TIN TỨC

Cảm thức thời gian mang hình hài kim cương

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-09-12 08:01:20
mail facebook google pos stwis
1638 lượt xem

VÕ TẤN CƯỜNG

Con đường sáng tạo thơ ca của nhà thơ chính là hành trình tâm linh trở về với chính mình để khám phá bí ẩn của nội tại đồng thời chiếu rọi cái nhìn, khám phá vẻ đẹp đa chiều kích của sự vật, thiên nhiên và con người ở thế giới thực tại. Nhà thơ là người tự thắp ngọn lửa sưởi ấm hồn mình và hồn người trong thế giới ngôn từ, hình tượng thơ ca.

Đọc tập thơ: “Ngày kim cương” của Vũ Tuấn (Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, năm 2023), tôi nhận biết, trên hành trình sáng tạo, nhà thơ Vũ Tuấn đã khơi mở thế giới tiềm thức và bộc lộ cảm thức về thời gian, thể hiện sự suy tưởng về sự sống, về cái đẹp, tình yêu và sự biến động của lịch sử… Vũ Tuấn chịu ám ảnh bằng cảm quan về sự tồn tại, tác động của thời gian đối với tâm thức. Theo cái nhìn của anh, thời gian vừa mang tính tượng trưng vừa hiện hữu bằng hình hài cụ thể. Cảm thức của nhà thơ về thời gian được biểu hiện bằng đơn vị một ngày để sống và sáng tạo, vừa mang tính bền vững, vừa mang giá trị vĩnh hằng như kim cương. Không chỉ có vậy, thời gian còn là món quà vô giá mà tạo hóa dành tặng cho con người.

“Ngày như viên kim cương

Lăn vào tay ban tặng

Ngày

Như giọt mật đầy

Ta giang tay đón nhận”

(Ngày kim cương)

Con người khác với thế giới loài vật không chỉ ở khả năng tư duy, trí tuệ mà còn ở cảm thức về thời gian. Đối với nhà thơ Vũ Tuấn, thời gian như một giá trị ẩn chứa sự sống, sự tồn tại mà con người cần nâng niu, tận hưởng.

 

Theo cái nhìn, nhận thức bằng cảm quan của Vũ Tuấn, thời gian không chỉ trôi chảy, diễn biến theo chiều của vật lý mà luôn ám ảnh, thôi thúc như những đợt sóng liên hồi vỗ vào tâm tưởng khiến con người thao thức khôn nguôi.

“Thời gian dồn đuổi bất tận

Biết có gặp nhau ở cuối đường

Cột mốc số không lằn ranh giả định

Ta lấy mình làm điểm tựa yêu thương”

(Cột mốc số không)

Vũ Tuấn là kiểu nhà thơ coi trọng sự tạo tác về ngôn từ trong việc khắc họa hình tượng thơ ca. Giống như họa sĩ phối màu, nhạc sĩ phối âm, nhà thơ phải là người phối chữ hay là tạo tác chữ. Nhà thơ Vũ Tuấn coi trọng ý ở ngoài lời, độ âm vang và lan tỏa của ý tứ, ngôn từ trong từng câu thơ.

“Cơn gió mang đi hết

Những hương hoa của đồng

Xác hoa người cũng nhặt

Tôi đem về trống không”

(Trống không)

Bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt: “Trống không” bộc lộ cảm thức của nhà thơ về sự kiệt cùng của cái đẹp giữa thế giới thực tại, đồng thời khắc họa tâm thế của nhà thơ trong việc tiếp nhận, hóa giải thế giới thực tại trong tâm thức của chủ thể sáng tạo.

 

Vũ Tuấn có nhiều câu thơ nhảy vọt, đột biến về ý tứ, tạo sự bất ngờ, thú vị trong quá trình tiếp nhận, liên tưởng của người đọc.

“Đêm thanh khiết

Chân nhang quỳ xuống

Thả lời nguyện

Bay lên…

(Lời nguyện trong đêm)

“Bưng bát trăng sứt mẻ

Lang thang khắp nẻo đường

Người ăn mày tiền bạc

Ta ăn mày gió sương”

(Khất thực)

 

Thơ lục bát của Vũ Tuấn vừa tuân thủ chuẩn mực của thơ lục bát truyền thống, vừa phá cách về cách gieo vần, cấu trúc câu thơ và mạch cảm xúc. Ngôn ngữ thơ lục bát của Vũ Tuấn biến ảo, cảm xúc tinh tế và thăng hoa, tạo nhiều dư vị trong tâm hồn người đọc.

“Chắt từ bầu sữa thiên nhiên

Giọt sương nuôi lớn trăm miền đất đai

Vườn hoang chim chóc gọi bầy

Nắng mai lay thức tháng ngày ngủ mơ”

(Tháng giêng trẩy hội đa tình)

 

“Người về chăn chiếu bơ vơ

Từng đêm lạc vận câu thơ thất tình

Bóng trăng đáy nước hữu tình

Mà không vớt được bóng mình bóng ta”

(Em ơi có nhớ)

So với hai tập thơ đã xuất bản: “Giai điệu phù sa” và “Mật ngữ đồi thông kim” với hình tượng thơ giàu tính biểu cảm, ngôn ngữ dồn nén, hàm súc, tập thơ: “Ngày kim cương” có nhiều bài thơ mang tính suy tưởng, mở rộng chiều kích tư duy và bộc lộ cảm thức của nhà thơ trong việc khám phá, khắc họa tính đa diện, đa chiều sự bí ẩn của con người, sự vật trong thế giới thực tại.

“Tiếng võng nhai mòn cột gỗ suốt mùa thi

Câu thơ mất ngủ

Anh đuổi theo chân trời mộng tưởng…”

(Bài thơ dang dở)

“Đất nước tôi không vạn lý trường thành

Nhưng vạn lý lòng dân từ thuở ấy…”

(Đất)

Hai câu thơ tạo nên sự tương phản về ý nghĩa giữa cái hữu hình và cái vô hình, gây ấn tượng mạnh đối với người đọc về sức mạnh của lòng dân theo suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam.

Hơn ba mươi năm đeo đuổi đam mê sáng tạo, nhà thơ Vũ Tuấn vừa quyết liệt, vừa cẩn mật tìm kiếm, định hình một phong cách thơ, giọng điệu thơ độc đáo và riêng biệt. Đối với nhà thơ Vũ Tuấn, hạnh phúc của người sáng tạo không phải là sự thừa nhận, tôn vinh của người đọc mà chính là sự giao hòa, tri âm của những tâm hồn trong thế giới hình tượng thơ ca và giữa cuộc đời luôn biến động, đổi thay.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm