TIN TỨC

Đọc “Phút 89”: Minh Đan đào được một kho báu vô giá nơi hồn thơ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-11-27 16:22:41
mail facebook google pos stwis
3023 lượt xem

NGUYỄN KIÊN GIANG

Trong Túc cầu giáo, nói đến “Phút 89” là nói đến sự gay cấn tột đỉnh, nói đến những tình huống – những pha bóng kinh điển làm người xem mãn nhãn, nói đến sự xuất hiện của kỳ tích tạo nên những cung bậc cảm xúc ấn tượng cho khán giả. Một cuộc lội ngược dòng ngoạn mục của nhà vô địch để bảo vệ thành công ngai vị của mình, hay một tân vương mới lên ngôi chăng?

“Phút 89” – điều gì đã mở ra? Đó là một “khu vườn Eden huyền thoại xanh ngời” – nơi hương sắc nở rộ, nơi con người từ chối những thánh ân để chọn cho mình một con đường chông gai hơn, nhưng “người” hơn. Thiện ác phân ranh từ đó! Tôi không nói về bóng đá, tôi đang nói về một tập thơ – tập thơ có tên “phút 89” của nữ sĩ Minh Đan.

Ra sông đãi cát tìm vàng

mang về một gánh ngổn ngang thơ vè

(Thay tựa…)

Minh Đan bắt đầu “Phút 89” của mình như vậy. Điều trớ trêu chăng, khi người “đãi cát tìm vàng” lại mang về những thứ “phi vật chất” như “thơ vè”? Không, đó là một cách tự cười mình thay cho đời sống này, nhưng nó cũng ẩn chứa chính cái cười bao dung của tác giả đối với sự lệch lạc của đời sống khi cho rằng thơ ca là phù phiếm. Là “thơ” hay “vè” xin nhường cho độc giả định đoạt. Đối với Minh Đan, nữ sĩ “đãi cát tìm vàng” và đã mang về được “một gánh” vàng. Vàng đấy! Thơ ca là vàng đấy, tin tôi hoặc tôi sẽ làm cho bạn tin! Còn đối với tôi, Minh Đan đã đào được một kho báu vô giá nơi hồn thơ của nữ sĩ, nó nằm đây – trong “Phút 89” này.

Minh Đan sử dụng rất nhuần nhuyễn và uyển hoạt các thể thơ truyền thống cũng như tự do đương đại. Tuy vậy, Lục bát biến thể vẫn là “tuyệt kỹ trấn môn” của cô, thi pháp này vẫn chiếm phần quan trọng trong “Phút 89” (hơn 1/3 số thi phẩm). Ai chê Lục bát là cũ, là lỗi thời thì dù có hàm hồ tôi cũng phải phán ngay: anh/chị không làm được thơ Lục bát hay nên nói thế! Lục bát là cái hồn vía của dân tộc, để nó phù hợp hơn với thi cảm đời sống hiện đại, thi sĩ cũng nên làm mới nó bằng nhiều cách và Lục bát biến thể đã được tạo nên. Chúng ta xem những câu sau: đời choàng giông/ bão lên vách/ em ngoan cường phơi/ ngọc thách gió sương/ mùa chưa xa/ lơ thơ/ cuồng/ hoa rụng rụng/ rêu phong tường/ đìu hiu… (Phơi) Cách vắt dòng của những câu thơ trên tựa như sự phối hợp giữa Lục bát và Tân hình thức – một thể thơ rất mới với chúng ta. Nó tạo nên tiết tấu, nhịp điệu mới mẻ cho Lục bát mà vẫn giữ được cái hồn đầy nhạc tính của Lục bát. Ngôn từ vừa cổ phong vừa hiện đại, lại lắt léo thanh bằng trắc đã tác tạo những hình ảnh, gam màu đặc sắc. Nếu đọc lên thành tiếng đoạn thơ trên, nhất là những âm tiết sau: mùa chưa xa/ lơ thơ/ cuồng/ hoa rụng rụng / rêu phong tường/ đìu hiu hẳn bạn sẽ thấy thú vị, thấy những gì mà thanh âm ngôn từ có thể mang lại. Điều này “bất khả thuyết” hoặc giả tôi chưa đủ khả năng để nói rõ với bạn về nó: sự tác động kỳ lạ của những âm tiết ngôn từ lên tâm hồn chúng ta, đó là điều cốt lõi của những câu thần chú trong truyền thuyết chăng? Cứ thế, Lục bát biến thể “tung hoành” theo mức độ và cách thức khác nhau đến “phút 89” và chung cuộc, làm nên những sắc thái khác nhau, đa thanh đa sắc. Như, trong “lạc quan khâu lại những bồi hồi đã qua”: ước gì mưa rớt đầy sông/ buồn trôi theo nước/ tôi bồng vui đi/ tặng ai kia đóa nhu mì/ nụ cười nhú nắng/ bờ mi khép hờ… hay trong “ngày lạ!”: nắng cong cong/ sóng lơn cơn/ bếp than/ hạ nhiệt / mưa hờn ghé vai… Đối với hai thi phẩm vừa kể, ta còn thấy xuất hiện những hình ảnh rất sáng tạo, xinh xắn như: “tôi bồng vui đi”, “nụ cười nhú nắng”, “nắng cong cong”, “sóng lơn cơn”… Một góc kiêu kỳ của khu vườn đã mở ra.

Bên cạnh đó, các thi pháp hiện đại cũng có thể xem là ưu thế của Minh Đan. Thi pháp này đã xuất hiện không ít trong các tập thơ trước của Minh Đan như “Ngày không bọt”. Nhưng đến “Phút 89” nó trở thành thi pháp chủ đạo, được nữ sĩ sử dụng thuần thục và phù hợp với giai điệu của cảm xúc tạo nên hiệu ứng cộng hưởng cho hiệu quả biểu đạt của thi phẩm.

Ta thấy trong “Ngai tình”: anh đặt môi hôn lên mắt gió/ tiếng thở căng mùi da non/ em lên ngai từ mũi tên/ bầu sữa thơm ngày thai nghén. Ở đây, một trường liên tưởng không xác định được đường biên đã hình thành: anh, môi hôn, mắt gió/ tiếng thở, mùi da non/ em, lên ngai, mũi tên/ bầu sữa, ngày thai nghén, với những ngôn từ mà hàm nghĩa của nó bị rung chuyển bởi một sự tạo tác hàm nghĩa mới, không hề có sự khoanh vùng khi hình thành mà vẫn nằm trong một trường hấp dẫn bởi trung tâm của nó: ngai tình! Có vẻ như cách thức này xém tác tạo nên một trường siêu tưởng như những thi phẩm hiện đại điển hình khác, nhưng không hẳn vậy, nên nó không làm người đọc có cảm giác quá xa lạ. Trong nhiều thi phẩm khác ở “Phút 89” như: “Trước & sau giờ tận thế”, “Quan sát”… chúng ta sẽ bắt gặp những thi pháp rất độc đáo và thú vị mà tôi sẽ đề cập ở phần bên dưới. Song, điều đáng trân trọng, đáng tán dương ở “Phút 89” nặng ký hơn nhiều so với hình thức nghệ thuật xây dựng nên nó. Đó chính là nội dung tư tưởng của thi phẩm.

Vẫn có những niềm riêng: Khát khao của người con gái về tình yêu, có khi là những tâm sự dịu dàng mà da diết: trời đất thăm thẳm/ trăng bao đêm trở giấc lạnh miền sương/ cô đơn em cuồng réo tên anh/ vớt vát môi tình vừa kịp khép… ban mai nắm hờ vai áo/ non non chuyện phiêu bồng (Tình ơi!); hay dữ dội, cháy bỏng: triệu triệu lần khao khát đến bên anh/ như nàng Kiều trong đêm khuya vượt rào thưa tìm Trọng/ giữa mùa trăng, em muốn cúc áo này nới lỏng/ ngọn gió lùa vào thơm mát thịt da… rồi đớn đau bởi những điều hữu hạn giữa tử và sinh, giữa những rào cản đã cũ kỹ trong quan niệm già nua của xã hội: cọc tìm trâu có nghĩa lý gì a (!?) / bao nghiệt ngã cứ nặng oằn lên tóc… nhưng sức sống của tình yêu chân thành, của tuổi thanh xuân tràn trề sinh khí đã hiên ngang lên tiếng cho sứ mệnh “phải sống đẹp”: nhưng sức sống mỗi phút giây bừng trỗi/ những vui buồn ngày tháng cứ hồng hoan (Em muốn…), “Quyền lực trái tim” sau những so sánh với những quyền lực siêu phàm đã khẳng định: em thách thức: còn ai say đắm hơn anh?/ quyền lực lặng im quy phục/ chiến thắng thuộc về tình yêu chân thật/ khu vườn Eden huyền thoại xanh ngời. Có lẽ, Minh Đan đã nói thay cho thân phận nữ nhi những khát khao về tình yêu chân thật, về hạnh phúc giản đơn tự thủa xa xưa đến giờ: “anh và em”, không ai có thể và cũng không ai muốn cản ngăn điều đó – dù những bất trắc vẫn thường tìm đến, bằng hình ảnh rất nữ tính: em đàn bà từ anh - thường trực/ những khát khao không thể đặt vòng (Không thể đặt vòng).

Hay sự suy nghiệm về bản thân như một niềm kiêu hãnh nên có: kiêu hãnh mặc đời ghẹo trêu xấu hổ/ hôm nay em ngước lên cao (Thị Nở vùng lên), rồi về nghề như một sự tự nhắn nhủ cần thiết: ta tranh đấu nghĩa là không uốn bút/ soi lương tâm bình thản nghiệp đời/ phút huy hoàng ngửa mặt hót vui/ bầu trời ấy ngút màu xanh cao vợi (Ngẫm). Đó là những ý thơ đẹp bởi lột tả thành công cái đẹp. Điều đáng quý là Minh Đan cũng ý thức được vẻ đẹp đó của mình và không cần phải vờ che giấu!

Khác với những tập thơ trước, ở “Phút 89”, đề tài thế sự đã kiến tạo nên một cấu thành vững chắc, một kiến trúc nổi bật trong quần thể kiến trúc đẹp. Đó là tấm lòng của nữ sĩ với những cảnh đời không may! Với một em bé bên lề cuộc sống bôn chen: gặm tờ polymer xương xẩu/ tôi náu cơn đói vào mẩu bánh mì vừa mới ra lò/ bên kia đường một em bé lấm lem/ hơi thở xem chừng đứt quãng/ tôi nâng đời em bằng/ mẩu bánh mì không nhưn, không vị/ em ngấu nghiến cơn đói hoành hành, nuốt trộng giấc mơ thi sĩ/ nắng tháng tư lênh loáng mắt cười, và Minh Đan thấy cái thấy của một tấm lòng – nữ sĩ nhận lại: dạ dày tôi bỗng dưng… phấn khích/ ru ngủ mùa phượng vĩ cầm hơi (Đi qua cơn đói), cái mùa phượng vĩ cầm hơi đó “ngon” thật! ấm lòng thật!

Hay với những cô gái “lấy chồng xứ lạ”: sông quê lặng lẽ / nhạn về phố mới/ tương lai trong ánh mắt không màu? ánh mắt không màu ấy thật buồn, tương lai không màu ấy thật buồn, những thân phận buồn – quê hương xa ngút cũng buồn vậy! Rồi với cả một thiếu nữ xinh đẹp đội lốt quỷ (hay quỷ trong lốt cô gái?) thành “ma làng” gây tội nghiệp tày đình, thiên địa bất dung cũng được nữ sĩ nhìn bằng cái nhìn độ lượng và nguyện mong cho con ma ấy một cái kết có hậu: những nấm mồ xanh cỏ/ không còn hoen ố/ bầu trời/ tươi tỉnh ngày trong/ cũng từ ấy, em hồi sinh… Ở vị trí người “quan sát”, nữ sĩ đã thổn thức cho những mảnh ghép dễ vỡ trong đời sống này: là thân phận kẻ ăn mày, phu quét đường, em bé mồ côi, người mẹ già gánh hàng rong, đó không phải sự quan sát đơn thuần mà còn là sự nhập vai, sự hóa thân trải nghiệm – một thủ pháp rất phức tạp để nhìn rõ lòng mình, lòng người: hàng giờ liền vẽ bức thỉnh cầu/ đánh thức lặng im mở tiếng/ ai thản nhiên thốt lời phỉ báng/ xé lòng mùa thiên di… Trong “cong cong thế giới mạng”, “đời trinh nữ”… và nhiều bài khác chúng ta sẽ thấy được những tấm lòng như vậy. Đó là tấm lòng của Minh Đan đối với đất nước! Qua nỗi lòng tri ân của nữ sĩ đối với cuộc chiến tranh vệ quốc thế kỷ 20 trong một chiều về thăm địa đạo Củ Chi: chuyến về nguồn bỗng rơm rớm ướt/ lịch sử cài then - tức ngực/ trở lại phố đông chật chội bóng ngày. Và lột mặt bọn quan tham: sống quanh mình bao người ton hót/ lời nịnh thần nghe dễ lọt tai/ bản lĩnh nào soi đáy lòng tham?/ vơ vét sạch kho tàng có thể/ mặc ai oán, ai than, ai kể (Nằm mơ thấy bao chửng khóc). Hay thái độ căm ghét “gã hàng xóm xấu tính” tự bao đời nay vẫn rắp tâm mưu toan nuốt trọn láng giềng, chà đạp hàng xóm: bởi túi tham, gã nấp dưới ao sâu/ rào đường lưỡi bò chắn ngang cột mốc/ bứng lấy chén cơm đời tôi khó nhọc/ quen cướp giật rồi, mặt gã tỉnh không, và xót xa, căm giận trước sự nhu nhược với kẻ tham bạo: căm giận mình yếu đuối trước hung hăng. Đó là những suy nghiệm của Minh Đan về cõi nhân sinh man man những điều khó tỏ! Có khi thấy như “Mê lộ” không lối thoát: số phận lỏng đinh/ chìa khóa lương tâm tráo trở/ những linh hồn neo thân tạm bợ/ chạy rong khắp ngõ diễn trò, rồi tự nhủ: thôi, nép bên đường nhỏ hẹp/ nhẹ lòng đi giữa hừng đông. Trong cuộc sống bon chen những mưu toan khác chi “Bàn cờ”, những khiếm khuyết trắng đen điên đảo: ô trắng không khuyết mà khuyết cả tên mình/ bọc dưới lớp áo thêu mây dệt gió/ sự thật thôi không bỏ ngỏ/ đừng tự hoan ca phù phiếm nhọc nhằn, nữ sĩ nhắn nhủ: sống vui như cánh cò thoát tục dưới trăng…

Minh Đan ưu tư sâu sắc về sự chân thành: khi nào người ta – ít nhất là – thành thật với chính mình? đợi đến khi tận thế chăng?! có lẽ, còn một nơi khác: đi thẳng vào restroom soi gương xem có phải là mình/ chỉ ở đây con người không tàng hình/ không đóng vai chính vai phụ cho vở diễn/ đưa tay lên ngực trái thấy tim còn nhúc nhích/ biết mình sống sót/ sau giờ tận thế maya (Trước & sau giờ tận thế). Đây là một bài có thi pháp khá độc đáo: sự hôn phối giữa phương pháp giả định huyễn tưởng và phân tâm học tạo nên hiệu ứng hư thực xen kẽ, nhưng vẫn rất tách bạch trong nhận thức.

Trong tập thơ này, “Phút 89” chỉ là cái tựa, không hề xuất hiện trong thơ. Dĩ nhiên, đó là tâm ý của Minh Đan, có thể trùng với cái ý tôi đã nói ở trên, có thể không. Nhưng tôi thấy rằng, “Phút 89” còn là một “thời điểm”, một “bước ngoặc” rất ý nghĩa với Minh Đan. Đó là một bước chuyển hóa của cái đẹp trong thơ Minh Đan, một thành tựu đáng tự hào của cô.

“Phút 89” và những tập thơ như vậy sẽ khiến một ai đó nói rằng “đáng lo cho thế hệ thơ trẻ Việt và thơ Việt trong tương lai” thấy rằng họ đã lo quá sớm, tôi tin thế!

Đó là cảm nhận của cá nhân tôi. Thôi thì, mời độc giả tự cảm nhận và đừng quên lời nhắn nhủ của tác giả: nhặt nhạnh vụn vặt quẳng đi/ bỗng dưng cây đẹp như khi đâm chồi (Đánh thức), cùng với lời mời mà bạn sẽ nhận được khi bước vào khu vườn này: rót nhau rượu lòng thành thật/ môi tình đừng uống mông lung.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm