TIN TỨC

Bảo Tấn – Thơ và khả năng tiềm ẩn

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-08-05 16:21:28
mail facebook google pos stwis
1837 lượt xem

Châu Hoài Thanh

Bảo Tấn tên thật là Huỳnh Tấn Bảo, khuôn mặt mới trong làng Văn nghệ tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu những năm gần đây.

Gặp Bảo Tấn, cảm xúc đầu tiên khá ấn tượng bởi mái tóc dài cột túm phía sau. Nụ cười luôn trên môi và cách nói chuyện hài hước. Ở đâu có mặt Bảo Tấn là ở đó là vui. Bạn bè thân thiết gọi anh là nhà sáng tạo ngôn ngữ bởi anh có thể nói xuôi ngược, bắt lái từ, hết đưa lên cao lại hạ xuống thấp khiến cho những ai gần anh, thật hoạt ngôn mới có thể đối đáp được.

Sinh năm Bính Thìn 1976. Bảo Tấn là người tài hoa. Vừa là họa sĩ, vừa đam mê viết. Được biết họa sĩ là nghế chính, cho anh thu nhập đủ sống. Bảo Tấn đã có nhiều cuộc triển lãm tranh nơi mình sinh sống với đầu tư khá chăm chút và tỉ mẫn.

Vào Hội Văn học Nghệ thuật chưa lâu thì anh cho ra đời tập thơ Thả trôi nổi buồn năm 2020 khá ấn tượng với chất liệu giấy tốt, nhiều bài thơ nổi bật, độ dày tới 368 trang, bao gồm thơ và nhiều bức ảnh chụp các bức tranh anh vẽ.

Và mới đây thôi, tập thơ thứ 2 của anh ra đời khiến bạn bè Văn nghệ bàn tán xôn xao. Với 109 bài thơ, Ngủ dưới chân em là bước dấn thân mạnh mẽ của Bảo Tấn với con chữ. Nếu như với “Thả trôi nổi buồn” là những cảm xúc ngồn ngộn đan xen, gồm nhiều đề tài, nhiều cách viết thì với Ngủ dưới chân em là sự chỉn chu, sự chắt lọc khá tinh tế. Nói nôm na, như thể khi ta nấu thức ăn, biết nêm nếm các dư vị sao cho vừa khẩu. Nếu so sánh thì cái chất khác người, sự nổi loạn, táo bạo trong thế giới chữ nghĩa từ tập thơ trước vẫn là sự trở lại để tạo nên một Bảo Tấn chẳng giống ai. Một Bảo Tấn đặc biệt trong tập thơ sau.

Đọc bài giới thiệu của nhà thơ Nguyễn Thánh Ngã trong mở đầu tập thơ, tôi tâm đắc nhất là ý niệm, thơ Bảo Tấn là “mùi hương đọng trên cỏ, theo gió đi vào cõi nhân gian”.

Ngủ dưới chân em, ngoài một số bài thơ về đề tài khác như “Mẹ gánh mùa Xuân”, “Mưa Thánh đường”, “Bà Rịa tháng năm”, “Chơ Ro”, “Hương đất”, “Có thể lắm”, chủ thể của tập thơ là những bài thơ tự sự về tình yêu. Những bài thơ với cảm xúc đắm đuối, say mê, sẵn sàng dâng hiến.

Sự tôn sùng Tình Yêu thành vị Thần đã thể hiện ngay từ tiêu đề và cũng là đề của bài thơ: Ngủ dưới chân em:

 “Đêm qua em về khu vườn tôi/ mùi hương đọng trên bông cỏ/ con sâu uống mật say/ sáng nay cuộn tròn nằm ngủ... Sáng nay tôi bung cánh cửa/ vén rèm/ hong ấm chiếu chăn/... xin ở cùng ngôi nhà tôi/ trên chiếc giường xinh trải hoa nguyệt quế/ cho tôi nâng niu gót hài/ ngủ dưới chân em.”

Tác giả luôn đặt chủ thể, một cái “tôi” rất riêng nhưng lại rất chung, rất đời. Anh đã coi Tình yêu là “Thiên thần”, và khi yêu thì vô cùng say đắm, “tôi yêu em/ yêu đến héo mòn”:

“Giai nhân ơi/ ta dại khờ rồi/ xin cho ta đắm/ giữa nụ cười tinh khôi... Tim ta sống lại rồi/ xin cho ta thở nhịp đời lứa đôi/ cho ta ngất giữa đất trời/ đến khi tỉnh lại đôi môi em kề...” (Giai nhân ơi. Tr 65)

Vì yêu nên anh có thể hy sinh cả cuộc đời để chờ đợi:

“Tôi ngồi đợi em/ hoàng hôn đã nhuộm cuống lá/ một chiếc vàng rơi theo gió xuống chiều... Tôi vẫn mãi đợi em, hết một ngày, một tuần, một mùa, một năm, nửa đời hay dài hơn nữa/ dẫu một lát bằng cả trăm năm.” (Mùa thu phỉnh lừa tôi. Tr 67)

Con người, thường khi đã yêu thì có thể bất chấp. Sự táo bạo trong ngôn ngữ đã tạo ra cho thơ Bảo Tấn nét riêng biệt, không lẫn vào đâu được. Có nhiều bài thơ có những câu rất gợi tình:

“Tôi bắt đầu chạm môi hôn/ nụ hoa có thể làm tươm máu cho tim tôi lần nữa/ nhưng tôi sẽ không còn sợ...”

“Cho tôi bầu vú ngọt ngào/ để tôi tìm lại nhiệm màu cuộc yêu..”

“Tôi buồn/ bẻ vụn trăm năm/ để tìm trong ấy một lần dấu yêu/... mảnh nào ráp lại tình say/ bờ môi rạo rực/ đôi tay khát tìm/ mảnh nào khắc cốt ghi tâm/ mảnh nào dang dỡ/ lỡ lần thức thao...” (Tôi buồn. Tr18)

“Em vóc xuống tim tôi ngụm nước/ suối nguồn tình ái đã hồi sinh/ tôi yêu như thể thời non dại/ cháy hết lòng cho những ngày xanh.” (Em gieo hạt thắm. Tr 73)

Có lẽ vì yêu đến thế, say đến thế, hy sinh và dâng hiến đến thế nên khi Tình yêu vỗ cánh bay đi, lại để lại cảm giác đau, buồn và thấm. Đó là  những bài thơ diễn tả cảm xúc mất mát, hụt hẫng:

 “Mùa thu rời đi/ có nhắn lại gì trên chiếc lá/ ... Mùa thu cũng như em/ đi một lần là biền biệt/ còn nhớ chi hẹn thề...” (Chong mắt. Tr 47)

Và lúc này, ngôn từ như được dịp trổ hoa trong thất vọng và đớn đau:

“Em như cây/ không chia nhựa sống cho tôi là lá/ đời như ngâu cho tôi xác lìa cành/ niềm đau cứ thốc vào tim tôi như gió/ tôi quắt queo/ tình vùi ngõ đêm sâu.” (Hàng nghìn thế kỷ. Tr 30)

“Tơ duyên sợi chỉ đã mòn/ cứ ngồi khâu mối tình son đã nhàu... Yêu một người đã xa rồi/ chỉ còn bóng dáng trong lời thơ đau” (Nghèo. Tr 49)

Cái ấn tượng của tôi với Ngủ dưới chân em không hẳn vì các bài thơ được chắt chiu, được nhân cách hóa Tình yêu với các ngôn từ mạnh mẽ, sâu sắc mà vì tôi nhận ra, sự say mê, đắm đuối của Bảo Tấn không hề đem tới sự bi lụy, buồn đau, mất phương hướng cho người đọc. Cái sự yêu đến điên cuồng, yêu hết mình không làm lu mờ cái ý chí vươn lên, sự khát khao cháy bỏng trong con người Bảo Tấn.

Anh nhận ra, thế giới Tình yêu, nếu tồn tại, nếu còn được với nhau thì như ngọn lửa, sẽ cháy bùng lên, mang lại sự hạnh phúc, hơi ấm nhưng nếu “Mùa rời đi, Nỗi buồn có “di căn” hay “Mùa thu” có “phỉnh lừa” đi nữa thì Tình yêu cũng đem đến sự ngọt ngào, yêu thương không tưởng. Theo như anh viết: “Vì những vết thương tình ái/ đều khắc dấu ngọt ngào/ trong nỗi đớn đau...”

Buồn nhưng không não, kiểu như “Đẹp và Buồn” ta thường nói:

“Tôi về úp mặt vào tôi khóc thầm/ nước mắt dẫu có đìa đầm/ nhưng khóc chỉ được vài lần rồi thôi...” (Giận. Tr 96)

“Ta ngồi chơi với nỗi buồn chút nữa/ để kể về em người muôn thuở người dưng.... Ta ngồi chơi với nỗi buồn/ rồi đi tìm kết bạn với niềm vui.” (Ta ngồi chơi với nỗi buồn. Tr 93)

 “Có hôm ngồi ngắm lá thu trên đồi/ mới hay đời cũng là đơn côi/ chiếc theo gió xoay xoay ngay trời/ chiếc theo nước xoáy trên dòng chơi vơi/... có khi ngồi nhớ tình xưa xưa rồi/ mới hay em đã nhập vào hồn tôi/ thì ra cay đắng trộn chung ngọt bùi...” (Kiếp này đơn côi. Tr 46)

Tôi còn ấn tượng bài thơ này bởi nó tựa như một bài hát. Cứ ngân lên, ngân lên làm say đắm lòng người.

Với Bảo Tấn, tình yêu luôn được chào đón, được trân trọng, được nâng niu nhưng nếu không đủ duyên, đủ chín thì khi nó rời đi, ngày vẫn đến, ánh sáng ấm áp sẽ giúp con người xua tan mọi buồn đau, giúp con người lấy lại thăng bằng:

 “Tôi đợi gì ở ban mai/ vừa mở cửa ra tiếng chim rơi trên bụi hồng/ thánh thót/ mặt trời xuyên tia nắng vào đêm/ ... ban mai/ gửi gắm cho tôi niềm hy vọng/ .../ tiếng chim bay trên những đóa hồng/ nắng lấp đầy ngõ tối.” (Mở cửa ban mai. Tr 132)

Khép lại bài thơ cuối của tập thơ Ngủ dưới chân em, có người cho rằng, thơ Bảo Tấn là sự cách tân mới mẻ, tuy nhiên về nghệ thuật, anh đặt chân và mới bắt đầu những thi ảnh mang tính nghệ thuật thơ hiện đại. Tôi đồng tình với ý kiến này và nói thêm: Những từ khơi gợi “Cách điệu” như “di căn” “Ngủ dưới chân em” “Trùng tu nỗi buồn” “Mở cửa ban mai” “Bàn tiệc đêm” “Kí ức cỏ” trong tập thơ vẫn còn dừng lại ở thi ảnh mà chưa thể chạm vào thứ nghệ thuật “tinh hoa” “siêu hình ảnh” như một số nhà thơ khác.  Phải chăng? Đó chỉ là bước khởi đầu trong sự tìm tòi, khai mở để rồi một ngày nào đó anh sẽ cho ra đời nhiều thi phẩm mang tính hiện đại hay hơn nữa.

Đọc hết “Ngủ dưới chân em”, tôi còn rất ấn tượng những bài thơ lục bát của anh với lối gieo khá “trôi” như bài “Hồ đông”, “Thôi em, tôi sợ” hay “Trăng là trăng rụng”... 

Một điều mà tôi còn muốn nói thêm về con người này. Bảo Tấn. Cái tên bút danh đảo ngược khiến ai gọi kiểu gì cũng được vừa là họa sĩ, là nhà thơ, và được biết, anh còn là người hoạt động xã hội thời gian hơn mười lăm năm trước. Những ngày tháng đã qua cho anh nhiều tư liệu về xã hội, con người, tình yêu... Anh không thể tải hết những cảm nhận bằng thơ hay tranh vẽ, nhiều khi anh dấn thân vào thể loại văn xuôi, truyện ngắn. Anh cho ra đời nhiều bài viết ngắn dưới dạng tạp bút, truyện ngắn ngắn. Dù chưa có tiếng vang nhưng cũng là một dấu mốc để mọi người nhìn nhận cái tài năng tiềm ẩn đầy tính nghệ thuật trong con người anh.

Hy vọng những năm tới, ngoài những bức tranh vẽ, anh sẽ cho ra nhiều tác phẩm thơ, truyện ngắn, tạp văn hay và giá trị hơn nữa.

Vũng Tàu 19-6-2024

C.H.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm