TIN TỨC

Có một “Ngỡ” trong thơ Trần Mai Hường

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-10-28 18:10:09
mail facebook google pos stwis
1458 lượt xem

Tôi bắt đầu nhận ra những trái ngược trong tính cách của con người, đặc biệt là những người đã đem tâm tư và cảm xúc của mình đặt trọn vẹn vào văn chương chữ nghĩa. Thơ muôn đời vẫn là tiếng nói của tình cảm và khi cảm xúc dạt dào thì thơ tự động cũng bật lên. Điều này, có rất nhiều người đã nói nhưng tôi vẫn muốn lặp đi lặp lại. Và cái “ngỡ” của Trần Mai Hường phần nào đã nói lên được điều ấy.

 

Nhà thơ Trần Mai Hường

Tôi tiếp xúc và đến với thơ chị như một sự đồng điệu văn chương rất tình cờ. Chị gửi cho tôi quyển “Ngược đêm” được NXB Hội Nhà văn ấn hành năm 2014 với biết bao xúc cảm được nén được dồn vào trong từng câu chữ từng trang thơ. Thật vậy, như có sức hút lạ kỳ cuốn lấy tôi qua những câu thơ cháy bỏng. Tôi rất thích thơ chị nhưng cái làm cho tôi như một người say loạng choạng trong thế giới ấy là những bài thơ lục bát ngắn. Những bài thơ mà có lần chị tự bảo rằng là “lục bát dở hơi”. Lục bát ư? Thể thơ này đã quá quen thuộc với tất cả mọi người ngay từ thời nằm nôi nghe mẹ hát ru. Nhưng oái oăm, nàng là một thiếu nữ khó tính. Nàng có thể khoác lên người bất kỳ kiểu xiêm y nào từ chất phác hiền lành đến lộng lẫy kiêu sa nhưng để nàng thực sự tuyệt vời là điều vô cùng khó. Cái khó ấy được Trần Mai Hường chế ngự một cách tài tình và khéo léo. Đơn giản là cảm xúc.

“Ngỡ” chiễm chệ ở vị trí thứ sáu trong tuyển tập “Ngược đêm” của chị một cách quyến rũ và đầy hấp dẫn. Trong thời đại ra ngõ gặp nhà thơ như bây giờ thì khó lòng tìm thấy được một người tâm huyết với sân chơi văn chương. Tôi ngán ngẫm với kiểu viết dài, tràn lan với hỗn tạp cảm xúc ở phần đông tác giả thơ hiện nay. “Ngỡ” đã khắc phục được điều đó. Không dài mà đủ dài để người đọc nâng niu lưu giữ. Hãy bắt đầu đi tìm cái “ngỡ” của chị trong bài thơ nhỏ nhắn này.

Mở đầu bài thơ như một sự nhẹ nhàng, một sự êm đềm chấp nhận, nghe mong manh như một lời thủ thỉ với chính mình.

“Ừ xa mình đã xa rồi

ừ quên em cũng giống người đã quên”

Lời thơ như một sự chấp nhận gượng ép làm ta nghe có chút gì tiếc nuối luyến lưu. Nhịp thơ như lôi kéo người đọc đến gần hơn với lối ngắt 2/4 “ừ xa/mình đã xa rồi” bước đầu đã tạo ra sự hấp dẫn hơn so với kiểu ngắt nhịp truyền thống. Đôi lúc tôi bâng khuâng tự hỏi không biết chị có dụng ý này không “ừ/xa/mình đã xa rồi” nghe mạnh mẽ, táo bạo nhưng ngắt theo kiểu này thì âm điệu câu thơ bị gãy, độ thiết tha mềm mại bị lung lay. “Ừ quên em cũng như người đã quên” đây là câu thơ mang đầy đặn tính ỡm ờ làm cho người đọc hoài nghi. Quên ư? Chưa hẳn là quên đâu. Nhưng còn nếu nói nhớ thì có cái gì đó xót xa, tê tê bủa vây trên bờ môi. Chữ “cũng như” thật đắt trong tình huống này. Nhịp ngắt của câu thơ “ừ quên/em cũng như người/ đã quên” thì rõ ràng có sự trách hờn thoáng hiện lên. Trần Mai Hường là thế, không muốn chính mình chỉ rõ ra, chị nói mình “thua” thì thật ra chị “chưa thua” thậm chí còn “thắng” nữa là đằng khác. Thì ở đây cũng vậy, chẳng ai thấy chị “quên” dù ít nhiều chị có bảo rằng “đã quên”. Ẩn chứa trong câu thơ một nỗi niềm lạnh lẽo, hời hợt đến nao lòng “em cũng như người đã quên”, người ta đã quên rồi thì mình cũng dặn lòng cố mà quên đi chứ thật ra mình có muốn quên bao giờ.

Hai câu kết thúc bài thơ lại đem đến một hình ảnh khác về cái nhớ cái quên

“chiều nay nỗi nhớ dậy men

uống ngày xưa đến say mèm người ơi.”

Đến lúc này thì mọi việc đã dỡ lẽ ra, quên ư? không bao giờ. Giống như cái cách của chị mà thường biểu lộ. Rượu hay bất kỳ thứ gì đi chăng nữa thì ủ lâu ngày mới lên men, khi lên men thì đã đậm đà, đủ độ mặn mòi để chinh phục giác quan con người.

Hóa ra nỗi nhớ đã âm thầm dai dẳng theo người, nó âm ỉ trong tâm hồn để bây giờ nó trỗi lên như một điều tất yếu. Chữ “dậy men” đã lấn át đi những con chữ còn lại trong câu thơ này. Quả thật, một phép so sánh độc đáo “nỗi nhớ” khi đến tột cùng thì y như rượu “dậy men”. Ý niệm nhớ - quên được Trần Mai Hường khai thác một cách sâu sắc. Và khép lại bài thơ là hành động “uống ngày xưa đến say mèm người ơi”, một lần nữa cho thấy chẳng những khả năng diễn đạt cảm xúc rất tinh tế mà kỹ thuật chọn lọc ngôn từ của chị cũng cực kỳ sắc sảo.

Nhịp lục bát đã thay đổi “uống ngày xưa/đến say mèm/người ơi” tạo nên một dấu ấn đậm nét trong lục bát Trần Mai Hường. Uống lấy ngày xưa, hình ảnh thật đầy ấn tượng, gom cả không gian, thời gian mà trói lại rồi trút cạn. Quá khứ đâu, dĩ vãng đâu, kỷ niệm một thời bên nhau đâu, tất cả hãy tan vào nhau để cạn một lần rồi quên. Nhưng khổ nỗi có quên được đâu! Người đời là cho rằng kẻ say sẽ chẳng nhớ được điều gì? Sai lầm. Họ nhớ kỹ hơn rất nhiều những gì họ cố giấu che đi ở ngày thường. Thì đây, nhà thơ Trần Mai Hường đã đem lại cho ta cái hình ảnh ấy. Uống “đến say mèm”, khi say mèm là khi đó nỗi nhớ đã thống trị trên ngai vàng cảm xúc. Ai trách người say nói năng, hành động bao giờ. Khi say mèm thì con người có thể thốt lên rằng tôi nhớ lắm, tôi nhớ quá mà chẳng sợ mình còn bị ràng buộc điều chi. Chi tiết “say mèm” là chi tiết trở về với cảm xúc thật, cảm xúc tầm thường vốn có của con người. Cái hay nằm ở chỗ ấy.

Chỉ có bốn câu nhưng “Ngỡ” đã đem đến chúng ta đậm đặc nỗi niềm nhớ - quên. Bây giờ xét đến “ngỡ”. Lạ quá, sao là ngỡ? Ý nghĩa gì nếu không phải là “ngỡ” quên mà lại nhớ. Thế đấy, văn chương có cái hấp dẫn, thú vị mà ta càng đi tìm thì ta càng lại thấy mình càng nhỏ bé, hạn hẹp. Biết đâu, có một độc giả nào khác có cách hiểu khác so với tôi thậm chí là sai lệch hẳn với những góc nhìn của tôi nhưng không sao, văn chương mà. Mỗi người có một cách cảm nhận riêng về thơ, đâu có thể buộc họ phải khư khư hiểu theo cách của mình. Trước khi kết thúc, tôi muốn nói rằng, văn chương đã có một Trần Mai Hường, Trần Mai Hường đã có một Ngược đêm và Ngược đêm đã có một Ngỡ, thế thôi.

Phan Duy

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm