TIN TỨC

Cảm nhận tập thơ Chiều không để làm thơ của Lê Nhật Ánh

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-06-05 01:09:48
mail facebook google pos stwis
3566 lượt xem

Nếu nói rằng trời sinh Lê Nhật Ánh ra là chỉ để làm nhiếp ảnh và làm báo thôi thì chưa đủ. Anh viết báo và chộp ảnh đâu ra đó thật. Đó là những bài báo đi kèm với những bức ảnh sống động, nắm bắt những “khoảnh khắc Vàng” xảy ra trên quê hương đang bị xói mòn bởi những bàn tay đen đúa, với khát vọng gìn giữ màu xanh cho đất nước mến yêu. Chuyện của núi là một tập thơ ảnh đậm chất nhân văn, là bản cáo trạng dành cho các thế lực, nhóm lợi ích cường quyền đang từng ngày bòn rút và tàn phá tài nguyên đất mẹ.

Ngoài nhiếp ảnh, Lê Nhật Ánh còn là một nhà thơ, một nhà thơ thực thụ với sự ra đời tác phẩm thứ ba Chiều không để làm thơ  mà tôi hân hạnh được anh gởi tặng rất sớm.

 

Danh họa Leone de Vinci nói:  “Hội họa là thi ca được ngắm thay vì được cảm nhận, và thi ca là hội họa được cảm nhận thay vì được ngắm.” (Painting is poetry that is seen rather than felt, and poetry is painting that is felt rather than seen.). Nếu thay vì hội họa là nhiếp ảnh, Lê Nhật Ánh có trong tay cả hai lĩnh vực nghệ thuật này. Khi anh giương máy, nheo mắt, điều chỉnh khẩu độ, chọn góc sáng và lấy điểm vàng rồi bấm máy cũng là lúc hồn thơ anh bắt gặp cảm xúc. Tương tự như thế, chắc hẳn khi Lê Nhật Ánh làm thơ là lúc những hình ảnh mà anh hằng ngày đưa vào tầm ngắm tạo cho anh niềm vui sáng tạo dạt dào.

 

Nhưng, nói gì thì nói, giá trị của một nghệ sĩ là ở tác phẩm mà họ dày công sáng tạo. Và công chúng là người phán xét công bằng nhất. Tôi là một công chúng lạc quan, tôi đọc và cảm nhận Chiều không để làm thơ  dưới góc độ một người yêu thơ với cái đẹp muôn đời của loại hình nghệ thuật này.

 

Hình thức của tập thơ  Chiều không để làm thơ không thể chê vào đâu được. Bìa trước sang trọng và ấn tượng không thua kém bất kỳ một cuốn sách của một nhà xuất bản nước ngoài danh tiếng nào ấn hành. Với hơn 250 trang, thiết kế công phu tỉ mỉ, nhiều phụ bản in màu, tính minh họa cao, gắn bó chặc chẻ với nội dung, cho thấy tác giả đầu tư nhiều công sức và tâm ý vào tác phẩm.

 

Khi bạn cầm trong tay Chiều không để làm thơ, bạn sẽ cảm nhận được sức viết của Lê Nhật Ánh sung mãn như thế nào. Anh viết đủ các thể loại, thơ 5 chữ, lục bát, 7, 8 chữ và cả thơ xuôi, văn xuôi nữa. Thể thơ 6 chữ dạt dào vần điệu chừng như là thế mạnh của anh, chiếm tỉ trọng cao trong tác  phẩm. Lê Nhật Ánh vận dụng vốn sống ngồn ngộn của anh trong quá trình tác nghiệp ảnh để làm thơ, vì thế, thơ anh luôn tươi mới, không trùng lặp, mỗi bài thơ có một đề tài, mang một sắc thái riêng biệt. Ngôn ngữ thơ bình dân, không hoa mỹ, tạo ra một giọng thơ tự nhiên, thân thiện, gắn liền với đời sống  dân tộc, đặc biệt các dân tộc miền núi bắc Tây Nguyên. Và một góc quê nhà của Tổ tiên ông bà miền Tiên Phước - Quảng Nam, nơi đã chiếm lĩnh gần trọn vẹn tâm hồn anh với một tình yêu sâu nặng.

 

  •  Một góc nhìn đặc sắc về đất nước ngàn năm.

 

Mảng viết cho quê hương là một thế mạnh của Lê Nhật Ánh. Ta luôn bắt gặp trong  Chiều không để làm thơ những phát hiện tinh tế khi nhà thơ thực hiện những chuyến trải nghiệm dọc theo chiều dài đất nước. Đi tới đâu, gặp cảnh hoang tàn lở lói trên quê hương, Lê Nhật Ánh quan sát, chụp ảnh và suy tư, lòng anh như quặn thắt lại, rồi từ trong tâm khảm bật ra tiếng kêu thảng thốt của một công dân có trách nhiệm nhìn nước non mình nham nhở vết cày xới tàn phá của những bàn tay vô cảm, lạnh lùng:

Chiều không để làm thơ.

Tôi chúm tay gọi:

Rừng ơi! Núi ơi! Quê hương ơi!...

Nghe sao mà buồn quá!

Những ruộng keo lai ăn mất cánh đồng.

Núi đồi trơ trọi, quanh co những cung đường xói lở.

 

Anh gần gủi với thiên nhiên tươi đẹp và thấu cảm với những mất mát khổ đau của đồng bào, với cả muôn thú giữa rừng xanh đang dần mất đất sống, ngơ ngác lạc loài giữa “mùa li hương”:

Mai anh về phía núi

Hiu hắt những ngàn xưa

Hươu nai không tác nữa

Đi giữa mùa li hương

 

Những địa danh truyền thống của đất nước qua đôi mắt quan sát sắc sảo của một nhiếp ảnh gia giúp anh phát hiện nhiều góc độ sáng tối của sự thật, sự mất còn của danh thắng đang dần bị đánh cắp và biến đổi. Trong một chuyến hành hương về với đất Thăng Long ngàn năm văn vật, Lê Nhật Ánh có một góc cảm thụ hoàn toàn mới mẻ, vượt qua cái rung động xưa cũ mang tính cảm hoài của nhiều ngòi bút đã từng viết về Hà Nội:

Đêm phương Bắc nằm nghe đời vội

Biết tìm đâu thương nhớ ngàn năm

Câu hát xẩm bên đền Quán Thánh

Nước non xưa đi mãi không về.

 

Trong một lần tìm về thăm nhà người thân ở Phan Rang, nhà thơ không bàng quan “đứng nhìn mà làm thơ” về vùng quê chan hòa nắng gió ấy. Anh dấn thân, vào cuộc, gieo sức sống vào thi ảnh sinh động với các cụm từ “leo xe”, “mùa mênh mang nắng”, “Hồn Chăm hút gió lên non”, khiến hình ảnh miền đất mênh mông cỏ cây lơ thơ gió cát như được phả vào hơi thở nóng hổi, hồn đất trỗi dậy lăn theo từng vòng xe “thổ mộ qua làng”:

Ngày ấy tìm về Lương Cách

Leo xe thổ mộ qua làng

Phan Rang mùa mênh mang nắng

Hồn Chăm hút gió lên non.

 

Có một nhà phê bình nói, không có thực tiễn thì không thể có những bài thơ hay. Ta lắng nghe Lê Nhật Ánh ghi lại cảm xúc cái giây phút anh “chạm” với mây trời thân quen Bà Rịa, nơi anh đang sống. Tôi cứ ngỡ đây là một bức ảnh độc đáo mà người nghệ sĩ chụp - được - chất - thơ của không gian thân thuộc chứ không phải là lời thơ tình tự. Phải chăng đó là sự hòa trộn diệu kì của thi tâm và thi ảnh trong tâm cảm nhà thơ. Hai động từ “đợi én” và “mây lên” sau hai địa danh thể hiện một cú pháp mới mẻ, gây cảm giác xao lòng, đó cũng là khoảnh khắc đắt giá của một ngưòi ngày đêm vác máy đi săn ảnh trên khắp mọi nẻo đường:

Em bảo còn thương người cũ

Mai về Bà Rịa tìm quên

Ngã ba Long Toàn đợi én

Bên chiều Chợ Bến mây lên

 

Dĩ nhiên, hơn đâu hết, vùng đất Tây Nguyên nơi anh sinh ra và lớn lên chiếm lĩnh trọn vẹn tâm hồn anh với tình yêu bao la sâu đậm. Những địa danh của “Hoàng triều cương thổ” chi chít trong thơ anh, từ chim muông, động vật bản địa đặc hữu, rừng cây, hồ nước, bản Thượng với những  già làng, cô thôn nữ, em bé ẩn hiện trong tình cảm thân thương gần gủi, tạo ra một bức tranh lớn sinh động đầy đủ sắc màu. Theo tôi, đây là ưu điểm nổi bật trong thơ Lê Nhật Ánh.

Mai về Tiên Phước hỉ

Đứng ngóng sông đầu nguồn

Tài Thành mưa ướt núi…

Quê cũ chùng trong sương.

 

Mỗi địa danh của vùng đất nơi anh sinh ra và lớn lên không chỉ là cái tên, mà là máu thịt và hơi thở nóng hổi đầy cá tính vùng miền được anh phả vào hình tượng thơ, vì chính anh hiểu rõ và yêu thương nơi đây như yêu bàn tay mình:

Nóc nhà có hình gà trống

Cặp sừng trâu giữa bậc thềm

Hổ báo vờn quanh vách gỗ

Bếp chiều thở khói tranh tre.

 

Ngoài ra, kiến văn vùng miền của tác giả rất rộng, đủ để trải thành tấm thảm xanh đón đưa chân khách thơ nối gót cùng anh. Theo chân thơ Lê Nhật Ánh, ta có cả một hành trình tìm về với nhiều địa phương khắp trong cả nước. Những bài viết về các địa danh giống như một thiên ký sự dài hơi, tôi không thể nào ghi lại hết những tên sông tên núi tên làng, nhưng dấy lên trong tôi nỗi khao khát thực hiện một chuyến đi trải nghiệm cùng nhà thơ. Phải chăng sự thu hút này là một phần ghi dấu ấn thành công trong thi tập  Chiều không để làm thơ.

 

  •  Một tình yêu tràn đầy sắc hương.

 

Tôi chọn 4 câu lục bát và mời các bạn cùng tôi lắng nghe Lê Nhật Ánh trải lòng với “mùa yêu”,  đó là mùa thương mùa nhớ, cái mùa đẹp nhất của đời người với bao nỗi bâng khuâng mà anh chắc lọc trong suốt cả cuôc đời mình, ấp ủ nó cho từng ngày cây tâm hồn hé nụ hoa thơ:

Trong tim còn mỗi mùa yêu

Trong ta còn mỗi bóng chiều thiết tha

Mùa yêu em giấu hôm qua

Ngày thương nhớ cứ sa đà trăm năm.

 

Trái tim nhà thơ vẫn không ngừng thổn thức với rất nhiều bài thơ tiếp nối nhau trải dài trong không gian thơ Chiều không để làm thơ. Tình yêu, một cái gì đó khó định hình định lượng, nhưng tình yêu lãng đãng chế ngự tâm hồn ta, xao xuyến vấn vương như mùa thu lá vàng, mùa đông khói bếp, như ban mai xanh, như “bóng chiều thiết tha” mây trắng. Dẫu em có giấu cất vào đâu thì trái tim ta vẫn “sa đà trăm năm” khát khao hò hẹn.

 

Thơ tình Lê Nhật Ánh không là lời tình tự giao duyên của đôi lứa, anh viết cho cảm xúc dâng trào khi nghĩ về tình yêu. Trong Chiều không để làm thơ vắng bóng những bài thơ sầu muộn sướt mướt của những cuộc tình xa thường tình. Với bản lĩnh của một con người năng đông xông xáo, ta cảm giác Lê Nhật Ánh nuốt lệ vào trong, chịu nhận những vết cứa đau đớn của cuộc đời ngay cả khi mối tình đầu của nhà thơ vỗ cánh bay đi. Tôi rưng rức xúc cảm với những phút giây hồi tưởng chơi vơi về những tháng ngày mộng mị đã xa vời, đã mất dấu trong cuộc đời, khi mối tình thuở nảo thuở nao bỗng chia lìa đôi ngã được anh thể hiện trong 6 cái tự truyện in kèm theo ở cuối tập sách. Chia ly rồi hạnh ngộ cũng đủ để người ta cùng khóc cười với anh.. Cuộc đời lắm ngả rẽ, chia phôi giữa biển đời xao động, chỉ đủ cho anh viết những câu thơ với sự nuối tiếc câm lặng, thương tiếc phố cũ ngày xưa chỉ còn lại dấu chân kỉ niệm đã phôi pha dập vùi mưa nắng, đời buồn tênh chỉ còn lặng nghe “nỗi buồn kết nụ”:

Em ngang chiều phố cũ

Nghe mưa nắng đời mình

Có nỗi buồn kết nụ

Bên phố người lặng thinh.

 

Có đôi khi, nhà thơ độc thoại với chính nội tâm mình, anh thủ thỉ với người tình xa vắng, lặng lẽ ôm giấc mơ luôn hiện hữu trong trái tim yêu đương. Vì thế, “một ngày như mọi ngày” của nhà thơ luôn “có dáng em nho nhỏ” ẩn hiện trong tâm hồn:

Ngày của anh

Có dáng em nho nhỏ

Có mắt cười đâu đó xa xăm.

 

Rồi có những phút giây lao xao kỉ niệm dấu yêu hiện về, nỗi nhớ mong chắp cánh bay cao, dịu êm và lãng mạn, nguyên vẹn tinh khôi cái ngày hai đứa bên nhau. Hai câu thơ cuối của khổ thơ vô cùng đắt giá, tác giả khắc họa mối tình trẻ trung của đôi tình nhân trong thời khắc cận kề chỉ là “Mình ngồi lơ mơ quán gió” không tình tự, không vòng tay ôm ấp, không môi hôn nồng nàn dấu yêu mà họ cùng “ngắm mùa hoa đỏ quên yêu”. Thật là một hình tượng tình yêu thánh thiện, như Sait Exupery từng nói: “Yêu nhau không phải là nhìn nhau, nhưng là cùng nhau nhìn về một hướng.” 

Bỗng dưng anh nhớ thật nhiều

Con đường qua nhà em trọ

Mình ngồi lơ ngơ quán gió

Ngắm mùa hoa đỏ quên yêu.

 

Khi yêu đương, ai mà không hờn dỗi, ai mà không mũi lòng, rồi trách móc, rồi xót xa. Họ giận hờn về một duyên cớ vu vơ nào ai mà biết được. Bốn câu thơ sau đây thật tinh tế, nói mà không nói, mơ mơ hồ hồ, không có lời than thở mà nghe có cảm giác nghèn nghẹn từ đâu đó trong ngôn ngữ thơ cất lên:

Hình như gió đổi rồi em

Chừng nghe thương nhớ êm đềm sang sông

Có điều gì đó đợi trông

Có niềm kiêu hãnh vẫn không quay về.

 

Nhà thơ cũng luôn tự khẳng định tình yêu đầu của mình dành cho “nhỏ”, đó là từ anh thích dùng cho người con gái thuở anh mới tập tành yêu đương trong giảng đường sư phạm. Thi sĩ không năn nỉ người mình yêu, mà ngữa bàn tay về phía trời xanh, anh xin giọt sương ban mai mãi long lanh, xin chiều thu cứ lững lơ mây trắng, để chiếc lá vàng cuối cùng của ngày hẹn hò còn mãi lưu dấu trên cây. Tình yêu của “kẻ ăn mày” tình yêu như gã hành khất Lê Nhật Ánh vô cùng lãng mạn, tôi rất muốn chạy theo mà có lẽ theo không kịp:

Khi yêu anh bỗng hoá ăn mày

Xin sớm đọng sương, xin chiều thu nắng

Xin chiếc lá vàng lưu dấu trên cây.

 

Thiết tha là thế, nhưng nhà thơ nhận thức tình yêu như chiếc lá mùa thu mong manh, như trái tim ngọc ngà dễ vỡ, thi sĩ khẩn cầu tất cả hãy lặng yên cho tình chàng vẹn nguyên, xin đừng chạm vào nó,  “dẫu chỉ là cơn gió” cho ta phơi cuộc tình*:

Đừng chạm vào chiếc lá thu

Dẫu chỉ là cơn gió

Đừng chạm vào xưa thương nhớ

Mộng vẫn trên cành chiêm bao

 

Thế rồi, bỗng một hôm, trải qua bao chia lìa nghiệt ngã, khi “tơ tóc ngã màu khói mây” thì trời đất dung rủi cho đôi tình nhân thuở xưa hạnh ngộ, một cuộc hạnh ngộ ứa nước mắt hạnh phúc của hai trái tim đã chịu nhiều đau khổ, nếu Lê Nhật Ánh nhờ ai đó bấm máy, chắc chúng ta sẽ có một bức ảnh tuyệt vời:

Mấy lần qua bến nông sâu

Thương người tơ tóc ngã màu khói mây

Ơn trời còn buổi sương bay

Chiều nay em khóc giữa vòng tay yêu

 

Và bây giờ, chàng thi sĩ lãng tử một thời dọc ngang bỗng ngoan hơn bao giờ hết, khi ở trong vòng tay yêu thương, chàng đã thỏ thẻ hứa với nàng, chao ơi, ngoan như vậy là cùng:

Mình hứa với người sẽ ngoan

Hứa là sẽ chẳng đi hoang mỗi chiều

Mình hứa với đời sẽ yêu

Hứa ngày quên nhớ buồn vui cùng người

 

Giờ đây, tôi hình dung họ đang chung bóng trên đường đời và mỗi khi nàng giận hờn, nhà thơ tự tin ru tình để viết những câu thơ dỗ dành ngọt lịm:

Giận hờn em trách vậy thôi

Yêu mà để hết là đời rong rêu

Con tim zích zắc bao điều

Rằng thương nhớ đã quá chiều mây bay.

 

Tôi nghĩ mình không thể miên man rơi vào cái không gian yêu dấu này mãi được dù đang đắm chìm trong những cảm xúc yêu đương rất đời mà cũng vô cùng đẹp đẽ ấy nên xin nhường lại thời gian cho các bạn khám phá tâm hồn thơ Lê Nhật Ánh trong thi tập  Chiều không để làm thơ nhé.

 

Nhà thơ Lê Nhật Ánh đang ở tuổi xấp xỉ 60, cái tuổi sung mãn của sức lực và trí tuệ, tôi tin anh còn tiếp tục sáng tác nhiều năm nữa, để cho ra đời nhiều tác phẩm giá trị cống hiến cho nghệ thuật với súc sáng tạo của một cá tính thơ đặc biệt.

 

Bà Rịa ngày 9/3/2022

 

Nguyên Bình

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm