TIN TỨC

Cảm thức thời gian mang hình hài kim cương

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-09-12 08:01:20
mail facebook google pos stwis
1562 lượt xem

VÕ TẤN CƯỜNG

Con đường sáng tạo thơ ca của nhà thơ chính là hành trình tâm linh trở về với chính mình để khám phá bí ẩn của nội tại đồng thời chiếu rọi cái nhìn, khám phá vẻ đẹp đa chiều kích của sự vật, thiên nhiên và con người ở thế giới thực tại. Nhà thơ là người tự thắp ngọn lửa sưởi ấm hồn mình và hồn người trong thế giới ngôn từ, hình tượng thơ ca.

Đọc tập thơ: “Ngày kim cương” của Vũ Tuấn (Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, năm 2023), tôi nhận biết, trên hành trình sáng tạo, nhà thơ Vũ Tuấn đã khơi mở thế giới tiềm thức và bộc lộ cảm thức về thời gian, thể hiện sự suy tưởng về sự sống, về cái đẹp, tình yêu và sự biến động của lịch sử… Vũ Tuấn chịu ám ảnh bằng cảm quan về sự tồn tại, tác động của thời gian đối với tâm thức. Theo cái nhìn của anh, thời gian vừa mang tính tượng trưng vừa hiện hữu bằng hình hài cụ thể. Cảm thức của nhà thơ về thời gian được biểu hiện bằng đơn vị một ngày để sống và sáng tạo, vừa mang tính bền vững, vừa mang giá trị vĩnh hằng như kim cương. Không chỉ có vậy, thời gian còn là món quà vô giá mà tạo hóa dành tặng cho con người.

“Ngày như viên kim cương

Lăn vào tay ban tặng

Ngày

Như giọt mật đầy

Ta giang tay đón nhận”

(Ngày kim cương)

Con người khác với thế giới loài vật không chỉ ở khả năng tư duy, trí tuệ mà còn ở cảm thức về thời gian. Đối với nhà thơ Vũ Tuấn, thời gian như một giá trị ẩn chứa sự sống, sự tồn tại mà con người cần nâng niu, tận hưởng.

 

Theo cái nhìn, nhận thức bằng cảm quan của Vũ Tuấn, thời gian không chỉ trôi chảy, diễn biến theo chiều của vật lý mà luôn ám ảnh, thôi thúc như những đợt sóng liên hồi vỗ vào tâm tưởng khiến con người thao thức khôn nguôi.

“Thời gian dồn đuổi bất tận

Biết có gặp nhau ở cuối đường

Cột mốc số không lằn ranh giả định

Ta lấy mình làm điểm tựa yêu thương”

(Cột mốc số không)

Vũ Tuấn là kiểu nhà thơ coi trọng sự tạo tác về ngôn từ trong việc khắc họa hình tượng thơ ca. Giống như họa sĩ phối màu, nhạc sĩ phối âm, nhà thơ phải là người phối chữ hay là tạo tác chữ. Nhà thơ Vũ Tuấn coi trọng ý ở ngoài lời, độ âm vang và lan tỏa của ý tứ, ngôn từ trong từng câu thơ.

“Cơn gió mang đi hết

Những hương hoa của đồng

Xác hoa người cũng nhặt

Tôi đem về trống không”

(Trống không)

Bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt: “Trống không” bộc lộ cảm thức của nhà thơ về sự kiệt cùng của cái đẹp giữa thế giới thực tại, đồng thời khắc họa tâm thế của nhà thơ trong việc tiếp nhận, hóa giải thế giới thực tại trong tâm thức của chủ thể sáng tạo.

 

Vũ Tuấn có nhiều câu thơ nhảy vọt, đột biến về ý tứ, tạo sự bất ngờ, thú vị trong quá trình tiếp nhận, liên tưởng của người đọc.

“Đêm thanh khiết

Chân nhang quỳ xuống

Thả lời nguyện

Bay lên…

(Lời nguyện trong đêm)

“Bưng bát trăng sứt mẻ

Lang thang khắp nẻo đường

Người ăn mày tiền bạc

Ta ăn mày gió sương”

(Khất thực)

 

Thơ lục bát của Vũ Tuấn vừa tuân thủ chuẩn mực của thơ lục bát truyền thống, vừa phá cách về cách gieo vần, cấu trúc câu thơ và mạch cảm xúc. Ngôn ngữ thơ lục bát của Vũ Tuấn biến ảo, cảm xúc tinh tế và thăng hoa, tạo nhiều dư vị trong tâm hồn người đọc.

“Chắt từ bầu sữa thiên nhiên

Giọt sương nuôi lớn trăm miền đất đai

Vườn hoang chim chóc gọi bầy

Nắng mai lay thức tháng ngày ngủ mơ”

(Tháng giêng trẩy hội đa tình)

 

“Người về chăn chiếu bơ vơ

Từng đêm lạc vận câu thơ thất tình

Bóng trăng đáy nước hữu tình

Mà không vớt được bóng mình bóng ta”

(Em ơi có nhớ)

So với hai tập thơ đã xuất bản: “Giai điệu phù sa” và “Mật ngữ đồi thông kim” với hình tượng thơ giàu tính biểu cảm, ngôn ngữ dồn nén, hàm súc, tập thơ: “Ngày kim cương” có nhiều bài thơ mang tính suy tưởng, mở rộng chiều kích tư duy và bộc lộ cảm thức của nhà thơ trong việc khám phá, khắc họa tính đa diện, đa chiều sự bí ẩn của con người, sự vật trong thế giới thực tại.

“Tiếng võng nhai mòn cột gỗ suốt mùa thi

Câu thơ mất ngủ

Anh đuổi theo chân trời mộng tưởng…”

(Bài thơ dang dở)

“Đất nước tôi không vạn lý trường thành

Nhưng vạn lý lòng dân từ thuở ấy…”

(Đất)

Hai câu thơ tạo nên sự tương phản về ý nghĩa giữa cái hữu hình và cái vô hình, gây ấn tượng mạnh đối với người đọc về sức mạnh của lòng dân theo suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam.

Hơn ba mươi năm đeo đuổi đam mê sáng tạo, nhà thơ Vũ Tuấn vừa quyết liệt, vừa cẩn mật tìm kiếm, định hình một phong cách thơ, giọng điệu thơ độc đáo và riêng biệt. Đối với nhà thơ Vũ Tuấn, hạnh phúc của người sáng tạo không phải là sự thừa nhận, tôn vinh của người đọc mà chính là sự giao hòa, tri âm của những tâm hồn trong thế giới hình tượng thơ ca và giữa cuộc đời luôn biến động, đổi thay.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm