TIN TỨC

Cảm nhận tác phẩm “Mật ngữ đen trắng”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-10-07 18:07:23
mail facebook google pos stwis
1276 lượt xem

HUỲNH TẤN BẢO

                        Cọng lá sen đứng thẳng!

                                       Nguyên Bình

Tôi có duyên được quen biết, gần gủi với nhà thơ Nguyên Bình, một già một trẻ vẫn thường chia sẻ với nhau những vấn đề trong lĩnh vực văn học. Qua đó, tôi hiểu ông là người tận tụy với văn chương, quý mến anh chị em văn nghệ, có kiến thức sâu rộng, tâm hồn thanh cao và khát khao sáng tạo nghệ thuật.

Hầu như những bài viết trên trang xã hội hay những tập thơ ông xuất bản tôi đều đọc rồi từ đó, được tiếp cận những bài thơ hay và tràn đầy cảm xúc của tác giả.

Hẳn bạn bè biết nhà thơ Nguyên Bình qua những vần thơ mượt mà, thoát thai từ huyễn mộng nguy nga, có lúc kiêu sa lộng lẫy, đôi khi mềm mại như gió mát, trăng ngàn. Bên cạnh đó, trong ông còn ẩn tàng một thế giới ngôn ngữ thơ mê hoặc, tinh túy, thâm sâu.
 

Tập thơ mới nhất của ông "Mật Ngữ Trắng Đen" (NXB Thuận Hóa, 2025) (MNTĐ) lôi cuốn tôi từ bài này sang bài khác. Hình như đây là môt thế giới riêng của ngôn ngữ thơ ca, qua phong cách thơ rất khác với giọng thơ đã thành chất riêng của Nguyên Bình qua sáu tập thơ xuất bản trước đây. Có thể nói, MNTĐ chứa đựng nhiều vấn đề triết lý, man hơi thở đương đại, là một mảnh ghép đặc biệt trong bảy mảnh ghép làm nên vóc dáng thi sỹ Nguyên Bình.

"Mật Ngữ Trắng Đen" phải chăng là cõi nội tâm chất chứa nỗi niềm sâu kín nhất của tâm hồn ông trong thế giới thực tại, được phơi sáng bằng một trường ngôn ngữ với câu trúc mới lạ, thể hiện tư duy, suy tưởng vươn tới một tầm vóc mới:

"Tôi lẩm bẩm

"Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi"

không có ai nghe nốt nhạc rụng trên vỉa hè

nắng cũng nhấp nhô bật khóc

Ra về. Gởi xác thân ở lại

Tôi bây giờ ngắm tôi

qua bàn phím

gõ những lằn roi

quất vào trái tim"

(Hạt Bụi)

Cuộc sống như mũi tên lao đi, mấy ai còn thời gian dừng lại lắng nghe những chuyển động lặng lẽ quanh mình. Hình ảnh "nốt nhạc rụng trên vỉa hè, nắng nhấp nhô bật khóc" là một hình ảnh mới mẽ, tạo một cảm giác chơi vơi nao lòng. Con người bị cuốn xoáy trong dòng chày khắc nghiệt đó, ít khi soi gương nhìn lại để thấy rằng: đôi khi mình đã tự làm mình bị tổn thương? Mọi người đều biết, tiếng lòng nhiều khi không thể giải bày với ai. Nhưng với thơ, dòng chảy cảm thức trong huyết quản vẫn dễ dàng tuôn trào khi cảm xúc dâng đến tột cùng:

"Róc rách chảy vào đêm

mấy giọt thơ đắng bùa mê

chiếc lá trầm cảm

vô tình hớp ngụm sương khuya.

…

Vòm khuya thiên di

ánh sáng xanh

em lại về áo lụa

hai mươi năm rồi

mắc áo lên men"

(Thì thầm)

Lắm lúc người ta lạc mất mình trong đời sống xô bồ, vùi mình trong thú vui mòn mỏi, đắm chìm trong hoan lạc. Để rồi khoảng thời gian son trẻ ấy rũ buồn như "mắc áo lên men".

Ông là một thi sỹ trong thời đại đầy biến động, nơi mà nhân cách con người dễ dàng bị tha hóa bởi những cám dỗ và ông đã lên tiếng:

" Loài người

niềm kiêu hãnh của loài thú

đi giật lùi

gian lận

thế giới bật gốc

văn minh ngã đổ

đông sang tây - tây sang đông

bão hòa

sống vu vơ

đứt mạch văn hóa

cứu rỗi

thước đo gãy chuẩn

cháy khét tâm hồn trơ trọi

và tôi cô đơn"

(Cô đơn)

Tôi nhớ nhà thơ Phan Hoàng cũng từng viết rằng: "Thành phố bây giờ vùn vụt những làn tên/ai biết được mũi tên nào không độc/em đừng hỏi đâu là thiên đường hạnh phúc/lỡ một ngày ta không nhân ra nhau" (Thành Phố Bây Giờ)

Cuộc sống nghiệt ngã và gian trá đến nỗi người ta hoài nghi luôn chính bản thân mình. Dẫu vậy, với tâm trạng "và tôi cô đơn" ông cũng đã khẳng định rằng: ông không để mình bị cuốn trong vòng xoáy đó, dù đã thấy rõ bộ mặt thứ hai của cuộc sống này là người ta đang đóng kịch với nhau:

"xung quanh là bóng đêm giấc mơ

đôi hài đỏ

đèn chiếu

diễn viên sân khấu kịch

những gương mặt hóa trang"

(Dừng chân)

Nhưng ông không trách mình, không trách tha nhân, chỉ mong sao mọi người sớm dừng chân bên bờ vực chênh chao để cho bản ngã tự thân nhận diện chỗ đứng, sự tồn tại của con người trong thế giới này:

"chẳng ai đánh mất mình

sau lưng là trăng

trước mắt là mặt trời

màu sữa non

ánh chớp lóa

tâm thức trắng

ký ức đen

bản ngã loay hoay nhận diện"

(Dừng chân)

Trong thế giới loài người đầy rẫy những tranh giành khốc liệt, có những cá nhân bỗng chốc hóa thành quỷ dữ, họ phát động chiến tranh, đẩy người dân vô tội vào chia ly tang tóc, ông đã phải cảnh tỉnh:

"Ta mở trang loài người

sử thi chiến binh dũng cảm

thần thánh tàn sát nhau chiếm hữu nỗi buồn

thế kỷ hai mươi

độc tài tự do lẫn lộn

Ai? làm gì? tại sao?

thây ma cõng linh hồn trên cánh đồng tội ác.

 

Sao các ngài không thấy nỗi buồn

đem sinh linh làm công cụ

ai đẻ ra các người thành những quái thai

nhai thịt người như nhai viên kẹo

Ta không hiểu nổi

Vì sao"

(Hỏi)

Tôi chưa bao giờ thấy thơ ông đanh thép đến vậy. Phải chăng đây là "mật ngữ", lời nói sâu kín nhất tự đáy lòng của người thi sỹ, bày tỏ chính kiến trước thời đại.

Hành tinh nơi ông ở, nơi cái đẹp mỗi ngày bị héo mòn, con người tự tay hủy hoại nó trong sự vô cảm và tham vọng, ông lên tiếng thể hiện niếm khao khát chân lý tự do, thanh bình:

"Mình song hành cùng tối tăm

tìm đâu ánh sáng khi bình minh chưa đến

một nửa hành tinh câm nín

một nửa loài người sốt giấc mơ tự do

ai sẽ quẹt que diêm lên đế giày định mệnh"

(An ủi)

Nhưng tác giả vẫn còn niềm tin và ước mong hành tinh xanh luôn lãng mạn và ngọt ngào thương yêu:

"Dẫu sao vẫn còn vần thơ

chưa cháy hết tận cùng tội lỗi

ta dành khổ cuối

viết ru em đôi lời hương mật

vỗ về tinh khôi"...

(An ủi)

"Mật ngữ trắng đen" thế giới chỉ hai mặt, phải và trái, thiện và ác, thì đời sống tâm linh là nơi linh hồn con người trú ngụ, là nơi quay về với bản chất thiện lương:

"Cổ xe tứ mã chạy vòng qua phố

người xà ích quên đường ra nghĩa địa nhiệm mầu

mấy con ngựa già cũng đang khóc

sợ cùng đường mai sau

 

Ta như kẻ lang thang trên cực địa cầu

không ngày không đêm không phương hướng

thương ngày vui qua mau.

 

Khép lại trái tim đi em

Zeus đã phán truyền

kẻ phạm phải đền thiêng

tình yêu hóa thành tro bụi

Ta khóc em

nước mắt hờn tủi

bao giờ mới khô"

(Cầu nguyện)

Và đức tin là ngôi đền thiêng mầu nhiệm đưa con người về lại trạng thái cân bằng, an nhiên:

"Tâm hồn thêu thùa giấc mơ

tĩnh tọa trên chiếc lá sen

chiếc lá sen xanh

cọng lá sen đứng thẳng

bông sen trắng in bảy bước đi"

(Tắm mát)

Đời người là một chuỗi gian khổ. Nhưng nếu có niềm tin vào cuộc sống, luôn đi về phía mặt trời thì con người vẫn còn có hi vọng ở tương lai. Niềm tin ấy bắt đầu từ tình yêu chân thật, vị tha và kiên định:

"Nếu hôm nay phiền muộn

em hãy chạy ra cánh đồng

lang thang bên những mầm xanh vừa nhú

hát tình ca cùng gió

gối đầu trên cỏ vu vơ.

…

Em

bắt đầu ngày mới

là mở rộng trái tim yêu thương

cánh cửa duy nhất

của cuộc đời này"

(Mở cửa đi em)

Nhà thơ Nguyên Bình đã sống, đã yêu hết mình, trân trọng giá trị thăng trầm trong cuộc sống này, nên ông đã thông suốt thấu đáo lẽ đời. Bài thơ Xanh, theo tôi là một trong những dự ngôn mang tính triết lý nhân sinh sâu sắc. Ông viết những câu thơ có thể gọi là tuyệt bút cả về tư tưởng và diễn ngôn:

"Tôi học chiếc lá

xanh cho đến lúc cần vàng...

lúc đó

tôi làm chiếc lá

không biết mình xanh"

(Xanh)

Hầu như, 100 bài thơ trong tập "Mật Ngữ Trắng Đen" nhà thơ Nguyên Bình viết  tự do, phóng khoáng, nhiều bài mang dấu ấn hậu hiện đại. Sự diễn đạt ngôn ngữ tinh tế và phản ánh những vấn đề lớn của thời đại. Chất liệu và diễn ngôn trong tập thơ dễ dàng tạo nên hiệu ứng kích thích người đọc theo hướng tư duy, suy tưởng và cảm thụ theo chiều sâu. Tôi mạn phép trích dẫn một số câu thơ mà tôi tâm đắc:

" Những ngón tay thời gian

mở cửa mùa hạ

bằng vài cọng sen non nhu nhú trên mặt hồ

đánh thức mùi hương còn sót lại

trong khứu giác tình yêu"

(Đánh rơi)

 

"vắt kiệt ánh sáng

linh hồn theo chân bóng đêm

dạo chơi không chạm mặt người

Mật ngữ trắng đen "

(Còn lại)

 

"Tôi cùng nàng chắp đôi cánh diệu kỳ

rũ bỏ cả hạt sương ban mai của thế giới này

đến nơi nào đó rất xa lạ

tôi đi và tôi sẽ về

kể cho bạn nghe

cảm xúc"

(Cảm xúc)

 

"Người đàn ông bảy mươi hai tuổi

nhìn mùa thu sáng nay đi ngang qua mái hiên

nhặt làn khói mỏng rơi trên đôi dép cũ

ứa giọt nước mắt buồn"...

(Có lẽ là mùa Thu)

 

"Tình yêu vuông, tròn, phập phòng sự sống, thở hơi thở trong lành bên ngoài từ vựng

trách móc chưa bao giờ là tiếng nói trong lồng ngực, sục sôi là cách xoa dịu trái tim."

(Thiện căn)

 

"tư tưởng chìa ra trên đầu bút lông

lý giải nụ cười, nước mắt

Triết học ánh sáng

mọc đôi cánh trên dòng lệ

Anh

thổi tắt ngọn nến của mình

Em có biết

để làm gì không?"

(Thổi tắt ngọn nến)

 

"thời gian chảy ngược

khái niệm vô nhân lên ngôi

văn minh gầy nhom

ngôn từ đứt mạch trong tâm thức

nhân văn chuyển dạ

thơ sinh non"...

(Sinh non)

Nhà thơ Nguyên Bình tuy đã ở tuổi "thất thập cổ lai hi" mà theo tôi thơ ông lại "trẻ" đến vậy. Trẻ từ hình thức thể hiện độc đáo, hàm xúc và trẻ từ tứ thơ bộc phát thăng hoa với cảm thức tinh tế. Chất liệu đương đại của ngôn ngữ thơ, dòng ý thức đến rồi đi tưởng chừng như rời rạc nhưng nó phản ánh đúng mối tương quan trong thế giới mà ông đang sống. Vâng! Thơ trẻ không chỉ là tự do bày tỏ cảm xúc không cần phụ thuộc đến thể luật nào, mà còn phải thể hiện được chính kiến của tác giả trong thời đại họ đang sống. Nếu không, sự hiện đại trong hình thức chỉ là trò phô diễn. Tôi thiết nghĩ, tác giả đã có chủ ý khi chọn phong cách viết này khi xây dựng tập thơ, chỉ như vây thì mới bộc bạch hết nỗi niềm và gởi gắm đến người đọc những thông điệp sâu kín nhất trong lòng.

"Mật Ngữ Trắng Đen" mở ra một góc nhìn trong chiều sâu của tâm thức tôi, rằng: người thi sỹ không chỉ mơ mộng cùng trăng gió, thở than trong oan trái tình trường mà còn thắp một ngọn đuốc mở đường khi đêm tối vây quanh.

Ngãi Giao, ngày 3/10/2025

H.T.B

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm