nhiều nhưng cũng bằng cách lương thiện và cũng đã sống những ngày “tận đáy” một cách kiêu hùng. Nếu có nợ, tôi chỉ nợ ân tình. Đời tôi thế mà lại vui! Tôi chưa qua hết đời người nên tôi không khẳng định được đời mình thành công hay thất bại”.
 

Thong dong Thu Nguyệt

Chưa đến Vườn thiền Thong Dong, tôi đã nghe danh nữ sĩ Thu Nguyệt. Rất nhiều người đã hết sức xúc động khi biết câu chuyện về hai người đàn ông có “dính dáng” đến cuộc đời chị. Đó là người chồng họa sĩ Việt Hải (Đặng Ca Việt) với cái chết không ngờ giữa độ sung sức. Và một chút “duyên nợ” của nhà thơ Bế Kiến Quốc với lời thơ bài hát “Ngẫu hứng lý qua cầu” (nhạc Trần Tiến) viết khi “say nắng” cô gái trẻ Thu Nguyệt.

Nhà thơ Bế Kiến Quốc viết bài thơ “Lý qua cầu” ngày 16/7/1984 tại thị xã Cao Lãnh, Đồng Tháp; sau in trong tập “Lời nói”. Bài thơ: Bằng lòng đi em…/ Nhưng má anh đã mất/ Mịt mù xa Nam - Bắc khó đưa dâu/ Bằng lòng đi em…/ Nữa mai rồi cách mặt/ Chuyện tâm tình muốn nói dễ chi đâu/ Bằng lòng đi em…/ Dẫu chỉ nhờ câu hát/ Có chiếc xuồng ba lá của riêng nhau/ Bằng lòng đi em…/ Mỗi khi buồn muốn khóc/ Một mình anh ca điệu lý qua cầu

Ngay sau nghe Bế Kiến Quốc đọc bài thơ, nhạc sĩ Trần Tiến đã hứng khởi phổ thành ca khúc “Ngẫu hứng lý qua cầu”. Bài hát lập tức bay xa, được công chúng nồng nhiệt hòa điệu.

Về cái duyên với người thơ tài năng này, chị Thu Nguyệt cho hay: “Đối với tôi, anh Bế Kiến Quốc là một người anh, một người thầy, một người bạn thơ vô cùng thiêng liêng. Tôi may mắn được gặp anh vào năm 1984, trong trại sáng tác văn học Đồng Tháp lần thứ nhất. Năm ấy, tôi là một con bé nhà quê, sinh viên Trường Sư phạm, mới tập tễnh bước vào lĩnh vực văn chương, tôi đã được anh tận tình chỉ bảo. Anh đã dạy tôi từ cách đọc và hiểu thế nào là một bài thơ hay đến những kỹ thuật sơ đẳng nhất của một người sáng tác”.

Nhà thơ Thu Nguyệt cho biết thêm: “Tôi và anh Bế Kiến Quốc trân trọng nhau nhưng chưa hề cầm tay, không một lần đụng chạm. Khi ra Hà Nội học Trường viết văn Nguyễn Du, tôi hồn nhiên đến nhà chơi khi vợ anh Quốc (nhà thơ Đỗ Bạch Mai) nhắn mời. Tôi đâu biết là lúc đó anh Quốc tỏ ra rất khó xử. Có người biết chuyện nói với tôi: “Mày dại quá! Bà Mai đang ghen mày ghê lắm!Vậy mà dám đến nhà người ta?!”. Thế nhưng sau đó, hai chị em tôi lại hết sức thân thiết”.

Sau này, khi nhà thơ Bế Kiến Quốc mất, chị Đỗ Bạch Mai đã cần mẫn lục lại, nâng niu từng bài thơ của anh viết cho mình và cho nhiều cô gái khác (trong đó có bài thơ “Lý qua cầu”) để in sách.


Nhà thơ Thu Nguyệt giữa Vườn thiền Thong Dong.

Về người chồng tài hoa của nhà thơ Thu Nguyệt (họa sĩ Việt Hải), nhà văn Trần Quốc Toàn hồi ức: “Trong thư viện Việt Hải có loại sách quý hiếm mà ít thư viện có được, đó là loại sách cả nhà cùng làm, vợ ngẫu hứng thì chồng định hình, mẹ viết thì con vẽ, vợ rút ruột ý tứ đợi chồng bao bìa hoàn thiện tác phẩm… Sách ấy là các tập thơ “Điều thật”, “Ngộ”, “Cõi lạ”, “Hoa cỏ bên đường” của bà Việt Hải, nhà thơ Thu Nguyệt. Những sách ấy, những tập thơ ấy, chồng Việt Hải vẽ bìa, ba cô con gái Hải Thi, Hải Thư, Hải Tú vẽ phụ bản, sách ấy vừa là sản phẩm lao động của cả nhà vừa là thú chơi sang trọng và không tốn kém của những gia đình chỉ biết sống bằng giấy bút, bằng phím chữ và mực in, bằng màu và cọ… đó là nhà vợ chồng Hải - Nguyệt và các con. Nhà ấy, kể từ 9h30 thứ tư, ngày 18/6/2003 đã mất một người. Việt Hải đã chết, chết trẻ 44 tuổi vào ngày ấy vì tai nạn giao thông, chết trên đường làm công việc của một họa sĩ trình bày báo, trên đường đi lấy một tấm hình, đặt vào ô trống trên trang báo anh đang trình bày dở dang”.        

3 năm sau khi họa sĩ Việt Hải mất, đến năm 2006, nhà thơ Thu Nguyệt mua được mấy sào đất ở Bảo Lộc. Rồi khi về hưu (năm 2018), chị quyết định rời Sài Gòn về hẳn Bảo Lộc để gầy dựng Vườn thiền Thong Dong, tại địa chỉ đường Lê Thị Riêng, xã Lộc Châu, TP Bảo Lộc, Lâm Đồng. Rất nhiều khó khăn khi một thân xây cơ ngơi giữa ngút ngàn núi đồi. Thế nhưng chị đã kham nhẫn vượt qua trong niềm vui lao động và tu tập.

Nữ sĩ Thu Nguyệt chia sẻ: “Thật thú vị khi mình được sống trong khu vườn do chính mình gây tạo. Tự do và hợp ý. Việc sáng tác thì tùy duyên và cảm xúc thôi. Tôi mong luôn giữ được khu vườn thanh tịnh, xanh tươi, ngập tràn năng lượng tích cực. Tôi sẽ được sống bình yên, thong dong. Tôi cũng mong vườn thiền sẽ là một địa chỉ yêu thương. Tôi nghĩ điều đó mang lại lợi ích cho mọi người. Và đó cũng là chút đóng góp của tôi cho cuộc đời này”.

Nguồn: Văn nghệ Công an.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm