TIN TỨC

Dòng ban mai trong thơ Trần Hùng

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-11-18 15:54:43
mail facebook google pos stwis
1641 lượt xem

Mai Văn Phấn

 

Tập thơ "Mắt mắt khuya từng đàn" (NXB Hội Nhà văn, 2023) của Trần Hùng dẫn tôi vào một sớm đang tan sương, có thể ứng với bất kỳ mùa nào trong năm. Khi ấy hừng đông đã rạng, sưởi ấm cho khắp miền không gian nơi con người cùng vạn vật vừa thức dậy. Một ban mai không ngưng đọng mà dịch chuyển, cuộn chảy trong bầu không khí thanh sạch, tinh khôi. Dòng chảy ấy khai mở một ngày mới trong tâm tưởng bạn đọc, bảng lảng, đột sáng và trong suốt.

 

 

Một ly vỉa hè

Lặng im và chuyển động

Giọt giọt trên đường

        dòng dòng đen bò vào miệng cống

Vừa khóc vừa hát

Mở to trong veo đi nào

(Café vỉa hè Khâm Thiên)

 

Có thể nói, một dòng chảy lạ kỳ đã xuyên suốt tập thơ này, với tốc độ và nhịp điệu này. Nếu coi mỗi bài thơ của Trần Hùng là một cột mốc trong hành trình sáng tạo, câu hỏi đặt ra là: những đoạn chảy qua từng địa phận kia có khác nhau không? Câu trả lời là khác, dĩ nhiên khác. Khác từ kết cấu bài thơ, độ mở ánh sáng, đến kiến tạo hình ảnh, sử dụng tu từ. Mỗi đoạn chảy đều dung chứa áp lực riêng, tùy vào lưu lượng thơ. Đây là đoạn trong tập thơ có "lưu lượng" lớn, áp lực mạnh:

 

Tận cùng đường hoang mây hoang rồi

Dừng lại đi nào vó hoang ơi

Bên bờ vực sâu đầy hoa

Dòng hoa dâng dâng đỏ

Dưới vực sâu là một lâu đài

Lâu đài đầy khói

(Vào ngực)

 

Dĩ nhiên khó ước định chính xác "lưu lượng" của đoạn thơ trên, nhưng những chỉ số của nó (mây hoang, vó hoang, bờ vực, lâu đài, khói...) xuất hiện tựa những điểm sáng nhấp nháy đa bội, vẫy gọi sự tưởng tượng, gợi hình dung về một dòng chảy vô hình, cuộn xiết. Những hình ảnh thoắt ẩn thoắt hiện trong bài thơ trên cũng nhắc ta nhớ tới một trò chơi "cút bắt" trong dân gian xưa. Ở đây tâm trạng trì níu, cuốn hút của cảm xúc đã khiến người đọc không thể dứt ra khỏi văn bản, mà phải chiêm ngẫm thêm. Đây có lẽ là một thủ pháp rất ảo diệu, có phần "ma thuật" của Trần Hùng trong nghệ thuật cấu tứ, kiến tạo hình ảnh cho một số tập thơ gần đây của ông. Xin dẫn một đoạn thơ khác trong tập có cách viết tương tự:

 

Đinh

Tự nhổ khỏi tường

Cây

Tự bật khỏi đất

Cá heo từ chối sóng

Bóng người buông từ tầng cao

Rung lắc từ đâu

(Biệt sinh)

 

Lối liệt kê những hình ảnh cách xa sự tương tác giữa chúng trong một bài thơ dường như là phong cách của phần lớn những tác giả theo khuynh hướng cách tân hiện nay. Những hình ảnh ấy dịch chuyển trong không gian rộng, được nối thông với nhau bằng liên tưởng và cảm xúc mạnh của người viết, tạo một trường liên tưởng thống nhất, có chung hấp lực. Ở thơ Trần Hùng, ngoài giềng mối tôi vừa nêu, phần lớn những thi ảnh của ông như có sợi dây vô hình dẫn tới nền tảng thơ truyền thống. Sợi dây ấy không vướng vít, buộc chặt mà chỉ "dẫn tới" cái đích mà nhà thơ đặt định. Chúng xuất hiện tựa những dấu mốc chỉ đường trên con lộ thênh thang trước khi tới nhiều ngã rẽ. Cái "dấu mốc" mà tôi vừa liên tưởng trong bài thơ trên cũng chính là lát cắt, thước phim quay nhanh về một đời sống hiện đại, tiện nghi nhưng đầy bất an, sôi động và quá nhiều áp lực. Khổ thơ trên cho thấy, cái đinh quen thuộc tự nhổ ra khỏi tường, cái cây (bất kể cây gì) đang tự bật ra khỏi mặt đất. Và con người, muốn đoạn tuyệt với cội nguồn, từ bỏ thân phận, trốn chạy khỏi tổ ấm gia đình, xã hội, tìm đến cuộc sống ẩn dật, hoặc quyên sinh. Tại Nhật Bản, một cường quốc công nghiệp phát triển, người ta gọi những đối tượng như vậy là những người "bốc hơi" (johatsu). Những "johatsu" thay tên đổi họ, muốn xóa đi mọi dấu vết mà họ đã để lại trong đời sống này. Trong một đời sống xáo trộn, đổ vỡ, ngổn ngang đặt bày trong bài thơ trên, tôi thực sự bất ngờ và thán phục trước sự xuất hiện của nhân vật "Tôi" trong đoạn kết bài thơ "Biệt sinh" này của Trần Hùng.

 

Tôi như thạch sùng

                   lặng im bên những chiếc đinh

Nghe đêm vỡ từ sợi chuông rất mảnh.

 

Nhân vật "Tôi" chính là tác giả bài thơ mang thân phận mỏng manh với trái tim lớn, tự treo mình lên, rung những hồi chuông cảnh báo.

 

Trong những bài thơ có "lưu lượng" lớn, các thi ảnh thường xuất hiện trên văn bản không lâu, chỉ thoáng qua đôi lúc. Chúng tựa những con sóng nhấp nhô, hoặc thấp thoáng trong không trung rồi nhanh chóng hòa vào dòng chảy.

 

Một lát gừng

Một chút muối

Lặng lẽ trước cơm

(Sợ hơn cái chết)

 

Hay:

 

Cây cao lân tinh thân cau

Nâu nâu rơm phơi trăng thâu

Cây thu

Không lá không hoa

Vươn lên âm u

(Cây thu)

 

Đỉnh của "những con sóng nhấp nhô" mà tôi vừa dẫn tựa những nét phác thảo của bức tranh khổ lớn, gồm nhiều nét vẽ dở dang, những khoảng trống, để bạn đọc tiếp tục tự hoàn thiện nó bằng sắc màu tưởng tượng. Đặc trưng lối kiến tạo dòng chảy có "lưu lượng" lớn của Trần Hùng, theo tôi, được quy tụ trong bài thơ "Len sáng":

 

Cá hoang suối xa

Áo đen núi xa

Sương treo đầu kiếm

Đâu đó ơi

Có gì không dứt

Mỏng mảnh như tơ

Len theo mạch vào tim

Rồi trở lại

...

Tôi - căn phòng không cửa.

 

Những hình ảnh trong bài thơ trên xuất hiện tựa nghệ thuật sắp đặt hiện đại, nó nằm trong không gian ba chiều, khiến người đọc vừa là chủ thể vừa là khách thể, vừa chiêm ngưỡng sự vật bên ngoài vừa hòa mình vào những ý thơ. Sự đan xen của những "Cá hoang suối xa", "Áo đen núi xa", "Sương treo đầu kiếm" còn cho ta liên tưởng tới những nét vẽ cổ xưa, bằng nét màu tươi sáng và thanh tịnh trong tranh thủy mặc, thấp thoáng hình bóng tráng sĩ, khuôn trăng, cảnh vật... Câu thơ "Đâu đó ơi" chính là tâm điểm để kết nối những phân mảnh, hình ảnh đơn lẻ, vụn rời của bài thơ này. Câu thơ ấy tựa tiếng gọi, vang xa tới những điểm chạm của đôi bờ dòng chảy, mang lại cảm giác thân thuộc, như có thể với tay là tới được mọi vật dụng, chạm được vào niềm thương mến khôn nguôi; và, có thể nghe được từng nhịp chuyển động, hơi thở của đời sống đang biến động. Hình ảnh kế tiếp hình ảnh, không gian nối tiếp, đan cài không gian trong bài thơ trên cho thấy vẻ đẹp tâm hồn của tác giả được phô bầy, ẩn hiện, cả những nỗi niềm ẩn giấu trong đó như dần được khơi lộ.

 

Và đây là đoạn chảy với khoảng cách đôi bờ hẹp hơn, độ sâu "mớn nước" của nó cũng dễ dàng nhận biết, có thể nhìn thấy đáy nước:

 

Chữ chữ

Hút vào nếp nhăn

Trên những gương mặt

Vừa nghẹn vừa nuốt

Chữ chữ

Như tóc rối

Trong ống nước

Như mắt cá

Trong bùn

Như bulong

Như nan hoa

Xoay

(Phận chữ)

 

Trong đoạn thơ trên, khoảng cách giữa các thi ảnh và đích đến của nó dường như gần lại, nhưng vẫn nằm trong kết cấu phân mảnh, vụn rời, tạo cảm giác chênh vênh, gai góc.

 

Những thi ảnh có mối quan hệ gần, được đặt cạnh nhau, nhưng lại vươn tới những mục đích khác biệt. Đôi lúc tác giả cũng cố ý như đánh đố người đọc về cái đích mà ông muốn hướng tới, như bài thơ "Rắn xanh":

 

Nhói

Rắn xanh trong giầy

Ga rô

Ga ra

 

Như ong

Người đi rồi

 

Nhưng đa phần, ông bộc lộ rõ ý đồ của mình ngay trong từng hình ảnh cụ thể:

 

Rưng rưng lá non từ đâu về

Trên lá non một giọt sương hồng

(Sớm mùng ba)

 

Khá nhiều hình ảnh đứng gần nhau, cùng chung manh mối, được Trần Hùng kiến tạo trong tập thơ "Mắt mắt khuya từng đàn". Khoảng cách giữa những thi ảnh ấy chính là độ mở của không-thời-gian mà tác giả ước định. Đoạn thơ dưới đây tựa một khu vườn vừa mở ra, lạ lẫm mà thân quen, lao xao mà tĩnh mịch.

 

Căn nhà kia có gì

Mà vào ra như ong

Bờ trăng kia có gì

Mà chuồn kim lao xao

Thẳm sâu kia có gì

Mà bóng bóng lặng im

(Mộ trăng)

 

Trong đoạn thơ trên, Trần Hùng đã sử dụng điệp từ "bóng bóng", cũng như nhiều điệp từ khác xuất hiện trong tập thơ này, như "xoe xoe" (Nghe xoe xoe ong đen), "giọt giọt" (Giọt giọt mơ biển; Mắt nhớ giọt giọt sen xanh), "chữ chữ" (trong bài thơ Phận chữ), "bay bay" (Hoa lau bay bay xuôi đèo), "ngón ngón" (Ngón ngón buông lơi), "phơi phơi" (Phơi phơi đâu đó ơi), "ngàn ngàn" (Ngàn ngàn ngón lá)... Hay, trong chính tiêu đề tập thơ này: "mắt mắt" (Mắt mắt khuya từng đàn). Cách dùng điệp từ này được sử dụng khá nhiều trong những bài đồng dao xưa, như "Chi chi chành chành", "Nu na nu nống", "Dung dăng dung dẻ"... Bạn đọc cũng đã gặp nhiều điệp từ trong một số tập thơ của Trần Hùng xuất bản trước đây, như "Thảm thắc", "Vườn khuya" (2015), "Mùa xa" (2019)...

 

Một số bài thơ trong tập tuy không sử dụng điệp từ, nhưng âm hưởng của chúng khá gần với đồng dao, với nhịp điệu quen thuộc, kết cấu hiện đại, ngôn từ gần với dân dã mà đa nghĩa:

 

Ngày ấy lâu rồi

Phơi phơi đâu đó ơi

Bậm chân đều đều

Giăm cối thóc vỡ

Áo đơm cúc vỡ

Tre thơm ngỡ trưa

Chim động vườn khuya

(Ới a)

 

Hay:

 

Rồi mưa rung mưa rây zích zắc

Ai mang áo tơi mang áo tôi

Rồi gai lên lơn tơn lóc tóc

Sấm lên măng sấm ngồng

(Đồng dao)

 

Ngôn ngữ thơ Trần Hùng thường hướng tới sự tối giản mà hàm súc. Thi ảnh của ông khoáng hoạt, thơ mộng, thoáng ẩn thoáng hiện như những bức tranh lụa, mang cho người đọc cảm giác trong suốt, thanh thoát, hàm chứa nhiều bí ẩn cần tiếp tục giải mã. Theo cách vẽ tranh lụa hiện đại, khi màu đã khô, họa sĩ có thể rửa lụa nhiều lần cho sạch mặt lụa và để màu ngấm vào từng thớ lụa, rồi tiếp tục vẽ cho tới khi vừa ý. Trần Hùng dường như đã áp dụng thủ pháp này để tạo những hình ảnh ẩn hiện, lung linh, nhưng đầy tính hiện đại. Những câu thơ dưới đây cho thấy tác giả đã cân nhắc, lựa chọn kỹ lưỡng biện pháp tu từ, nhưng biết buông thả hình ảnh đúng lúc để tứ thơ được cất cánh, thênh thang.

 

Nghe lũ chim câm

Ngủ mê trong bóng cây đáy nước

(Chim câm)

 

Mở to nhìn về bầu trời

Tiếng khóc đâu đó cao như tiếng sếu

(Cây thu)

 

Vết thương lên lá non rồi

Mà trăng vẫn bầu đêm vắng

(Sương nữ ca)

 

Có thể nói, thủ pháp "tranh lụa" trong tập thơ "Mắt mắt khuya từng đàn" là bước đi tiếp theo của một số tập thơ mà Trần Hùng đã xuất bản trước đây, như "Thảm thắc", "Vườn khuya" (NXB Hội Nhà văn, 2015), "Mùa xa" (NXB Hội Nhà văn, 2019)... Chúng có chung một không gian thơ bảng lảng, trong trẻo và giàu nhạc tính. Nhưng "Mắt mắt khuya từng đàn" là nơi lắng đọng, có kết cấu hiện đại và tối giản hơn so với những tập thơ đã in. Nhân đây tôi muốn nhắc tới tập thơ đầu tay "Gọi Bạn" (NXB Thanh Niên, 1991) của ông. Tập thơ này có nhiều bài cách tân mạnh mẽ, với lối kiến tạo hình ảnh ấn tượng, mang cho người đọc cảm giác như nghe tiếng rạn nổ của dòng sông băng, nhọn sắc và bạo liệt. Nó dự báo giai đoạn bứt phá tiếp theo của tác giả, khác với phong cách thơ của ông bây giờ.

 

Khép lại với "Mắt mắt khuya từng đàn", tập thơ mà tác giả của nó đã bước qua tuổi "lục thập nhi nhĩ thuận" (Luận Ngữ, Khổng Tử), theo học giả Nguyễn Hiến Lê câu này có nghĩa "Sáu mươi tuổi thì thuận theo mệnh trời". Nhà thơ Trần Hùng đã đi được những chặng đường dài trên hành trình sáng tạo. Qua những cung bậc cuộc đời, thơ của ông được lọc đến trong suốt, ngày càng giản dị và gần gũi. Điều kỳ diệu này không phải ai cũng làm được. Tôi xin mượn bài thơ "Đẳng cấp" của Trần Hùng để thay cho lời kết, cũng là lời chúc mừng chân thành của tôi gửi tới ông.

 

Đâu phải lúc nào cũng hót

Đâu phải cứ hót là mê ly

Nhưng chỉ cần cất tiếng

Biết đó là họa mi.

 

Hải Phòng, 4/11/2023

M.V.P

 

 

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm