TIN TỨC

Đọc tác phẩm “Âm thanh của cánh” của Thiên Di

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-01-05 10:11:01
mail facebook google pos stwis
1346 lượt xem

NGUYÊN BÌNH

Sau bao nhiêu năm đọc thơ Thiên Di, tôi (Nguyên Bình) có thể quả quyết rằng, tâm hồn của tác giả tập thơ ÂM THANH CỦA CÁNH (ATCC) sở hữu tố chất thi sĩ, tố chất của những nhà thơ sáng tác theo phong cách chủ nghĩa lãng mạn (Romanticism) đích thực.

Xin nói thêm một chút, đó là một phong trào văn học, nghệ thuật và triết học phản ánh những cảm xúc, tâm tư sâu lắng, tự do sáng tạo, với các tác giả tiêu biểu như William Wordsworth, Lord Byron, John Keats, Percy Bysshe Shelley. Họ luôn tìm tòi khám phá cái tôi cá nhân, biểu đạt cá tính và tự do, đề cao trí tưởng tượng và sáng tạo, coi đó là nguồn sức mạnh của nghệ thuật.

Chủ nghĩa lãng mạn đã có ảnh hưởng sâu rộng đến thơ ca và nghệ thuật Việt Nam từ những thập niên 30 của thế kỷ XX, và Thiên Di ngoài thiên bẩm tài năng thi ca lại được kế thừa tài sản quý báu này.

Đọc thơ Thiên Di ta luôn cảm nhận được thi sĩ bộc bạch mà như không nói, như sông trôi mà nước không động, hiện hữu mà như vô hình, nốt nhạc lảnh lót lại hóa ra bụi vàng thinh không. Theo tôi, đó là tự do của thơ, là hơi thở của tâm thức:

Rồi một hôm hiên vắng
Đánh rơi giọt thời gian
Lạc dăm ba nốt nhạc
Bài ca hoá bụi vàng

(Một hôm tôi ghé lại)

Tư duy triết học luôn ẩn hiện trong từng ý thơ, là ánh sáng lấp lánh, là bóng tối vĩnh hằng của cô đơn, lạc loài, là trạng thái mất mát của con người trong dòng chảy nghiệt ngã của thời gian, dù đó là hạt cát im lìm hay là tiếng chim họa mi hót. Thậm chí nhân bản cũng có cảm giác như bị đảo lộn, biến hóa và con người chỉ bấu víu vào chân lý trong vùng suy tưởng ở đáy sâu của ý thức:

Có bao nhiêu hạt cát
Hoá pha lê long lanh
Có bao nhiêu hạt cát
Lăn lăn cuộc đời mòn

(Hạt cát)

Thi sĩ phát hiện ra rằng, bên dưới ánh sáng của ngọn đèn lại là bóng tối, thực tại luôn là “lời biện minh tránh sự thật” nghiệt ngã. Con người của thế kỷ trước, bây giờ và mai sau sẽ mãi là như vậy chăng? Có lẽ tác giả hoài nghi mọi thứ sẽ như thế và lên tiếng cảnh báo cho lương tri:

lời biện minh tránh sự thật
rơi lọt thỏm
bởi nơi tối tăm của thế giới
là dưới ngọn đèn!

(Tiếng họa mi hót)

Vậy thì nhân cách xã hội lấy đâu mà vĩ đại, mà kiên định, khiến thi sĩ có lúc đánh rơi niềm tin, tôi cũng cựa quậy chiếc lồng chật chội của cuộc đời này. Chỉ còn trái tim thơ, trái tim tự do lên tiếng, đó chính là sứ mệnh của thơ:

lòng người nhỏ bé vì những điều cỏn con
trong chiếc lồng chật
con chim lặng câm

[Không Hót]

Đi sâu khảo sát vào thi pháp Thiên Di trong nhiều thi tập và ở ATCC, ở đâu ta cũng nhận ra nhà thơ dụng ngôn tự nhiên, hài hòa, chọn lọc, vững chắc. Chừng như thi ngôn và cảm xúc đã hòa quyện vào nhau nên thơ từ tâm thức bước ra thế giới bên ngoài tự nhiên như ánh sáng, như “âm thanh của cánh” thiên thần. Hay nói cách khác, nhà thơ như một họa sĩ đã thấu cảm sự hòa quyện của sắc màu, một nhạc sĩ biến tấu các nốt nhạc thành thục tạo ra một bản hòa âm tự nhiên. Từ việc nắm bắt những tinh túy của ngôn từ, bút pháp thơ Thiên Di không câu nệ thể loại, truyền thống hay hiện đại, mượt mà hay gai góc.

Đi dọc hành trình thơ, ta thấy có những bài  thơ 5,6,7,8 chữ với vần điệu mượt mà lãng mạn. Cũng không ít những bài thơ thể hiện phong cách hiện đại,  mới mẻ, đầy sức sống thời đại. Ở đó, thi sĩ tự do bộc lộ cái tôi, cái nhìn xuyên suốt thế giới bên trong và bên ngoài:

Hoàng hôn của mùa đông
những cánh tay khẳng khiu vẽ nền trời hiu vắng
than hồng sắp chết
ân tình sót lại dăm lá vàng rơi

(Hoàng hôn mùa đông)

Sức mạnh của thơ tự do là ý từ luôn song hành với tư duy mới, táo bạo, phân liệt, phát tiết thành những tuyên ngôn cá nhân, thể hiện khát vọng đẹp, nhân bản. Ta thấy Thiên Di thể hiện những nét đẹp này trong nhiều bài thơ:

em muốn thay đổi bản đồ thế giới
đốt cháy mọi khoảng cách
giữa chúng ta
em muốn giấu anh trong trái tim em
như một kho báu
khoá cửa
hủy bỏ những liên kết

(Tình yêu đêm nay)

Tác giả cũng dễ dàng giải phẩu tâm linh, nhìn vào tận đáy thẳm của khát vọng, lục tìm trong ngổn ngang ký ức, gắn kết nội tâm với thế giới bên ngoài. Thế cho nên thơ trở nên gần gủi như hơi ấm, bản ngã như thèm muốn, bao la như vòm sao và trở về với sự đợi chờ của tình yêu muôn thuở:

Đêm còn trẻ
như mắt con gái,
nhìn xa xăm tím phía chân trời
đêm…
của vạn ngôi sao
những cái ôm của lụa là mềm và ấm
Đêm …
gương móng vuốt
xé em ra
trong thăm thẳm mù loà
khao khát
em ngước lên bầu trời
tự hỏi...
ngôi sao chờ đợi ai?

(Ai nói cho em... Nơi trái tim anh ở)

Tôi không cho phép mình bỏ qua yếu tố nữ tính và những chuyện tình yêu luôn hiện diện trong thơ thi sĩ Thiên Di. Đó là góc trời lãng mạn của ước mơ hạnh phúc, đó là bước chân dìu dặt, là chung rượu cạn, phím đàn rêu phong, là lời thì thầm của lứa đôi. Ta sẽ bắt gặp trong ATCC hình ảnh các đôi tình nhân mọi thế kỷ, mọi thời đại trong nhiều bài thơ của nàng thơ xinh đẹp:

Bỏ quên góc quán quen ngồi
Ly cà phê đợi một lời... dở dang
Bỏ mình soi bóng sương tan
Bỏ chung rượu cạn phím đàn rêu phong

(Đêm thơm)

Ôi, tuyệt diệu biết bao những đêm như đêm nay, nghe tiếng thở từ trong bức tranh cổ, nghe như giọt sương lay động dưới ánh trăng vàng:

Một đêm trăng đổ dát vàng lá
Lau nhẹ giọt sương tay gió hiền
Đất trời tình tự êm đềm quá
Rụng ánh trăng thu sáng bên thềm…

(Trăng thu sáng bên thềm… )

Và đây, phải chăng là lời ru vang vọng từ lâu đài tình ái trong một chiều serenade:

Sông mây
Dìu dịu êm êm
Gót hài thu đến
Bên thềm lá rơi
Cúc vàng em
Nụ cười tôi
Tinh khôi ta bước xuống đời.
Dâng hương…

(Hồn nhiên em bước xuống đời)

Tình yêu không chỉ là hạnh phúc, mà còn chưa đựng bao điều ray rứt, dằn xé, oán hờn, nỉ non. Những câu thơ tình chinh phục tôi và có lẽ cũng thấm vào đường tm các bạn:

người yêu của tôi
là một giấc mơ
anh ấy như cái bóng
là thiên thần hay quỷ dữ?
kéo tôi vào sâu thẳm…
…đêm khấp khểnh
đêm vật vờ hư thực
đêm trở thành nô lệ giấc mơ

(Người tôi yêu)

Thi nhân, đến một lúc nào đó mặc nhiên sở đắc thiền thị đến với tâm tư và thơ trở nên an nhiên như người dừng chổi lắng nghe sự biến chuyển của chiếc lá vàng:

Ta quét lá vàng
Ngày lên xanh biếc
Niệm xưa luyến tiếc
Mây thản nhiên bay

(Nắng hồng)

Chẳng biết dừng lại ở khúc sông nào trên giải trường giang ÂM THANH CỦA CÁNH. Tôi xin trích dẫn nhà thơ Võ Thị Như Mai viết cho người bạn của mình: “Đó là chuyến du hành cảm xúc qua âm thanh của cánh, cánh hoa nở và rụng, đến cánh buồm chở ước vọng, từ cánh đồng ngát hương, cánh rừng lộng gió đến cánh cửa của thanh âm và cảm xúc đều được nàng thả hồn mình vào để dệt nên những vần thơ mơ mộng, lãng mạn…”

Chúc thi sĩ Thiên Di sung mãn để miệt mài viết tiếp những vần thơ bất tuyệt.
 

Bà Rịa, ngày 20 tháng 9 năm 2024

N.B

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm