TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên

Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-03-13 05:21:09
mail facebook google pos stwis
924 lượt xem

LÊ TUYẾT LAN

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.

 

Nhà thơ Đoàn Thị Diễm Thuyên

 

"Ngậm lời ru,

Ru mẹ ngày xưa

Bà đưa mẹ đến

Giấc trưa say nồng

Để nay mẹ bế mẹ bồng

Mẹ ru con cả

Tiếng lòng thương yêu" ( Lời ru)

 

Khi nhắc đến lời ru người ta thường nghĩ ngay đến tình mẫu tử, tình bà cháu vì vốn dĩ đó là những người tạo ra lời ru, gắn bó lời ru thông qua những câu ca dao, bài hát mỗi ngày để cho bao đứa trẻ được say giấc nồng. Lời ru theo từng người lớn lên, chất chứa bao yêu thương, thắm đượm bao gửi gắm. Ấy vậy mà, với tập thơ "Ru say mượn tình, Ru tình mượn nhau" của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên cho ta một sự thấu cảm khác về lời ru đó là "Ru Anh".

 

Toàn tập thơ theo thể thơ lục bát với 34 bài "Ru Anh" và 30 bài thơ "Mượn" mà tác giả đã mượn tất cả những gì thuộc về người mình yêu như cái lẽ dĩ nhiên khi người ta đang nồng nàn say đắm. Có những bài thơ bốn câu, tám câu, mười hai, hai mươi hai câu... Tôi tin tất cả những gì ngắn dài ấy là cả sự thổn thức của một trái tim da diết, nhiều nhạy cảm và khát khao chân thật.

Tôi đã thắc mắc nhiều khi đọc thấy từ "ru" và được lập lại đều đặn 34 bài thơ, có những câu như "à ơi " quen thuộc và nối liền nhau liên khúc ca. Như trong Kinh Thánh có câu: "Người phụ nữ là chiếc xương sườn của người đàn ông". Từ thuở xa xưa, người phụ nữ luôn là người "đứng sau" theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng với người chồng, người yêu và bị những điều phong kiến ràng buộc, từng quy tắc giam cùm. Và khi xã hội phát triển, thì hiện tại người phụ nữ vẫn một số nơi, một số lĩnh vực khía cạnh cuộc sống vẫn đã và đang đấu tranh giành cái quyền lợi công bằng cho mình. Và từ "Ru" theo tôi lại là lời của người mẹ dành cho con mình bằng tâm tư tình cảm thiêng liêng ngọt ngào. Một vị trí cho nhiều hơn nhận, cao nhiều hơn thấp. Nhưng có lẽ không phải đặt vào vị cao thấp, trước sau, không khép nép rụt rè mà đầy quyết đoán.  Tôi đoán rằng, chị muốn mượn cái tình cao đẹp, hy sinh, bao dung, cái sự ngọt ngào tha thiết nhất để dành cho người chị yêu thương. Mà trong đó có sự bảo bọc, tựa nương, thấu hiểu. Từ đầu chị cũng nói rằng "Em ru là để anh say/ Anh vùi vào mộng, anh ngây vào tình". Cái khát khao của người phụ nữ muốn người đàn ông thương mình sâu sắc, đậm đà dẫu thời nào cũng vậy. Nên từng câu thơ tuông chảy như dòng suối khi thì uốn cong, khi thì đổ ào ạt, khi thì mềm mại biết bao, khi thì dạt dào mãnh liệt. Hoặc cũng có thể nói ngược lại rằng, chị ru người yêu như ru chính mình qua những đêm lạc, đêm đau, đêm cất bài ca và đêm trào nước mắt "Em ru như thể dỗ dành chính em". Trong những bài thơ chị dùng những hình ảnh thật sinh động để nói về muôn kiểu lời ru, những từ nhiều gợi mở như "leo, bò, trườn, nghịch, chơi, chọc ngoáy, va chạm,... " . Mạnh mẽ vô vàn ấy thì đôi khi chị vẫn mang những trở trăn, yếu mềm. Những câu hỏi tự hỏi mình hỏi người để cho nỗi niềm vẫn dâng trào không nguôi. Tự biện bày yêu và tự trao chuốt giấc mộng rất bình thường.

"Em giờ nhòa nhạt lung linh/ Chỉ còn sẹo - lỗi dáng hình tàn xuân", "dẫu quá cũ dẫu xém già" để rồi "Anh cứ nhắm mắt chẳng cần nhìn đâu"  hay "Ru nhau cho trọn đêm này/ Mai kia mốt nọ lá bay kiếp người ". Trong chị là nhiều cung bậc cảm xúc của người phụ nữ khi yêu, rất nồng nàn nhưng cũng đôi lúc lo lắng vẩn vơ, sợ chưa được đẹp lòng người yêu và cũng vội vàng trước thời gian, sợ như bông hoa sớm nở tối tàn, một tình yêu "yêu cuồng sống vội " có khi gào xé, cuồn cuộn, có khi mong manh vì những suy tư. Dằn xé như vậy nhưng đôi khi chính chị cũng có những hồ nghi, dứt khoát, muốn sống trọn giây phút rồi mai này ra sao cũng được. " Ru anh chẳng hẹn sum vầy/ Quay lưng là chốt lại ngày lãng quên", "Ru anh cạn tiếng từ bi/ Còn lại đêm với lâm ly bóng tàn".  Một tâm tình của "quỷ sứ, hồ ly" mà bất cần. Những giây phút tưởng chừng nổi loạn, bất chấp nhưng cũng rất rạch ròi, cứng rắn "Có khi một tiếng ru lành/ Cũng làm hoa nở trên cành vô ưu".

Khi người ta yêu  quá nhiều sẽ trở nên muốn có tất cả của người ấy. Ấy vậy mà tác giả chỉ "mượn" chứ không xem là của riêng mình. Đã mượn thì phải trả. Và với một tình yêu mãnh liệt như thế để chấp nhận việc được rồi mất, có rồi không như hư vô thì chính người phụ nữ ấy phải trải qua bao nhiêu đau thương, bao nhiêu xa xót, tủi buồn để điên cuồng hiến dâng và buông bỏ khi rời đi. Để không nặng sâu hai từ mãi mãi mà chỉ là tùy duyên. Chị đã muốn mượn bờ vai để "xé nghiền nỗi đau", mượn một vòng tay để "qua lúc rối bời", rồi lại mượn chỗ tựa lưng để "nương nhau lúc tận cùng nỗi đau", hay là ánh mắt cười, một cái nắm tay, ngay cả bước chân, một bờ ngực gầy. (Mượn chân người bước qua cầu/ Rồi chia xa đến bạc đầu vẫn ơn). Ban đầu chỉ là "mượn" giống như rằng sẽ trả nhưng đằng sau đó như  là rất nhiều sự tham lam khi muốn tất cả của người thương, từ cái hữu hình đến vô hình, từ bên ngoài đến bên trong cơ thể, rất bạo dạn, rất đàn bà. Yêu là yêu hết thảy thuộc về người trong đó có cả quê hương, bến sông, con sông Trà. Tình yêu của chị là "em không biết yêu giả vờ, em không biết yêu gian manh" nên "Em còn một chút đàn bà/ Để dành cho những thật thà đàn ông".

Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.

Sau tất cả những vồ vập, yêu ghen, hoài nghi hay hờ hững thì chị chỉ cần một sự chân thật từ cơ thể lẫn trái tim,  "chỉ cần biết tựa đời nhau lúc cần".

"Tự say thương nhớ bất thường/ Rồi lăn ra chỗ chiếu giường ngủ mê/ Qua cơn cười cợt như hề/Cấn trừ nỗi nhớ / Em thề / Quên anh"

Tôi đã có cảm giác tôi đọc một tự truyện, nghe về tình yêu tinh khôi, đầy ước mơ, kiêu hãnh, đầy đớn đau, thổn thức. Từng chút thước phim cứ ồ ạt. Và người đàn bà ấy đã dám yêu, dám quên, dám cầm dám bỏ. Chị ấy đã yếu mềm trong thể xác đàn bà, và mạnh mẽ trong tâm hồn đã trải qua muôn vàn bi ai thì thứ còn lại vẫn là niềm khát khao chân thật cho nhau.

"Ru anh mộng vấp mộng vờn

Tựa con sóng vỗ chập chờn mà đau"

"Trăm năm thề thốt dư thừa / Một ngày thương đủ cũng vừa trăm năm ".

L.T.L

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm