TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại

Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-05-30 16:37:33
mail facebook google pos stwis
456 lượt xem

ĐOÀN ÁNH DƯƠNG

Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.

 

Ảnh minh họa. Nguồn internet

 

Sự phát triển của lí thuyết dịch thuật đương đại ngày càng chứng minh rõ ràng vai trò quan trọng của văn học dịch và hoạt động dịch văn học trong cấu trúc tổng thể của nền văn học. Trong tiểu luận Văn học dịch trong đa hệ thống văn chương Itamar Even-Zohar đã đưa ra một đề xuất lí thuyết quan trọng về việc cần nghiên cứu văn học dịch như là bộ phận của nền văn học đích, cùng cách thức mà nó kiến tạo hạng mục trong đa hệ thống văn chương bản địa. Quan niệm này có được sự hồi ứng tri thức đáng kể của các nhà nghiên cứu của khoa học xã hội và nhân văn trên thế giới góp phần thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của hướng tiếp cận đa hệ thống (còn được biết đến với tên gọi lí thuyết phức hệ) trong nghiên cứu văn học và văn hóa do Even-Zohar chủ trương. Ở Việt Nam, bên cạnh việc chuyển dịch các công trình tiêu biểu của Even-Zohar, đã có các nghiên cứu nhiều gợi mở về thực tiễn văn học từ cách tiếp cận này. Với khả năng đem lại một cách thức khảo tả mang tính lịch sử và cấu trúc về (vai trò của) văn học dịch trong đa hệ thống văn chương như vậy, khi rọi ánh sáng vào thực tiễn văn học Việt Nam từ sau năm 1975, nhất là từ công cuộc Đổi Mới năm 1986, hướng tiếp cận đa hệ thống theo đó không chỉ góp phần mô tả hệ thống và khách quan lịch sử dịch văn học và văn học dịch mà hơn thế, còn giúp hình dung các quy tắc nghệ thuật của đa hệ thống văn chương nhìn từ hoạt động dịch, truyền dẫn và giao thoa hệ thống ở Việt Nam đương đại.

 

1. Vai trò của văn học dịch trong việc định hình văn học Việt Nam hiện đại

Nền văn học Việt Nam hiện đại được viết bằng chữ quốc ngữ khởi sinh ở giao thời cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX là hệ quả của hành động dịch, khi theo sau sự xâm lược của thực dân Pháp, mảnh đất này đã vượt ra ngoài đường biên khu vực Đông (Nam) Á để hiện diện trong mạng lưới giao lưu văn hóa toàn cầu. Một hệ thống các giao thoa thành hình dựa trên các hành động dịch và truyền dẫn đã khảm nên bức tranh văn học mới. Ở đó, thông qua chuyển dịch sang chữ quốc ngữ, nền văn học hiện đại có sự góp mặt của cả văn học cổ truyền dân tộc bằng chữ Hán và chữ Nôm, văn học nước ngoài (chủ yếu là văn học Pháp, Trung Quốc và Nhật) và cả văn học quốc ngữ mới theo mẫu hình Âu Tây. Tác động của việc truyền dẫn cũng làm thay đổi phong cách ngôn ngữ văn chương, khiến thơ cũ thất thế trước Thơ Mới, kịch hát nhường chỗ cho kịch nói, và nhất là ở văn xuôi, bạch thoại thay thế cho văn ngôn. Tất cả làm nên tính đại chúng của văn chương, khẳng định vai trò xã hội của văn nghệ sĩ trí thức. Từ một lĩnh vực đặc tuyển dành cho số ít người, văn chương thành ra một lĩnh vực phổ thông đại chúng, và theo đó, văn chương không chỉ chuyên chú vào những giá trị từ chương và luân lí mà còn hướng tới những nhu cầu giải trí và ý thức hệ. Hiện diện văn chương trở thành hiện diện xã hội. Giao thoa hệ thống đã thay đổi căn bản cấu trúc nền văn học thông qua hoạt động dịch văn học cùng sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong đa hệ thống văn học Việt Nam. Từ đó, nó kéo văn chương vào trung tâm của các hoạt động đấu tranh vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội ở Việt Nam thuộc địa.

Thành công của Cách mạng tháng Tám cùng viễn kiến về một nền văn nghệ mới khiến cách thức tiếp cận văn học dịch và hoạt động dịch văn học thay đổi theo quan điểm của chính quyền cách mạng. Ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa, di sản dịch thuật văn học phương Tây trước năm 1945 bị loại trừ như chính bộ phận văn học lãng mạn được hình thành theo mẫu hình phương Tây hiện đại. Đứng trên lập trường cộng sản, văn học dịch ở miền Bắc trong thời chiến chủ yếu đến từ các nền văn học Liên Xô, Trung Quốc và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa. Cố nhiên, nó cũng đến từ một bộ phận nhỏ văn học “tiến bộ” của các nền văn học tư sản phương Tây, nơi bộ phận văn học này tự nhiệm phơi bày và tố cáo tội ác của chủ nghĩa tư bản và các chế độ xã hội hình thành trên tinh thần tư bản chủ nghĩa. Ngược lại, ở nửa phía Nam, hoạt động dịch thuật diễn ra sôi động, phong phú và đa dạng trong các lựa chọn nền văn học nguồn, dù dòng chính vẫn đến từ thế giới tư bản phương Tây. Việc tham chiếu tới mô hình dân chủ phương Tây khiến cho các lĩnh vực xuất bản và báo chí và giáo dục phát triển đa dạng ở các đô thị lớn. Sự khác biệt quá rõ ràng về mặt ý thức hệ này đã tạo thành thách thức cho việc hòa nhập di sản văn chương và học thuật ấy vào không gian văn hóa và văn học định hướng xã hội chủ nghĩa sau ngày thống nhất đất nước. Dù càng ngày người ta càng nhận thức được nhu cầu chính đáng cùng những cơ hội và lợi ích mà việc chuyển dịch di sản này vào đời sống đương đại đem đến cho một Việt Nam thống nhất đang tham dự sâu rộng vào quá trình toàn cầu hóa.

 

2. Văn học dịch trong đa hệ thống văn hóa xã hội Việt Nam sau chiến tranh

Bước ngoặt xã hội hóa hoạt động văn hóa và xuất bản từ Đổi Mới đã làm thay đổi triệt để tính chất và diện mạo nền văn học kế hoạch, tập trung và bao cấp trước đó. Xuất bản “bung ra”, như một từ khóa phổ biến đương thời, để đáp ứng nhu cầu và thị hiếu đa dạng của công chúng văn học nghệ thuật. Đối diện với một thế giới rộng lớn thời mở cửa và đặt chân lên một đời sống đang biến đổi chóng vánh, người ta có nhu cầu vin vào cái cũ để vững tin và tự vệ nhưng đồng thời cũng mở lòng hơn với cái mới. Nhờ đó, văn học dịch lại tái xuất khá rầm rộ. Có ba mô hình dịch thuật văn học chính yếu hiện diện ở Việt Nam lúc này. Thứ nhất, có thể gọi tên là “mô hình truyền thống”, dịch thuật và tiếp nhận văn học Pháp. Mô hình này duy trì và mở rộng các giá trị, các điển phạm văn học Pháp, vốn đã được biết đến, phát huy ảnh hưởng và để lại dấu ấn sâu đậm trong văn hóa văn học Việt Nam hiện đại. Thứ hai, có thể gọi tên là “mô hình chuyển tiếp”, dịch thuật và tiếp nhận văn học phi chính thống (các tác phẩm có tính chất xét lại, phản tư, “sám hối” hoặc từ các dòng bàng thống) của văn học Nga và Trung Quốc xã hội chủ nghĩa. Mô hình này xuất phát từ các hấp lực và tác động xã hội mạnh mẽ mà bộ phận văn học phi chính thống đem lại cho đời sống văn hóa tinh thần ở các nước xã hội chủ nghĩa sở tại đang tìm hướng cải cách để vượt qua khủng hoảng. Khi được chuyển dịch sang Việt Nam đang tiến hành công cuộc Đổi Mới, nó thích ứng với tính chính trị chuyển đổi đương thời, đem đến những gợi ý, những trải nghiệm gián tiếp giúp bạn đọc hình dung về cơ hội và thách thức, nỗi đau và niềm hân hoan mà cuộc cải cách xã hội tất yếu đang diễn ra trước mắt. Thứ ba, có thể gọi tên là “mô hình tham chiếu”, dịch thuật và tiếp nhận các nền văn học châu Mĩ (Mĩ Latin và văn học Anh - Mĩ). Mô hình này hướng tới những giá trị, những thực hành chưa biết tới. Ở đó, văn học huyền ảo Mĩ Latin đem đến một kinh nghiệm hậu thực dân trong việc kiến tạo bản sắc văn hóa dân tộc và ý thức nghệ thuật của nhà văn, đem đến cho nhà văn Việt Nam một gợi ý để thoát li vòng kim cô phản ánh nghệ thuật, mở ra cánh cửa để bước vào thế giới của hư cấu nghệ thuật. Cũng như vậy, các nền văn học Anh - Mĩ đem đến gợi dẫn về vai trò và vị trí của tính giải trí, của văn hóa đại chúng, của sự tương liên giữa văn học với các loại hình nghệ thuật khác. Sự giao thoa giữa các mô hình dịch thuật và giữa dịch thuật với các thực hành văn hóa khác, đã góp phần quan trọng trong việc thay đổi quan niệm về thực tại và vị trí của tính giải trí trong văn học, theo đó, định hình tính chất của văn học Đổi Mới và Đổi Mới văn học ở Việt Nam.

 

3. Văn học dịch trong đa hệ thống văn hóa xã hội Việt Nam toàn cầu hóa

Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á. Quốc tế hóa văn học thời toàn cầu hóa đang dần trở thành xu thế chủ yếu của văn học Việt Nam từ những năm đầu thế kỉ XXI. Ở đấy, văn học dịch ở trung tâm của hoạt động giao lưu văn học đã dần hiện lên như yếu tố quyết định sự hình thành mô hình văn học mới Việt Nam chứ không phải ý thức về dân tộc thời thuộc địa, các chính sách trong các cuộc chiến tranh, hay ý thức về vai trò công chúng của nhà văn những năm hậu chiến khủng hoảng cùng những năm Đổi Mới cam go thử thách ý chí toàn dân tộc. Quan trọng hơn, hoạt động dịch thuật giờ đây lại thuộc về khu vực tư nhân, gắn với sự trỗi dậy của các công ti cổ phần hoạt động trên lĩnh vực kinh doanh văn hóa và truyền thông. Chỉ có một phần rất nhỏ các dịch phẩm đến từ chủ trương của các think tank hay các tổ chức có sự bảo trợ của nhà nước. Có sự hình thành một thế hệ dịch giả chuyên nghiệp, sống bằng nghề dịch như cách nhà văn sống bằng nghề viết, cùng đông đảo dịch giả không chuyên - đến từ sự phổ biến của hệ thống giáo dục quốc tế và sự phát triển của đào tạo ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục phổ thông và chuyên nghiệp - tham gia dịch thuật vì yêu thích văn học nghệ thuật. Tất cả góp phần dân chủ và dân sự hóa hoạt động dịch văn học và văn học dịch.

Khi không còn sự ước thúc của tính chính trị chuyển đổi như mấy chục năm cuối thế kỉ XX, bước sang thế kỉ XXI, dịch văn học bước vào con đường thênh thang của giao lưu và chuyển giao văn hóa, của sự trỗi dậy và ý thức về vai trò quan trọng của công nghiệp văn hóa trong cơ cấu kinh tế quốc dân. Các mô hình dịch thuật mới sinh thành theo cùng sự chuyển biến của đời sống và chính sách. Có thể nhắc tới một số mô hình dịch thuật phổ biến. Lợi nhuận nằm ở trung tâm của mô hình thứ nhất, có thể gọi tên là “mô hình best-seller”, gắn với văn học đương đại, hướng vào các tác phẩm được dán nhãn bán chạy trên các tờ báo lớn, các trang bán sách chuyên nghiệp, chiếm top rank trên các trang đánh giá và phê bình sách uy tín, bất chấp tác phẩm đó thuộc loại hình nào, hư cấu hay phi hư cấu, văn học tinh hoa hay văn học đại chúng. Sự vinh danh nằm ở trung tâm của mô hình thứ hai, có thể gọi tên là “mô hình giải thưởng”, vừa gắn với đời sống văn học đương đại vừa lần lại lịch sử các giải thưởng danh giá hàng đầu. Văn học dịch Việt Nam tiếp cận nhanh nhạy và khá hệ thống với các tác giả và tác phẩm thuộc loại này, từ Nobel văn chương cho tới Goncourt, Fémina, Renaudot, Grand prix du roman de l’Académie française trong văn học Pháp ngữ, Booker, Man Booker và International Booker trong văn học Anh ngữ, Miguel de Cervantes trong văn học Tây Ban Nha ngữ, cùng hàng loạt giải thưởng danh giá đến từ các nền văn học lớn như National Book, Pulitzer, Neustadt của Mĩ, Whitbread (Costa Book) của Anh và Ireland, Giller của Canada, Miles Franklin của Úc, Deutscher Buchpreis của Đức, Mao Thuẫn, Lão Xá và Lỗ Tấn của Trung Quốc, Akutagawa và Naoki của Nhật… và các tổ chức văn học uy tín trên thế giới, như Women cho tác phẩm hư cấu dành cho nhà văn nữ của Anh, Hugo dành cho tác phẩm khoa học viễn tưởng và giả tưởng, Edgar dành cho văn học trinh thám, Newbery, Carnegie và Hans Christian Andersen cho văn học thiếu nhi… Những giá trị cổ điển/ điển phạm nằm ở trung tâm của mô hình thứ ba, là mô hình tiếp biến từ các “mô hình truyền thống” và “mô hình tham chiếu” từ thời Đổi Mới, hướng tới việc chuyển dịch và giới thiệu các tác phẩm mẫu mực, làm nên bản sắc và tinh hoa văn học của đất nước mà tác phẩm thuộc về nói riêng và của cả gia tài văn học thế giới nói chung. Bạn đọc Việt Nam được biết tới những đỉnh cao, những đại diện, những biểu hiện độc đáo của các nền văn học trên thế giới là nhờ vào hoạt động dịch thuật ở mô hình này. Cuối cùng, những trải nghiệm cá nhân nằm ở trung tâm của mô hình thứ tư, có thể gọi tên là “mô hình gặp gỡ”, hướng tới việc chuyển dịch những tác phẩm bất kì đem lại cảm hứng, sự sẻ chia, sự cần thiết, niềm vui, và cả việc xoa dịu nỗi buồn của dịch giả. Hoạt động dịch thuật trước nhất là dành cho cá nhân dịch giả, cùng đó và sau đó mới là sự lan tỏa đến bạn đọc. Hai mô hình thứ ba và thứ tư cùng các xu hướng dịch thuật khác làm đa dạng văn học dịch và hoạt động dịch văn học. Song mô hình thứ nhất và mô hình thứ hai mới là các mô hình định hình tính chất và diện mạo của văn học dịch và dịch văn học ở Việt Nam hơn hai thập niên đầu thế kỉ XXI. Sự cộng hưởng giữa thị trường, danh tiếng và thị hiếu đám đông nhấn mạnh vào tính đại chúng và tính toàn cầu của văn học khi văn học dịch đi vào trung tâm và kiến tạo hạng mục trong đa hệ thống văn chương Việt Nam đương đại.

 

4. Kết luận

Tóm lại, nửa thế kỉ tính từ ngày đất nước hòa bình thống nhất, văn học dịch và dịch văn học ở Việt Nam đã phát triển qua ba chặng đường. Mười năm đầu sau hậu chiến ghi nhận nỗ lực vượt thoát khủng hoảng đời sống xã hội của văn học dịch khi nó lặng lẽ đem đến những giá trị cổ điển của văn học thế giới qua khe cửa hẹp của chính sách xuất bản bị bóp nghẹt bởi các khó khăn về kinh tế, và lập trường ý thức hệ. Mười lăm năm tiếp theo, trong không khí chuyển đổi sục sôi mà Đổi Mới mang lại, văn học dịch chuyển mình và hình thành các khuynh hướng, các mô hình dịch thuật. Từ “truyền thống” đến “chuyển tiếp” và “tham chiếu”, văn học dịch nới rộng kinh nghiệm thẩm mĩ cho văn học Việt Nam, đem đến cho nhà văn và bạn đọc Việt Nam những trải nghiệm nghệ thuật mới, hàm chứa trong đó nhiều năng lượng sáng tạo và cả những thôi thúc cách tân văn học nghệ thuật. Sang thế kỉ XXI, Việt Nam gia nhập quỹ đạo toàn cầu hóa, giao lưu văn hóa rộng mở theo đó khiến cho văn học dịch và hoạt động dịch văn học càng có nhiều cơ hội phát triển. Văn học dịch chiếm giữ vị trí trung tâm hệ thống văn học Việt Nam. Giao thoa hệ thống nhờ sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch không chỉ tăng khả năng tương tác giữa văn học với các loại hình nghệ thuật khác ở trong nước mà còn kết nối văn học Việt Nam vào mối quan tâm chung của nền văn học toàn cầu. Sự nổi lên của tính đại chúng và tính toàn cầu như một hệ quả của việc văn học nước ngoài du hành tới Việt Nam năm mươi năm qua, vì vậy, có thể xem như cơ hội và thách thức cho văn học Việt Nam, khi đối diện với tính chính trị bản sắc và chủ nghĩa dân tộc toàn cầu, để định vị tiếng nói và bản sắc địa phương trong một thế giới thường trực biến đổi.

Đ.A.D

Nguồn: Văn Nghệ Quân Đội

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm