TIN TỨC

Dòng ban mai trong thơ Trần Hùng

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-11-18 15:54:43
mail facebook google pos stwis
1278 lượt xem

Mai Văn Phấn

 

Tập thơ "Mắt mắt khuya từng đàn" (NXB Hội Nhà văn, 2023) của Trần Hùng dẫn tôi vào một sớm đang tan sương, có thể ứng với bất kỳ mùa nào trong năm. Khi ấy hừng đông đã rạng, sưởi ấm cho khắp miền không gian nơi con người cùng vạn vật vừa thức dậy. Một ban mai không ngưng đọng mà dịch chuyển, cuộn chảy trong bầu không khí thanh sạch, tinh khôi. Dòng chảy ấy khai mở một ngày mới trong tâm tưởng bạn đọc, bảng lảng, đột sáng và trong suốt.

 

 

Một ly vỉa hè

Lặng im và chuyển động

Giọt giọt trên đường

        dòng dòng đen bò vào miệng cống

Vừa khóc vừa hát

Mở to trong veo đi nào

(Café vỉa hè Khâm Thiên)

 

Có thể nói, một dòng chảy lạ kỳ đã xuyên suốt tập thơ này, với tốc độ và nhịp điệu này. Nếu coi mỗi bài thơ của Trần Hùng là một cột mốc trong hành trình sáng tạo, câu hỏi đặt ra là: những đoạn chảy qua từng địa phận kia có khác nhau không? Câu trả lời là khác, dĩ nhiên khác. Khác từ kết cấu bài thơ, độ mở ánh sáng, đến kiến tạo hình ảnh, sử dụng tu từ. Mỗi đoạn chảy đều dung chứa áp lực riêng, tùy vào lưu lượng thơ. Đây là đoạn trong tập thơ có "lưu lượng" lớn, áp lực mạnh:

 

Tận cùng đường hoang mây hoang rồi

Dừng lại đi nào vó hoang ơi

Bên bờ vực sâu đầy hoa

Dòng hoa dâng dâng đỏ

Dưới vực sâu là một lâu đài

Lâu đài đầy khói

(Vào ngực)

 

Dĩ nhiên khó ước định chính xác "lưu lượng" của đoạn thơ trên, nhưng những chỉ số của nó (mây hoang, vó hoang, bờ vực, lâu đài, khói...) xuất hiện tựa những điểm sáng nhấp nháy đa bội, vẫy gọi sự tưởng tượng, gợi hình dung về một dòng chảy vô hình, cuộn xiết. Những hình ảnh thoắt ẩn thoắt hiện trong bài thơ trên cũng nhắc ta nhớ tới một trò chơi "cút bắt" trong dân gian xưa. Ở đây tâm trạng trì níu, cuốn hút của cảm xúc đã khiến người đọc không thể dứt ra khỏi văn bản, mà phải chiêm ngẫm thêm. Đây có lẽ là một thủ pháp rất ảo diệu, có phần "ma thuật" của Trần Hùng trong nghệ thuật cấu tứ, kiến tạo hình ảnh cho một số tập thơ gần đây của ông. Xin dẫn một đoạn thơ khác trong tập có cách viết tương tự:

 

Đinh

Tự nhổ khỏi tường

Cây

Tự bật khỏi đất

Cá heo từ chối sóng

Bóng người buông từ tầng cao

Rung lắc từ đâu

(Biệt sinh)

 

Lối liệt kê những hình ảnh cách xa sự tương tác giữa chúng trong một bài thơ dường như là phong cách của phần lớn những tác giả theo khuynh hướng cách tân hiện nay. Những hình ảnh ấy dịch chuyển trong không gian rộng, được nối thông với nhau bằng liên tưởng và cảm xúc mạnh của người viết, tạo một trường liên tưởng thống nhất, có chung hấp lực. Ở thơ Trần Hùng, ngoài giềng mối tôi vừa nêu, phần lớn những thi ảnh của ông như có sợi dây vô hình dẫn tới nền tảng thơ truyền thống. Sợi dây ấy không vướng vít, buộc chặt mà chỉ "dẫn tới" cái đích mà nhà thơ đặt định. Chúng xuất hiện tựa những dấu mốc chỉ đường trên con lộ thênh thang trước khi tới nhiều ngã rẽ. Cái "dấu mốc" mà tôi vừa liên tưởng trong bài thơ trên cũng chính là lát cắt, thước phim quay nhanh về một đời sống hiện đại, tiện nghi nhưng đầy bất an, sôi động và quá nhiều áp lực. Khổ thơ trên cho thấy, cái đinh quen thuộc tự nhổ ra khỏi tường, cái cây (bất kể cây gì) đang tự bật ra khỏi mặt đất. Và con người, muốn đoạn tuyệt với cội nguồn, từ bỏ thân phận, trốn chạy khỏi tổ ấm gia đình, xã hội, tìm đến cuộc sống ẩn dật, hoặc quyên sinh. Tại Nhật Bản, một cường quốc công nghiệp phát triển, người ta gọi những đối tượng như vậy là những người "bốc hơi" (johatsu). Những "johatsu" thay tên đổi họ, muốn xóa đi mọi dấu vết mà họ đã để lại trong đời sống này. Trong một đời sống xáo trộn, đổ vỡ, ngổn ngang đặt bày trong bài thơ trên, tôi thực sự bất ngờ và thán phục trước sự xuất hiện của nhân vật "Tôi" trong đoạn kết bài thơ "Biệt sinh" này của Trần Hùng.

 

Tôi như thạch sùng

                   lặng im bên những chiếc đinh

Nghe đêm vỡ từ sợi chuông rất mảnh.

 

Nhân vật "Tôi" chính là tác giả bài thơ mang thân phận mỏng manh với trái tim lớn, tự treo mình lên, rung những hồi chuông cảnh báo.

 

Trong những bài thơ có "lưu lượng" lớn, các thi ảnh thường xuất hiện trên văn bản không lâu, chỉ thoáng qua đôi lúc. Chúng tựa những con sóng nhấp nhô, hoặc thấp thoáng trong không trung rồi nhanh chóng hòa vào dòng chảy.

 

Một lát gừng

Một chút muối

Lặng lẽ trước cơm

(Sợ hơn cái chết)

 

Hay:

 

Cây cao lân tinh thân cau

Nâu nâu rơm phơi trăng thâu

Cây thu

Không lá không hoa

Vươn lên âm u

(Cây thu)

 

Đỉnh của "những con sóng nhấp nhô" mà tôi vừa dẫn tựa những nét phác thảo của bức tranh khổ lớn, gồm nhiều nét vẽ dở dang, những khoảng trống, để bạn đọc tiếp tục tự hoàn thiện nó bằng sắc màu tưởng tượng. Đặc trưng lối kiến tạo dòng chảy có "lưu lượng" lớn của Trần Hùng, theo tôi, được quy tụ trong bài thơ "Len sáng":

 

Cá hoang suối xa

Áo đen núi xa

Sương treo đầu kiếm

Đâu đó ơi

Có gì không dứt

Mỏng mảnh như tơ

Len theo mạch vào tim

Rồi trở lại

...

Tôi - căn phòng không cửa.

 

Những hình ảnh trong bài thơ trên xuất hiện tựa nghệ thuật sắp đặt hiện đại, nó nằm trong không gian ba chiều, khiến người đọc vừa là chủ thể vừa là khách thể, vừa chiêm ngưỡng sự vật bên ngoài vừa hòa mình vào những ý thơ. Sự đan xen của những "Cá hoang suối xa", "Áo đen núi xa", "Sương treo đầu kiếm" còn cho ta liên tưởng tới những nét vẽ cổ xưa, bằng nét màu tươi sáng và thanh tịnh trong tranh thủy mặc, thấp thoáng hình bóng tráng sĩ, khuôn trăng, cảnh vật... Câu thơ "Đâu đó ơi" chính là tâm điểm để kết nối những phân mảnh, hình ảnh đơn lẻ, vụn rời của bài thơ này. Câu thơ ấy tựa tiếng gọi, vang xa tới những điểm chạm của đôi bờ dòng chảy, mang lại cảm giác thân thuộc, như có thể với tay là tới được mọi vật dụng, chạm được vào niềm thương mến khôn nguôi; và, có thể nghe được từng nhịp chuyển động, hơi thở của đời sống đang biến động. Hình ảnh kế tiếp hình ảnh, không gian nối tiếp, đan cài không gian trong bài thơ trên cho thấy vẻ đẹp tâm hồn của tác giả được phô bầy, ẩn hiện, cả những nỗi niềm ẩn giấu trong đó như dần được khơi lộ.

 

Và đây là đoạn chảy với khoảng cách đôi bờ hẹp hơn, độ sâu "mớn nước" của nó cũng dễ dàng nhận biết, có thể nhìn thấy đáy nước:

 

Chữ chữ

Hút vào nếp nhăn

Trên những gương mặt

Vừa nghẹn vừa nuốt

Chữ chữ

Như tóc rối

Trong ống nước

Như mắt cá

Trong bùn

Như bulong

Như nan hoa

Xoay

(Phận chữ)

 

Trong đoạn thơ trên, khoảng cách giữa các thi ảnh và đích đến của nó dường như gần lại, nhưng vẫn nằm trong kết cấu phân mảnh, vụn rời, tạo cảm giác chênh vênh, gai góc.

 

Những thi ảnh có mối quan hệ gần, được đặt cạnh nhau, nhưng lại vươn tới những mục đích khác biệt. Đôi lúc tác giả cũng cố ý như đánh đố người đọc về cái đích mà ông muốn hướng tới, như bài thơ "Rắn xanh":

 

Nhói

Rắn xanh trong giầy

Ga rô

Ga ra

 

Như ong

Người đi rồi

 

Nhưng đa phần, ông bộc lộ rõ ý đồ của mình ngay trong từng hình ảnh cụ thể:

 

Rưng rưng lá non từ đâu về

Trên lá non một giọt sương hồng

(Sớm mùng ba)

 

Khá nhiều hình ảnh đứng gần nhau, cùng chung manh mối, được Trần Hùng kiến tạo trong tập thơ "Mắt mắt khuya từng đàn". Khoảng cách giữa những thi ảnh ấy chính là độ mở của không-thời-gian mà tác giả ước định. Đoạn thơ dưới đây tựa một khu vườn vừa mở ra, lạ lẫm mà thân quen, lao xao mà tĩnh mịch.

 

Căn nhà kia có gì

Mà vào ra như ong

Bờ trăng kia có gì

Mà chuồn kim lao xao

Thẳm sâu kia có gì

Mà bóng bóng lặng im

(Mộ trăng)

 

Trong đoạn thơ trên, Trần Hùng đã sử dụng điệp từ "bóng bóng", cũng như nhiều điệp từ khác xuất hiện trong tập thơ này, như "xoe xoe" (Nghe xoe xoe ong đen), "giọt giọt" (Giọt giọt mơ biển; Mắt nhớ giọt giọt sen xanh), "chữ chữ" (trong bài thơ Phận chữ), "bay bay" (Hoa lau bay bay xuôi đèo), "ngón ngón" (Ngón ngón buông lơi), "phơi phơi" (Phơi phơi đâu đó ơi), "ngàn ngàn" (Ngàn ngàn ngón lá)... Hay, trong chính tiêu đề tập thơ này: "mắt mắt" (Mắt mắt khuya từng đàn). Cách dùng điệp từ này được sử dụng khá nhiều trong những bài đồng dao xưa, như "Chi chi chành chành", "Nu na nu nống", "Dung dăng dung dẻ"... Bạn đọc cũng đã gặp nhiều điệp từ trong một số tập thơ của Trần Hùng xuất bản trước đây, như "Thảm thắc", "Vườn khuya" (2015), "Mùa xa" (2019)...

 

Một số bài thơ trong tập tuy không sử dụng điệp từ, nhưng âm hưởng của chúng khá gần với đồng dao, với nhịp điệu quen thuộc, kết cấu hiện đại, ngôn từ gần với dân dã mà đa nghĩa:

 

Ngày ấy lâu rồi

Phơi phơi đâu đó ơi

Bậm chân đều đều

Giăm cối thóc vỡ

Áo đơm cúc vỡ

Tre thơm ngỡ trưa

Chim động vườn khuya

(Ới a)

 

Hay:

 

Rồi mưa rung mưa rây zích zắc

Ai mang áo tơi mang áo tôi

Rồi gai lên lơn tơn lóc tóc

Sấm lên măng sấm ngồng

(Đồng dao)

 

Ngôn ngữ thơ Trần Hùng thường hướng tới sự tối giản mà hàm súc. Thi ảnh của ông khoáng hoạt, thơ mộng, thoáng ẩn thoáng hiện như những bức tranh lụa, mang cho người đọc cảm giác trong suốt, thanh thoát, hàm chứa nhiều bí ẩn cần tiếp tục giải mã. Theo cách vẽ tranh lụa hiện đại, khi màu đã khô, họa sĩ có thể rửa lụa nhiều lần cho sạch mặt lụa và để màu ngấm vào từng thớ lụa, rồi tiếp tục vẽ cho tới khi vừa ý. Trần Hùng dường như đã áp dụng thủ pháp này để tạo những hình ảnh ẩn hiện, lung linh, nhưng đầy tính hiện đại. Những câu thơ dưới đây cho thấy tác giả đã cân nhắc, lựa chọn kỹ lưỡng biện pháp tu từ, nhưng biết buông thả hình ảnh đúng lúc để tứ thơ được cất cánh, thênh thang.

 

Nghe lũ chim câm

Ngủ mê trong bóng cây đáy nước

(Chim câm)

 

Mở to nhìn về bầu trời

Tiếng khóc đâu đó cao như tiếng sếu

(Cây thu)

 

Vết thương lên lá non rồi

Mà trăng vẫn bầu đêm vắng

(Sương nữ ca)

 

Có thể nói, thủ pháp "tranh lụa" trong tập thơ "Mắt mắt khuya từng đàn" là bước đi tiếp theo của một số tập thơ mà Trần Hùng đã xuất bản trước đây, như "Thảm thắc", "Vườn khuya" (NXB Hội Nhà văn, 2015), "Mùa xa" (NXB Hội Nhà văn, 2019)... Chúng có chung một không gian thơ bảng lảng, trong trẻo và giàu nhạc tính. Nhưng "Mắt mắt khuya từng đàn" là nơi lắng đọng, có kết cấu hiện đại và tối giản hơn so với những tập thơ đã in. Nhân đây tôi muốn nhắc tới tập thơ đầu tay "Gọi Bạn" (NXB Thanh Niên, 1991) của ông. Tập thơ này có nhiều bài cách tân mạnh mẽ, với lối kiến tạo hình ảnh ấn tượng, mang cho người đọc cảm giác như nghe tiếng rạn nổ của dòng sông băng, nhọn sắc và bạo liệt. Nó dự báo giai đoạn bứt phá tiếp theo của tác giả, khác với phong cách thơ của ông bây giờ.

 

Khép lại với "Mắt mắt khuya từng đàn", tập thơ mà tác giả của nó đã bước qua tuổi "lục thập nhi nhĩ thuận" (Luận Ngữ, Khổng Tử), theo học giả Nguyễn Hiến Lê câu này có nghĩa "Sáu mươi tuổi thì thuận theo mệnh trời". Nhà thơ Trần Hùng đã đi được những chặng đường dài trên hành trình sáng tạo. Qua những cung bậc cuộc đời, thơ của ông được lọc đến trong suốt, ngày càng giản dị và gần gũi. Điều kỳ diệu này không phải ai cũng làm được. Tôi xin mượn bài thơ "Đẳng cấp" của Trần Hùng để thay cho lời kết, cũng là lời chúc mừng chân thành của tôi gửi tới ông.

 

Đâu phải lúc nào cũng hót

Đâu phải cứ hót là mê ly

Nhưng chỉ cần cất tiếng

Biết đó là họa mi.

 

Hải Phòng, 4/11/2023

M.V.P

 

 

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”
Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.
Xem thêm
Chiến tranh và chiến tranh - Tiếng kêu thương thảm khốc!
László Krasznahorkai sinh năm 1954 tại Gyula, Hungary, học Luật, có bằng Ngôn ngữ Hung và Sư phạm. Nhà văn tự do từ năm 1982. Tiểu thuyết: Sátántangó (Sasantango, 1985), Az ellenállás melankóliája (The Melancholy ơf Resistance, 1989), Az urgai fology (The Prisoner ơf Urga, 1993), Háború és háború (War and War), 1999), Északról hegy, Délróltó, Nyugatról utak, Keletról folyó (From the North by Hill, From the South by Lek, From the West by Roads, From the East by River, 2003), Rombolás és bánat az Égalatt (Destruction and Sorrow beneath the Heavens, 2004), Seiobo járt odalent (Seiobo There Below, 2008), Báró Wenkheim hazatér (The Homecoming ơf Baron Wenkheim, 2016)…
Xem thêm
Cảm nhận về tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của tác giả Trương Văn Dân
Nhận được Bàn tay nhỏ dưới mưa tác giả gởi tặng cũng hơn nửa tháng rồi, tính nhâm nhi đọc nhưng cứ lần lữa mãi. Nay có thời gian thảnh thơi tôi mới có dịp thưởng thức tác phẩm của anh.
Xem thêm
Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương
Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức
Bài viết của nhà thơ Ngô Minh Oanh về tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong
Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc,
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm