TIN TỨC

Đọc thơ của một luật sư

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-30 23:37:14
mail facebook google pos stwis
257 lượt xem

BÙI VIỆT MỸ*

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn)  - Tôi đã được đọc tập thơ đầu tay của Thái Hưng với cái tên rất thơ: ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024; Rồi một số bài in chung trong tập: Bằng lăng tím lối Mễ Trì cùng với nhiều tác giả khác, lại đôi khi thấy thơ anh trên báo, chí, đậm nhất là tờ Thời báo Văn học nghệ thuật giới thiệu chân dung tác giả. Đọc qua, chợt có cảm nhận nhẹ nhàng, song ngẫm ngợi, thấy chất nhân tình thấm đẫm, cuốn hút. Chắc chắn phải là giọng của người đã từng đi qua nhiều mùa thu xao xác lá...

 

Nhà thơ Thái Hưng

 

Nguyễn Thái Hưng nguyên là sinh viên Khoa Văn - Đại học Tổng hợp Hà Nội, sau anh còn học Luật, làm Kiểm sát viên lâu năm. Là Luật sư, nên chất thơ mang mạch nguồn của những quan hệ cuộc sống đa chiều. Đôi khi anh nhặt ra quãng ngơi nghỉ chọn lọc lấy chất lãng mạn của hiện tượng và sự việc mà suy tưởng sâu, thành lời.

Còn nhớ ở ngay tập đầu tay, Thái Hưng đã quan niệm về thơ khá sâu nặng. “Thơ tìm ta trú ngụ”, mà ta thì nghèo, xót xa đến trắng ngọn cỏ, người có thể chết còn thơ thì không. Điều này với Thái Hưng cũng chỉ được rút ra, cô đặc lại từ kinh nghiệm xương máu của người cha:

Con ơi!

Thơ không tắt thở

Thơ không cần vuốt mắt như bố

Thơ hóa thạch ở lòng người!

Thơ vận người. Nhưng người - đến lúc nào đó - nhất định rồi sẽ nhắm mắt, từ giã thế gian, còn thơ thì vẫn cứ thức chong chong cùng tuế nguyệt.

Bạn đọc ngày nay - nhiều người rất thích lối sáng tác thiên về bố cục và coi đó như một cách đổi mới, bứt phá. Thái Hưng nằm trong trường hợp ấy, ham chất chứa nội dung mà nhẹ đi độ bóng bảy cần thiết? Câu thơ hàm xúc, đầy đặn một tâm trạng, Tâm trạng đến từ lòng chân thành. Chúng ta đọc, thực sự thấy có một sức hấp dẫn tự nhiên - như thơ tự bản năng vậy.

LÁ THAY MÙA là tập thơ thứ hai của anh. Vẫn một cái tên thơ nhè nhẹ như thế. Qua Thu, sang Đông rồi mùa Xuân sẽ đến. Và quả nhiên ta gặp một tập thơ mới này với tiết khí ấm áp, dịu êm hơn. Hay nói cách khác, nếu ở tập thơ trước, hồ nước thiếu vẻ xanh trong còn nguyên đấy thì hôm nay nó mượn gió mà bay dần lên. Giống như phận quả, vắt lấy từ khô khát mà thơm.

 

Tập thơ Lá thay mùa của nhà thơ Thái Hưng

 

Chúng ta dễ nhận được ở đây một nỗi buồn man mác phận người. Nỗi buồn ấy như nó được chọn làm tư tưởng chủ đạo theo dọc tập thơ. Đó như là quê bây giờ, là lá và chim, là đất và đá, là sông và suối, là gió và nắng là ngày và đêm, và hơn thế nữa, là bồng lai và trần đời, là nỗi đau và sự mòn mỏi...cứ thế, nó đan xen vào nhau, nó bỡn cợt và giận dỗi. Tuy vậy, Thái Hưng không buông bỏ theo những quan niệm đã cũ mà nhìn về mối quan hệ gốc theo một hướng lạc quan, như anh nói với rau Răm khi Cải đã bay về trời:

 ...Lời ru ngọt ánh trăng gieo

Cũng thôi! Mặc với trời cao, gió ngàn

Lệ buồn thở ấy chứa chan

Làm sương đầu núi mát sang lá gầy

Giữ cho mình chút đắng cay

Có cay, cay hết kiếp này - Thôi em!

Bởi vì, với cải thì nên là: Về giời, gió rủ thì đi? Nhân gian ở nữa, lỡ thì đấy em! Theo cái lôgic này, chúng ta thấy có một hướng luận đề khá thú vị, rằng phận gái cần chọn lấy cơ hội để “trao thân gửi phận”, chứ kén chọn mãi rồi sẽ lại ‘lỡ thì” …mất thôi!

Có nhiều chiều hướng khác nhau, song loạt bài nặng về thân phận là trội nhất trong thơ Thái Hưng. Có lẽ trong đời sống xã hội muôn màu muôn vẻ thì tích lại trong tâm thức anh chính là những mảnh đời gian nan, oan khuất, đau thương…Hiểu để đồng cảm, hay là chính bản thân Luật sư cũng sống trong hoàn cảnh đó thì mới tìm ra lối thoát cho từng mảnh vỡ khác nhau. Vậy nên, Thái Hưng - dù viết về điều gì hay viết như thế nào thì rốt cuộc vẫn cứ phảng phất cái thân phận khốn khó của con người. Tôi cũng đồng nhất với nhận định của Nhà thơ, nhà phê bình văn học Phạm Đình Ân là: “thơ Thái Hưng có tình yêu thuần phác nam - nữ, có tình quê hương thôn dã, có hình ảnh người mẹ, có thế sự đời thường và cả tầm quốc gia”. Bạn đọc không thể không tập trung sự chú ý đến bốn bài về mẹ đậm đà, sâu lắng tình yêu thương, ba bài về người chị mến thương ngày đêm, xót xa về người chồng là liệt sĩ - cùng những bài khác đề cập thân phận người phụ nữ. Bài Mẹ tôi có những khổ thơ xúc động:..Nào buồng cau, cơi trầu hay mớ lạc/ Nhịp hải hà quay quắt rổ nan tre./Gió nồm nam võng trĩu cả trưa hè/ Buổi chợ muộn nắng hong vàng nón lá/ Đêm bão giật nhà không còn mái nữa/ Chái bếp nghèo mẹ ấp ủ che con”.

Thái Hưng khá tinh tế trong việc sử dụng hình ảnh và nhịp điệu để làm mềm hóa những cụm từ gồ ghề. Có lẽ ở đây không có sự cố ý nào trong cách sắp đặt mà tự nó cứ dồn nén và bộc lộ tự nhiên như người gieo trồng có nghề thôi. Những câu, những đoạn thơ hay, lấp lánh ở khá nhiều bài như:

Nhóm bài tình quê hương, đất nước:

… Ừ quê đấy, mấy mùa chưa về nữa

Mới mơ thôi, sóng lúa đã quanh nhà

Và cây táo vãi trời hoa xuống ngõ

Bạc đầu rồi con nhớ lắm…quê xưa.

(Là Quê đấy)

Mùa thu để lá bơ vơ

Câu thơ che mãi vẫn chưa kín người

Xin đừng rơi nữa lá ơi

Buồn thu không lá …sầu người lỡ yêu.

(Lá rơi).

Trăm năm trăng khuyết, núi mòn

Lúa đồng mẹ hát như còn ngậm sương.

(Cõng Mẹ đi chơi)

Theo lẽ thường, Thái Hưng tất nhiên dịch chuyển trạng thái đúng bản ngã của mình. Anh nhìn sâu vào từng ý nghĩ với sự chuyển động của nó. Cái hồn ở bên trong một thực thể sẽ trôi về phía nào, tìm chỗ trú ngụ nào là tùy theo ý thức của mỗi con người chứ không phải “vật tự nó” đặt không đúng chỗ. Ví như với một phù điêu thiếu nữ đơn lẻ kiểu “nữ thần” ở biển thì: Hải Tiến chiều thu biển vắng/ Sóng xô bờ đá vô hồi/ Thiếu nữ mình trần vẫn đứng/ Bên bờ vời vợi đơn côi. Và để rồi: Lại sắp thêm mùa đông nữa/ Vắng người, biển bỏ ra khơi/ Thiếu nữ mình trần vẫn đứng/ Gió thương u ú… về trời. Có phải cái “u ú” kia là ý thức của nhà thơ trước không gian thiếu nữ ấy? cái u ú vô tích sự của trời đất được tạo ra để gắn với cái gọi là niềm thương! Tưởng chừng đều vô hồn cả, nhưng rồi, một điều tích cực của thân phận đã cứu rỗi:

Đó là em gác canh hay chờ đợi

Đó là tôi tìm đến hay bỏ đi

Ngôi sao đỏ cháy bùng trên mặt cỏ

Ngọn đèn em, hoa lửa đỡ tim mình.

Chỉ có điều, những muốn như thế mà nào được thế! Trong tôi bỗng hiện lên câu thơ Thái Hưng viết về chính chị dâu mình là vợ liệt sĩ: Trái tim thương chín cả trời/ Khát khao như lửa mà đời biết đâu/ Một mình cằm cặm đêm thâu/ Câu thơ như tượng Mị Châu cụt đầu…Và nhẽ ấy, cuối cùng, như bao người đời vậy, anh tìm đến một miền xa hơn - nơi có tiếng chuông và bóng Bồ đề - cho dù anh cũng không muốn đưa nhân vật của mình đến đó. Có người từng đợi mà hóa đá/ Đâu phải chờ người dóng - mới ngân nga!- câu thơ tượng hình, tượng thanh, viết thế mới khéo.

Sau tất cả, tất cả cảm thông, nhường nhịn cho gia đình, anh em, bạn bè, cho quê hương đất nước, Thái Hưng muốn nhận về cho mình một phần, dù chỉ là chút hy vọng nhỏ thôi:

Đêm No-en

Anh không được cùng em

Cũng chẳng cần Cha rửa tội

Vì tình yêu không bao giờ có lỗi

Dù em lỡ hẹn nhiều… như đêm No-en!..

Một lối viết giàu suy tưởng bằng cách sử dụng kết hợp tính ước lệ cao. Nhiều như đêm No-en - những đêm cuối năm chờ đợi ấy, năm nào cũng lỡ hẹn cả hay là chỉ có một, hai lần thôi nghĩ cũng đã nhiều lắm rồi.

Và, có một ngoại lệ rằng, tập LÁ THAY MÙA được in ra vào những ngày tháng đầu của quê hương hòa nhập theo địa giới hành chính mới. Những kỷ niệm xưa đan xen với hy vọng nhịp sống mới. Có chút vương vấn, man mác về nơi gắn bó máu thịt của mình - âu cũng là cái lẽ của thơ:

 Ừ vẫn thế quê ơi, xanh vẫn lúa

Biển Đồng Châu lồng lộng ráng mây hồng

Lại tha thiết tự hào - đây phố Hiến

Với nhãn lồng, sông Luộc, bến Triều Dương…

Những vần thơ mà chúng tôi trích dẫn trên đây, có lẽ bạn đọc cũng tự đánh giá, nhìn nhận về những gì làm nên nghệ thuật thơ Thái Hưng trong dòng mạch tư tưởng đầy chất nhân văn ấy. Chúng ta hãy cùng đọc ở thơ anh trong tập này.

Đầu Thu, 8/2025.

B.V.M

                                                                                                         

* Nhà thơ Bùi Việt Mỹ - Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội

* Nguyễn Thái Hưng

-Nhà văn Hà Nội

-Luật sư-TW Hội luật gia Việt Nam

-Tác phẩm đã xuất bản:

+ Đi qua mùa thu- NXB Hội Nhà văn -2024

+ Bằng lăng tím lối Mễ Trì -NXB Hội Nhà văn-2024 (In chung nhiều tác giả);

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm