TIN TỨC

Cảm thức quê hương, từ những tản văn đậm hồn quê

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-08-09 23:05:53
mail facebook google pos stwis
544 lượt xem

Trần Quang Khanh

Ai đó từng nói: “Trong vũ trụ có nhiều kỳ quan, nhưng kỳ quan tuyệt phẩm nhất đó là trái tim người mẹ”. Tình yêu của mẹ đẹp đẽ, thiêng liêng và bao la chẳng có bến bờ. Có mẹ, ta như có tất cả. Khi mẹ vắng xa cuộc sống sẽ đầy nỗi buồn thương, chán chường, tiếc nuối… Thời gian có chờ đợi ai bao giờ…

Bìa tập tản văn “Trong sương thương má” của Nhà văn Trương Chí Hùng

 

Cảm giác mất mát sâu lắng ấy bất chợt rung lên khi tôi đọc quyển tản văn “Trong sương thương má” của Trương Chí Hùng – hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, giảng viên trường Đại học An Giang. Trương Chí Hùng từng gây chú ý khi đoạt giải nhất bút ký của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long năm 2017 và sau đó được trao Tặng thưởng bút ký hay nhất năm 2022 của Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Tập sách do NXB Kim Đồng ấn hành, cảm hứng chủ đạo là những tâm tư, cảm xúc sâu lắng, những giãi bày trên chuyến hành trình ngược thời gian về với những ngày thơ, bên gia đình có người mẹ dấu yêu. Tất cả lung linh, bàng bạc những trăn trở, yêu thương, hoài niệm…

Giọng văn đậm nét miền Tây Nam Bộ, hòa quyện với những từ ngữ đậm đặc hương vị bản xứ. Những con người, câu chuyện, từ ngữ địa phương của vùng biên giới An Giang hiện lên chân thật, gần gũi, sinh động.

Đọc “Những nghề hạ bạc”, ắt hẳn độc giả đã thấy rõ nét tâm hồn “chân quê” của tác giả. Nhiều từ, cụm từ đậm màu sắc dân gian được lồng ghép, diễn giải, kể lại dễ hiểu, dễ tạo nên sự đồng cảm. Những hình ảnh đậm hồn Nam Bộ được tác giả tái hiện như: “Thả xuồng xuôi dòng nước mênh mông…”, “đến mùa nước nổi, tôi thích nhất là được bơi xuồng đi bẻ cà na, đi câu cá, hay đi hái điên điển, rau muống… Tháng nước mà, ở nhà buồn chết!”, “Tôi muốn tìm lại những hình ảnh thân thuộc trước kia. Nhưng hôm nay đồng quê sao vắng vẻ… Chiếc xuồng của tôi dường như lạc lõng giữa biển nước bao la”… Với bút pháp đối lập, tác giả đã tạo nên nỗi cô đơn quạnh quẽ, lạc lõng của “tâm hồn tôi” với cả một vùng biển nước mênh mông. Tác giả cảm thấy mình nhỏ bé như tuổi ấu thơ ngày nào, và giờ sao quá đỗi cô liêu và quạnh vắng. Một nỗi niềm tiếc nuối trong đêm, “một mình tôi thả xuồng xuôi theo dòng nước mênh mông…”. Những cảnh vật xưa nay còn đâu… Những cố nhân… đã đi xa biền biệt. Cách dẫn dắt bạn đọc vào chuyện kể cũng rất nhẹ nhàng, khéo léo: “Mỗi năm, khi cơn gió Nam đưa nước lớn về, cánh đồng tôi lại trổ vàng bông điên điển… Cứ việc hái rổ bông vàng tươi vô nấu canh chua cá lóc là tôi khoái” (Khúc ca trên sông vắng)

Đọc Trương Chí Hùng, như bị cuốn hút về một vùng trời bình yên xa thẳm của hồi ức. Đong đầy những kỷ niệm sống lại trong tâm trí. Nhiều chi tiết thật sâu lắng, cảm động: “Má đong mấy lon gạo về nấu cơm. Mà cũng không quên mua cho tôi một cái bánh in, bánh da lợn hay vài cục kẹo… Cả nhà tôi lại quây quần bên bữa cơm chiều đạm bạc, trong căn nhà chật hẹp nhìn nhau ngao ngán. Lon gạo cuối cùng cũng nấu hết. Cả nhà lại ăn độn rau muống, bông súng trừ cơm…”. Sự hy sinh tảo tần của người mẹ kiếm sống trên mạn thuyền như nỗi ám ảnh ăn sâu vào tiềm thức của  “tôi”. Đó là dòng hồi tưởng miên man, thấm đẫm niềm hoài cảm ngậm ngùi: “Lâu lắm rồi tôi không còn được nghe tiếng rao của má văng vẳng cả một khúc sông quê. Và mãi mãi, tiếng rao ấy chỉ còn trong ký ức. Ngày má về trời, mưa rơi trắng cả một dòng sông…”. Nhiều đoạn văn dung dị mà đẹp đến nao lòng: “Quanh ngôi mộ má tôi, ba cũng trồng mấy hàng điên điển. Có lẽ ba không muốn sóng vỗ làm má trở giấc”.

Hầu hết tác phẩm trong tập sách đều mang đến cảm xúc chân thành và sâu lắng. Cảm xúc đẹp, lắng đọng lại khi chạm vào những dòng cuối: “Thèm cái không gian yên ắng và một câu vọng cổ biết chừng nào!”, “Bất giác, tôi nghe như tiếng rao của má còn lanh lảnh đâu đây”… Hay với những cái kết giàu triết lý nhân sinh: “Đất không chỉ quý giá như bạc vàng mà còn hơn thế nữa. Bởi đất rất thiêng liêng…”

Vượt thoát lên trên tất cả là tình cảm gia đình, tình yêu thương thiết tha dành cho người mẹ thân yêu đã mất. Ta sẽ bắt gặp những dòng viết đầy rung cảm, với bao nỗi niềm luôn bị giấu kín. Như trong “Bữa nay có tôm ngon lắm”, từng con chữ bỗng cứ thế nghẹn ngào: “Ba ơi, má ơi vể ăn cơm với con nè. Bữa nay có tôm ngon lắm! Khấn xong nước mắt chực trào ra…”. Lời kể và lời thoại như không hề có sự tách bạch rõ ràng. Ai đã đọc qua sẽ khó kìm nén được nỗi xúc động.

Cách hành văn mạch lạc, khúc chiết, gãy gọn của tác giả Trương Chí Hùng cứ thế truyền cảm xúc đi thẳng vào trái tim bạn đọc, hơn là những phô diễn ý tưởng, kỹ thuật hành văn. Tôi có cảm giác như anh viết cực nhanh. Về mặt ngữ pháp, cách diễn đạt khá chỉn chu, sắp xếp ý tưởng trình bày trong các đoạn văn liền mạch, tạo cảm giác tự nhiên, chân thật dù đôi khi có sự đan xen giữa quá khứ lẫn hiện tại. Cái kết của mỗi tác phẩm nhẹ nhàng, giàu chất thơ và đầy lắng đọng. “Trong sương thương má” bình dị, thân thuộc như chính góc quê thân thuộc của mỗi người. Tác phẩm truyền cảm hứng cho những yêu thương chân thành và giàu tính giáo dục.

Đi qua hết các tác phẩm nơi tập sách, tác giả như vẫn luôn hướng về những vẻ đẹp của con người và tạo vật thiên nhiên, về những hồn hậu đặc trưng của vùng đất miền Tây Nam Bộ. Anh nhận định: “Miền Tây vẫn đọng lại trong tôi biết bao điều tốt đẹp. Cái đẹp của tình đất tình người”. Chúng ta như được sống cùng với tác giả, cảm thấy mình như người bạn thân thiết với tác giả, như hòa nhập vào các chi tiết, hình ảnh, được sống với dòng hồi ức đẹp, thấm đậm chất thi vị của tình mẫu tử thiêng liêng, tình người chân thật cao quý, giữa bao đổi thay, mất mát… Đồng thời là bao cảm xúc mãnh liệt, tràn đầy về tình cảm gia đình, tình quê hương luôn thiết tha, sâu nặng.

Đọc văn của Trương Chí Hùng chúng ta thấy những gì thân thiết nhất của tuổi thơ đều có sức bừng tỏa, dịu dàng nâng đỡ ta suốt cả cuộc đời. Tình yêu thương, lòng biết ơn là biểu hiện của tình cảm gắn bó sâu sắc của con người với gia đình, quê hương xứ sở… Bông điên điển, chiếc xuồng nhỏ, dòng sông… là quê hương, nguồn cội của nhà văn.

Và mẹ cũng chính là quê hương…

T.Q.K

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm