TIN TỨC

Đọc thơ của một luật sư

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-30 23:37:14
mail facebook google pos stwis
510 lượt xem

BÙI VIỆT MỸ*

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn)  - Tôi đã được đọc tập thơ đầu tay của Thái Hưng với cái tên rất thơ: ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024; Rồi một số bài in chung trong tập: Bằng lăng tím lối Mễ Trì cùng với nhiều tác giả khác, lại đôi khi thấy thơ anh trên báo, chí, đậm nhất là tờ Thời báo Văn học nghệ thuật giới thiệu chân dung tác giả. Đọc qua, chợt có cảm nhận nhẹ nhàng, song ngẫm ngợi, thấy chất nhân tình thấm đẫm, cuốn hút. Chắc chắn phải là giọng của người đã từng đi qua nhiều mùa thu xao xác lá...

 

Nhà thơ Thái Hưng

 

Nguyễn Thái Hưng nguyên là sinh viên Khoa Văn - Đại học Tổng hợp Hà Nội, sau anh còn học Luật, làm Kiểm sát viên lâu năm. Là Luật sư, nên chất thơ mang mạch nguồn của những quan hệ cuộc sống đa chiều. Đôi khi anh nhặt ra quãng ngơi nghỉ chọn lọc lấy chất lãng mạn của hiện tượng và sự việc mà suy tưởng sâu, thành lời.

Còn nhớ ở ngay tập đầu tay, Thái Hưng đã quan niệm về thơ khá sâu nặng. “Thơ tìm ta trú ngụ”, mà ta thì nghèo, xót xa đến trắng ngọn cỏ, người có thể chết còn thơ thì không. Điều này với Thái Hưng cũng chỉ được rút ra, cô đặc lại từ kinh nghiệm xương máu của người cha:

Con ơi!

Thơ không tắt thở

Thơ không cần vuốt mắt như bố

Thơ hóa thạch ở lòng người!

Thơ vận người. Nhưng người - đến lúc nào đó - nhất định rồi sẽ nhắm mắt, từ giã thế gian, còn thơ thì vẫn cứ thức chong chong cùng tuế nguyệt.

Bạn đọc ngày nay - nhiều người rất thích lối sáng tác thiên về bố cục và coi đó như một cách đổi mới, bứt phá. Thái Hưng nằm trong trường hợp ấy, ham chất chứa nội dung mà nhẹ đi độ bóng bảy cần thiết? Câu thơ hàm xúc, đầy đặn một tâm trạng, Tâm trạng đến từ lòng chân thành. Chúng ta đọc, thực sự thấy có một sức hấp dẫn tự nhiên - như thơ tự bản năng vậy.

LÁ THAY MÙA là tập thơ thứ hai của anh. Vẫn một cái tên thơ nhè nhẹ như thế. Qua Thu, sang Đông rồi mùa Xuân sẽ đến. Và quả nhiên ta gặp một tập thơ mới này với tiết khí ấm áp, dịu êm hơn. Hay nói cách khác, nếu ở tập thơ trước, hồ nước thiếu vẻ xanh trong còn nguyên đấy thì hôm nay nó mượn gió mà bay dần lên. Giống như phận quả, vắt lấy từ khô khát mà thơm.

 

Tập thơ Lá thay mùa của nhà thơ Thái Hưng

 

Chúng ta dễ nhận được ở đây một nỗi buồn man mác phận người. Nỗi buồn ấy như nó được chọn làm tư tưởng chủ đạo theo dọc tập thơ. Đó như là quê bây giờ, là lá và chim, là đất và đá, là sông và suối, là gió và nắng là ngày và đêm, và hơn thế nữa, là bồng lai và trần đời, là nỗi đau và sự mòn mỏi...cứ thế, nó đan xen vào nhau, nó bỡn cợt và giận dỗi. Tuy vậy, Thái Hưng không buông bỏ theo những quan niệm đã cũ mà nhìn về mối quan hệ gốc theo một hướng lạc quan, như anh nói với rau Răm khi Cải đã bay về trời:

 ...Lời ru ngọt ánh trăng gieo

Cũng thôi! Mặc với trời cao, gió ngàn

Lệ buồn thở ấy chứa chan

Làm sương đầu núi mát sang lá gầy

Giữ cho mình chút đắng cay

Có cay, cay hết kiếp này - Thôi em!

Bởi vì, với cải thì nên là: Về giời, gió rủ thì đi? Nhân gian ở nữa, lỡ thì đấy em! Theo cái lôgic này, chúng ta thấy có một hướng luận đề khá thú vị, rằng phận gái cần chọn lấy cơ hội để “trao thân gửi phận”, chứ kén chọn mãi rồi sẽ lại ‘lỡ thì” …mất thôi!

Có nhiều chiều hướng khác nhau, song loạt bài nặng về thân phận là trội nhất trong thơ Thái Hưng. Có lẽ trong đời sống xã hội muôn màu muôn vẻ thì tích lại trong tâm thức anh chính là những mảnh đời gian nan, oan khuất, đau thương…Hiểu để đồng cảm, hay là chính bản thân Luật sư cũng sống trong hoàn cảnh đó thì mới tìm ra lối thoát cho từng mảnh vỡ khác nhau. Vậy nên, Thái Hưng - dù viết về điều gì hay viết như thế nào thì rốt cuộc vẫn cứ phảng phất cái thân phận khốn khó của con người. Tôi cũng đồng nhất với nhận định của Nhà thơ, nhà phê bình văn học Phạm Đình Ân là: “thơ Thái Hưng có tình yêu thuần phác nam - nữ, có tình quê hương thôn dã, có hình ảnh người mẹ, có thế sự đời thường và cả tầm quốc gia”. Bạn đọc không thể không tập trung sự chú ý đến bốn bài về mẹ đậm đà, sâu lắng tình yêu thương, ba bài về người chị mến thương ngày đêm, xót xa về người chồng là liệt sĩ - cùng những bài khác đề cập thân phận người phụ nữ. Bài Mẹ tôi có những khổ thơ xúc động:..Nào buồng cau, cơi trầu hay mớ lạc/ Nhịp hải hà quay quắt rổ nan tre./Gió nồm nam võng trĩu cả trưa hè/ Buổi chợ muộn nắng hong vàng nón lá/ Đêm bão giật nhà không còn mái nữa/ Chái bếp nghèo mẹ ấp ủ che con”.

Thái Hưng khá tinh tế trong việc sử dụng hình ảnh và nhịp điệu để làm mềm hóa những cụm từ gồ ghề. Có lẽ ở đây không có sự cố ý nào trong cách sắp đặt mà tự nó cứ dồn nén và bộc lộ tự nhiên như người gieo trồng có nghề thôi. Những câu, những đoạn thơ hay, lấp lánh ở khá nhiều bài như:

Nhóm bài tình quê hương, đất nước:

… Ừ quê đấy, mấy mùa chưa về nữa

Mới mơ thôi, sóng lúa đã quanh nhà

Và cây táo vãi trời hoa xuống ngõ

Bạc đầu rồi con nhớ lắm…quê xưa.

(Là Quê đấy)

Mùa thu để lá bơ vơ

Câu thơ che mãi vẫn chưa kín người

Xin đừng rơi nữa lá ơi

Buồn thu không lá …sầu người lỡ yêu.

(Lá rơi).

Trăm năm trăng khuyết, núi mòn

Lúa đồng mẹ hát như còn ngậm sương.

(Cõng Mẹ đi chơi)

Theo lẽ thường, Thái Hưng tất nhiên dịch chuyển trạng thái đúng bản ngã của mình. Anh nhìn sâu vào từng ý nghĩ với sự chuyển động của nó. Cái hồn ở bên trong một thực thể sẽ trôi về phía nào, tìm chỗ trú ngụ nào là tùy theo ý thức của mỗi con người chứ không phải “vật tự nó” đặt không đúng chỗ. Ví như với một phù điêu thiếu nữ đơn lẻ kiểu “nữ thần” ở biển thì: Hải Tiến chiều thu biển vắng/ Sóng xô bờ đá vô hồi/ Thiếu nữ mình trần vẫn đứng/ Bên bờ vời vợi đơn côi. Và để rồi: Lại sắp thêm mùa đông nữa/ Vắng người, biển bỏ ra khơi/ Thiếu nữ mình trần vẫn đứng/ Gió thương u ú… về trời. Có phải cái “u ú” kia là ý thức của nhà thơ trước không gian thiếu nữ ấy? cái u ú vô tích sự của trời đất được tạo ra để gắn với cái gọi là niềm thương! Tưởng chừng đều vô hồn cả, nhưng rồi, một điều tích cực của thân phận đã cứu rỗi:

Đó là em gác canh hay chờ đợi

Đó là tôi tìm đến hay bỏ đi

Ngôi sao đỏ cháy bùng trên mặt cỏ

Ngọn đèn em, hoa lửa đỡ tim mình.

Chỉ có điều, những muốn như thế mà nào được thế! Trong tôi bỗng hiện lên câu thơ Thái Hưng viết về chính chị dâu mình là vợ liệt sĩ: Trái tim thương chín cả trời/ Khát khao như lửa mà đời biết đâu/ Một mình cằm cặm đêm thâu/ Câu thơ như tượng Mị Châu cụt đầu…Và nhẽ ấy, cuối cùng, như bao người đời vậy, anh tìm đến một miền xa hơn - nơi có tiếng chuông và bóng Bồ đề - cho dù anh cũng không muốn đưa nhân vật của mình đến đó. Có người từng đợi mà hóa đá/ Đâu phải chờ người dóng - mới ngân nga!- câu thơ tượng hình, tượng thanh, viết thế mới khéo.

Sau tất cả, tất cả cảm thông, nhường nhịn cho gia đình, anh em, bạn bè, cho quê hương đất nước, Thái Hưng muốn nhận về cho mình một phần, dù chỉ là chút hy vọng nhỏ thôi:

Đêm No-en

Anh không được cùng em

Cũng chẳng cần Cha rửa tội

Vì tình yêu không bao giờ có lỗi

Dù em lỡ hẹn nhiều… như đêm No-en!..

Một lối viết giàu suy tưởng bằng cách sử dụng kết hợp tính ước lệ cao. Nhiều như đêm No-en - những đêm cuối năm chờ đợi ấy, năm nào cũng lỡ hẹn cả hay là chỉ có một, hai lần thôi nghĩ cũng đã nhiều lắm rồi.

Và, có một ngoại lệ rằng, tập LÁ THAY MÙA được in ra vào những ngày tháng đầu của quê hương hòa nhập theo địa giới hành chính mới. Những kỷ niệm xưa đan xen với hy vọng nhịp sống mới. Có chút vương vấn, man mác về nơi gắn bó máu thịt của mình - âu cũng là cái lẽ của thơ:

 Ừ vẫn thế quê ơi, xanh vẫn lúa

Biển Đồng Châu lồng lộng ráng mây hồng

Lại tha thiết tự hào - đây phố Hiến

Với nhãn lồng, sông Luộc, bến Triều Dương…

Những vần thơ mà chúng tôi trích dẫn trên đây, có lẽ bạn đọc cũng tự đánh giá, nhìn nhận về những gì làm nên nghệ thuật thơ Thái Hưng trong dòng mạch tư tưởng đầy chất nhân văn ấy. Chúng ta hãy cùng đọc ở thơ anh trong tập này.

Đầu Thu, 8/2025.

B.V.M

                                                                                                         

* Nhà thơ Bùi Việt Mỹ - Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội

* Nguyễn Thái Hưng

-Nhà văn Hà Nội

-Luật sư-TW Hội luật gia Việt Nam

-Tác phẩm đã xuất bản:

+ Đi qua mùa thu- NXB Hội Nhà văn -2024

+ Bằng lăng tím lối Mễ Trì -NXB Hội Nhà văn-2024 (In chung nhiều tác giả);

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm