TIN TỨC

“Bến nước kinh Cùng” - Bến đợi của ký ức và tình người…

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-10-30 02:51:36
mail facebook google pos stwis
243 lượt xem

TRẦN MỸ DUYÊN

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn)  -“Giữa bao vội vã, còn mấy ai lắng lòng với những phận người quê mộc mạc?” - Chính từ trăn trở ấy, “Bến nước kinh Cùng” của nhà văn Nguyễn Lập Em được tìm đến như một lời nhắc nhở tha thiết, đưa ta trở về với đất và người Nam Bộ, nơi tình quê và tình người thấm đẫm trong từng trang viết.

 

Tập truyện ngắn Bến nước Kinh Cùng

Sinh ra và lớn lên giữa miền sông nước An Giang, nhà văn Nguyễn Lập Em được biết đến là ngòi bút quen thuộc của văn học Nam Bộ, mang trong mình một tình cảm gắn bó sâu nặng với quê hương. Chính tình cảm ấy đã nuôi dưỡng tâm hồn và khơi dậy mạch nguồn sáng tạo của nhà văn qua những tập thơ, truyện và tiểu thuyết, để lại dấu ấn sâu sắc trong đời sống văn xuôi hiện đại An Giang. Những tác phẩm tiêu biểu của tác giả có thể kể đến như: “Ở lại Đồi Tức Dụp”, “Điều em chưa nói”, “Thấp thoáng cánh cò”… và đặc biệt là tập truyện ngắn “Bến nước kinh Cùng” được xuất bản vào mùa đông năm 2002. Ở đó, cô đã đưa nhịp thở hồn quê đến gần hơn với bạn đọc của mình bằng cách tái hiện chân thực một bức tranh sống động về một miền đất nặng phù sa, nơi những phận người mộc mạc hiện lên đầy chan hòa và tình nghĩa.

Ngay từ nhan đề, tác phẩm đã gợi ra không gian nghệ thuật đặc trưng của Nam Bộ: bến nước, dòng kinh, bãi sông, con đò, cánh đồng hay xuồng ghe… Cả tập truyện bao gồm tám truyện ngắn: Bến nước kinh Cùng, Bãi sông xanh, Xóm mồ côi, Lời của dòng sông, Xa lắc Cồn Te, Mùa vông chín, Đi một ngày đàng, Sông Hậu xuôi về. Đó như một dòng chảy cảm xúc, vừa khắc họa cảnh sắc quen thuộc, vừa làm nền cho những câu chuyện xúc động về tình người Nam Bộ.

Mỗi truyện trong sách như một lát cắt của đời sống dưới cái nhìn chan chứa yêu thương về cuộc đời của người viết. Từ những ngôn từ giản dị, thân thương, tác giả khẽ mở ra những cảnh nhà, phận người, để người đọc bắt gặp sự chất phác, hiền hậu của con người ở mảnh đất hiền hòa. Và điều đặc biệt, khi khép lại mỗi câu chuyện, tác giả đều mang đến một cái kết đầy dư âm, vang vọng và đôi khi lắng lại thành một khoảng trầm êm đềm dội ngược vào trong. Có lẽ, đó là khi bạn đọc sẽ thả hồn theo những rung động sâu kín của chính mình…

 

Tác giả Trần Mỹ Duyên

 

Trong tám truyện, mỗi truyện đều gợi cho tôi một cảm xúc thân quen đến lạ, nhưng có lẽ “Xa lắc Cồn Te” đã thật sự chạm đến lòng tôi. Ấn tượng nhất là giọng văn Nam Bộ mộc mạc, gần gũi mà nhà văn Nguyễn Lập Em đã dùng để khắc họa phận đời con người nơi bãi bồi giữa dòng Hậu Giang.

Cồn Te là một bãi bồi do phù sa sông Hậu sinh ra, như chiếc đĩa úp giữa lòng sông, nơi bao phận người mưu sinh bám trụ. Và ở đó, có câu chuyện về thầy Bá Tri, người thầy đã gắn bó với Cồn Te hơn hai mươi năm, từ khi còn là tập viên. Thầy như chứng nhân của mọi đổi thay trên bãi đất nhỏ. Nhưng vì cuộc sống mưu sinh, tiền lương kiếm được từ nghề dạy trên bãi đất nghèo thật sự ít ỏi. Vì thế, đã có một khoảng thời gian thầy rời bục giảng, chọn rời xa Cồn Te làm kế toán, để rồi nhận ra "Đó không còn là mình". Thầy đang đánh mất chính mình giữa những thủ đoạn bon chen. Để từ đó bằng sự kiên trì với nghề giáo, thầy quyết lòng trở lại cồn đất nhỏ giữa cuộc đời nhiều thử thách. Về lại bãi bồi với “tiếng gọi “thầy ơi” xoáy sâu vào trái tim thầy Bá Tri. Ông biết, ông trở về đây là đúng, dù có muộn màng." Thế nhưng, quy luật phù sa bồi lở vốn khắc nghiệt: cồn vẫn lỡ, người vẫn rời. Thầy cũng phải rời đi, như vị thuyền trưởng cuối cùng rời khỏi con tàu bị đắm mang theo tất cả day dứt và thương nhớ.

Và tại sao tôi lại chọn kể về “Xa lắc Cồn Te”? Bởi lẽ, tôi thấy được đâu đó là bóng dáng của mình trong nhân vật thầy Bá Tri. Thầy từng rẽ sang nghề kế toán để tìm ổn định vì cuộc sống mưu sinh, nhưng sớm nhận ra, đó không phải là mình. Chỉ khi trở lại bục giảng, thì hạnh phúc mới một lần nữa mỉm cười. Và tôi cũng từng như thế, từng chông chênh khi chọn học nghề giáo, từng cố gắng ép bản thân chọn con đường có vẻ sẽ “nhàn" hơn. Nhưng rồi, như thầy, tôi nhận ra rằng chỉ khi sống đúng với ước mơ, ta mới có thể thật sự muốn cố gắng và tiếp tục. Từ đó, tôi càng vững lòng hơn với quyết định của chính mình: Chỉ có kiên gan và bền chí theo đuổi ước mơ, ta mới tìm thấy được ánh sáng để tiếp tục bước đi.

Điểm sáng của truyện còn là sự am hiểu tường tận về quy luật của thiên nhiên sông nước và vận dụng điều đó để đưa vào tác phẩm của nữ nhà văn. Phù sa bồi đắp để hình thành những bãi đất trù phú, nhưng cũng có lúc đất lại lở đi, như lời người xưa: “Đất bãi, trăm năm bồi, trăm năm sau sẽ lở.” Từ đó, tác giả không chỉ ghi nhận quy luật của đất trời mà còn đối chiếu với quy luật của đời người. Bồi và lở là tất yếu, nhưng con người sao tránh khỏi sự  luyến lưu và nhớ thương? Một bãi bồi, nhiều năm về trước có lẽ chỉ là miền đất lạ. Thế nhưng, hai mươi năm sau, nơi ấy lại hóa thành chốn để về của một lữ khách từng ngang qua. Và khi rời đi, kỷ niệm vẫn neo lại, vương mãi như sóng nước chẳng nguôi…

Nói như Chế Lan Viên:

“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở

Khi ta đi đất đã hoá tâm hồn.”

Và rồi, tôi tự hỏi: Điều gì có thể níu giữ một người ở lại?

Không phải chỉ vì miếng cơm manh áo, cũng chẳng phải là vùng đất bồi lở vô thường, mà chính ở tình người Nam Bộ, là những sợi dây vô hình của ký ức và tình cảm. Như thầy Bá Tri gắn bó với Cồn Te hơn hai mươi năm, thứ giữ chân người thầy không chỉ là mái trường nghèo hay những con chữ, mà còn là sự gắn bó chân thành giữa người với người. Là tiếng gọi “thầy ơi” thật hồn nhiên của đám học trò nơi bãi bồi. Đất có thể lở, cồn có thể mất, nhưng tình thương và ký ức đã hóa thành tâm hồn, thành vĩnh cửu trong trái tim mỗi người.

Khép lại truyện ngắn “Xa lắc Cồn Te”, ta như còn nghe những dư âm vang vọng giữa bãi bồi, để rồi chợt nhận ra những phận người giản dị nơi miền sông nước chưa bao giờ rời khỏi tâm tưởng. Và cũng chính từ đó, ta lần giở lại từng trang của "Bến nước kinh Cùng" nơi dòng kinh, bến nước và những kiếp người tình nghĩa hiện lên.

Hãy một lần tìm đến và cảm nhận nhịp sống của phận người mộc mạc nơi đây, để thấy quê hương Nam Bộ không chỉ là miền đất bồi lở, mà còn là bến đợi của ký ức và tình người./.
 

(*) “Bến nước kinh Cùng” của nhà văn Nguyễn Lập Em đã đoạt giải B của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam năm 2003 và được Hội Nhà văn Việt Nam, Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn trao giải A đồng hạng- “Tác phẩm xuất sắc trong 30 năm” (1980 – 2010). Riêng truyện ngắn “Bến nước kinh Cùng” đoạt Giải Ba - Cuộc thi Truyện ngắn Đồng bằng sông Cửu Long năm 2002 và soạn giả Đặng Minh chuyển thể kịch bản Cải lương đoạt giải Nhì - Cuộc thi Kịch bản sân khấu toàn quốc, đạo diễn Trần Mỹ Hạnh dàn dựng tham gia Liên hoan “Hương Sắc Cửu Long” các tỉnh khu vực ĐBSCL đoạt Huy chương Bạc toàn đoàn và nhiều Huy chương Vàng, Bạc dành cho diễn viên năm 2020.
 

T.M.D

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”
Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.
Xem thêm
Chiến tranh và chiến tranh - Tiếng kêu thương thảm khốc!
László Krasznahorkai sinh năm 1954 tại Gyula, Hungary, học Luật, có bằng Ngôn ngữ Hung và Sư phạm. Nhà văn tự do từ năm 1982. Tiểu thuyết: Sátántangó (Sasantango, 1985), Az ellenállás melankóliája (The Melancholy ơf Resistance, 1989), Az urgai fology (The Prisoner ơf Urga, 1993), Háború és háború (War and War), 1999), Északról hegy, Délróltó, Nyugatról utak, Keletról folyó (From the North by Hill, From the South by Lek, From the West by Roads, From the East by River, 2003), Rombolás és bánat az Égalatt (Destruction and Sorrow beneath the Heavens, 2004), Seiobo járt odalent (Seiobo There Below, 2008), Báró Wenkheim hazatér (The Homecoming ơf Baron Wenkheim, 2016)…
Xem thêm
Cảm nhận về tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của tác giả Trương Văn Dân
Nhận được Bàn tay nhỏ dưới mưa tác giả gởi tặng cũng hơn nửa tháng rồi, tính nhâm nhi đọc nhưng cứ lần lữa mãi. Nay có thời gian thảnh thơi tôi mới có dịp thưởng thức tác phẩm của anh.
Xem thêm
Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương
Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức
Bài viết của nhà thơ Ngô Minh Oanh về tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong
Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc,
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm