TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên

Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-03-13 05:21:09
mail facebook google pos stwis
683 lượt xem

LÊ TUYẾT LAN

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.

 

Nhà thơ Đoàn Thị Diễm Thuyên

 

"Ngậm lời ru,

Ru mẹ ngày xưa

Bà đưa mẹ đến

Giấc trưa say nồng

Để nay mẹ bế mẹ bồng

Mẹ ru con cả

Tiếng lòng thương yêu" ( Lời ru)

 

Khi nhắc đến lời ru người ta thường nghĩ ngay đến tình mẫu tử, tình bà cháu vì vốn dĩ đó là những người tạo ra lời ru, gắn bó lời ru thông qua những câu ca dao, bài hát mỗi ngày để cho bao đứa trẻ được say giấc nồng. Lời ru theo từng người lớn lên, chất chứa bao yêu thương, thắm đượm bao gửi gắm. Ấy vậy mà, với tập thơ "Ru say mượn tình, Ru tình mượn nhau" của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên cho ta một sự thấu cảm khác về lời ru đó là "Ru Anh".

 

Toàn tập thơ theo thể thơ lục bát với 34 bài "Ru Anh" và 30 bài thơ "Mượn" mà tác giả đã mượn tất cả những gì thuộc về người mình yêu như cái lẽ dĩ nhiên khi người ta đang nồng nàn say đắm. Có những bài thơ bốn câu, tám câu, mười hai, hai mươi hai câu... Tôi tin tất cả những gì ngắn dài ấy là cả sự thổn thức của một trái tim da diết, nhiều nhạy cảm và khát khao chân thật.

Tôi đã thắc mắc nhiều khi đọc thấy từ "ru" và được lập lại đều đặn 34 bài thơ, có những câu như "à ơi " quen thuộc và nối liền nhau liên khúc ca. Như trong Kinh Thánh có câu: "Người phụ nữ là chiếc xương sườn của người đàn ông". Từ thuở xa xưa, người phụ nữ luôn là người "đứng sau" theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng với người chồng, người yêu và bị những điều phong kiến ràng buộc, từng quy tắc giam cùm. Và khi xã hội phát triển, thì hiện tại người phụ nữ vẫn một số nơi, một số lĩnh vực khía cạnh cuộc sống vẫn đã và đang đấu tranh giành cái quyền lợi công bằng cho mình. Và từ "Ru" theo tôi lại là lời của người mẹ dành cho con mình bằng tâm tư tình cảm thiêng liêng ngọt ngào. Một vị trí cho nhiều hơn nhận, cao nhiều hơn thấp. Nhưng có lẽ không phải đặt vào vị cao thấp, trước sau, không khép nép rụt rè mà đầy quyết đoán.  Tôi đoán rằng, chị muốn mượn cái tình cao đẹp, hy sinh, bao dung, cái sự ngọt ngào tha thiết nhất để dành cho người chị yêu thương. Mà trong đó có sự bảo bọc, tựa nương, thấu hiểu. Từ đầu chị cũng nói rằng "Em ru là để anh say/ Anh vùi vào mộng, anh ngây vào tình". Cái khát khao của người phụ nữ muốn người đàn ông thương mình sâu sắc, đậm đà dẫu thời nào cũng vậy. Nên từng câu thơ tuông chảy như dòng suối khi thì uốn cong, khi thì đổ ào ạt, khi thì mềm mại biết bao, khi thì dạt dào mãnh liệt. Hoặc cũng có thể nói ngược lại rằng, chị ru người yêu như ru chính mình qua những đêm lạc, đêm đau, đêm cất bài ca và đêm trào nước mắt "Em ru như thể dỗ dành chính em". Trong những bài thơ chị dùng những hình ảnh thật sinh động để nói về muôn kiểu lời ru, những từ nhiều gợi mở như "leo, bò, trườn, nghịch, chơi, chọc ngoáy, va chạm,... " . Mạnh mẽ vô vàn ấy thì đôi khi chị vẫn mang những trở trăn, yếu mềm. Những câu hỏi tự hỏi mình hỏi người để cho nỗi niềm vẫn dâng trào không nguôi. Tự biện bày yêu và tự trao chuốt giấc mộng rất bình thường.

"Em giờ nhòa nhạt lung linh/ Chỉ còn sẹo - lỗi dáng hình tàn xuân", "dẫu quá cũ dẫu xém già" để rồi "Anh cứ nhắm mắt chẳng cần nhìn đâu"  hay "Ru nhau cho trọn đêm này/ Mai kia mốt nọ lá bay kiếp người ". Trong chị là nhiều cung bậc cảm xúc của người phụ nữ khi yêu, rất nồng nàn nhưng cũng đôi lúc lo lắng vẩn vơ, sợ chưa được đẹp lòng người yêu và cũng vội vàng trước thời gian, sợ như bông hoa sớm nở tối tàn, một tình yêu "yêu cuồng sống vội " có khi gào xé, cuồn cuộn, có khi mong manh vì những suy tư. Dằn xé như vậy nhưng đôi khi chính chị cũng có những hồ nghi, dứt khoát, muốn sống trọn giây phút rồi mai này ra sao cũng được. " Ru anh chẳng hẹn sum vầy/ Quay lưng là chốt lại ngày lãng quên", "Ru anh cạn tiếng từ bi/ Còn lại đêm với lâm ly bóng tàn".  Một tâm tình của "quỷ sứ, hồ ly" mà bất cần. Những giây phút tưởng chừng nổi loạn, bất chấp nhưng cũng rất rạch ròi, cứng rắn "Có khi một tiếng ru lành/ Cũng làm hoa nở trên cành vô ưu".

Khi người ta yêu  quá nhiều sẽ trở nên muốn có tất cả của người ấy. Ấy vậy mà tác giả chỉ "mượn" chứ không xem là của riêng mình. Đã mượn thì phải trả. Và với một tình yêu mãnh liệt như thế để chấp nhận việc được rồi mất, có rồi không như hư vô thì chính người phụ nữ ấy phải trải qua bao nhiêu đau thương, bao nhiêu xa xót, tủi buồn để điên cuồng hiến dâng và buông bỏ khi rời đi. Để không nặng sâu hai từ mãi mãi mà chỉ là tùy duyên. Chị đã muốn mượn bờ vai để "xé nghiền nỗi đau", mượn một vòng tay để "qua lúc rối bời", rồi lại mượn chỗ tựa lưng để "nương nhau lúc tận cùng nỗi đau", hay là ánh mắt cười, một cái nắm tay, ngay cả bước chân, một bờ ngực gầy. (Mượn chân người bước qua cầu/ Rồi chia xa đến bạc đầu vẫn ơn). Ban đầu chỉ là "mượn" giống như rằng sẽ trả nhưng đằng sau đó như  là rất nhiều sự tham lam khi muốn tất cả của người thương, từ cái hữu hình đến vô hình, từ bên ngoài đến bên trong cơ thể, rất bạo dạn, rất đàn bà. Yêu là yêu hết thảy thuộc về người trong đó có cả quê hương, bến sông, con sông Trà. Tình yêu của chị là "em không biết yêu giả vờ, em không biết yêu gian manh" nên "Em còn một chút đàn bà/ Để dành cho những thật thà đàn ông".

Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.

Sau tất cả những vồ vập, yêu ghen, hoài nghi hay hờ hững thì chị chỉ cần một sự chân thật từ cơ thể lẫn trái tim,  "chỉ cần biết tựa đời nhau lúc cần".

"Tự say thương nhớ bất thường/ Rồi lăn ra chỗ chiếu giường ngủ mê/ Qua cơn cười cợt như hề/Cấn trừ nỗi nhớ / Em thề / Quên anh"

Tôi đã có cảm giác tôi đọc một tự truyện, nghe về tình yêu tinh khôi, đầy ước mơ, kiêu hãnh, đầy đớn đau, thổn thức. Từng chút thước phim cứ ồ ạt. Và người đàn bà ấy đã dám yêu, dám quên, dám cầm dám bỏ. Chị ấy đã yếu mềm trong thể xác đàn bà, và mạnh mẽ trong tâm hồn đã trải qua muôn vàn bi ai thì thứ còn lại vẫn là niềm khát khao chân thật cho nhau.

"Ru anh mộng vấp mộng vờn

Tựa con sóng vỗ chập chờn mà đau"

"Trăm năm thề thốt dư thừa / Một ngày thương đủ cũng vừa trăm năm ".

L.T.L

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm