TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • “Dòng sông thơ ấu” như là dòng chảy cuộc đời của nhà văn Nguyễn Quang Sáng

“Dòng sông thơ ấu” như là dòng chảy cuộc đời của nhà văn Nguyễn Quang Sáng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-12-07 17:59:30
mail facebook google pos stwis
3470 lượt xem

HÀ THANH VÂN

(Tham luận đọc tại Hội thảo “Nhà văn Nguyễn Quang Sáng – Cuộc đời và sự nghiệp”)

Nguyễn Quang Sáng (12/1/1932 – 13/2/2014), còn có bút danh là Nguyễn Sáng, là một nhà văn nổi bật của văn học Việt Nam hiện đại, sinh ra tại xã Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Ông dấn thân vào sự nghiệp văn chương và gặt hái nhiều thành công trong giai đoạn đất nước trải qua nhiều biến động, từ thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ đến thời kỳ đổi mới. Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt II về văn học nghệ thuật được trao cho Nguyễn Quang Sáng vào năm 2001 là sự ghi nhận cao nhất cho những đóng góp của ông vào nền văn học Việt Nam hiện đại.


TS Hà Thanh Vân phát biểu tham luận tại Hội thảo, sáng 6/12/2024.

 

Một tuổi trẻ sôi nổi với kháng chiến và văn chương

Nguyễn Quang Sáng tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp và bắt đầu sáng tác từ những năm 1950. Ban đầu, ông chủ yếu viết các truyện ngắn về cuộc sống và chiến đấu ở miền Nam. Nguyễn Quang Sáng phản ánh lòng yêu nước, tinh thần chiến đấu của nhân dân Nam Bộ thông qua những câu chuyện giản dị nhưng xúc động, đặc biệt là trong các truyện ngắn của ông. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ ở thập niên 1960 – 1970, Nguyễn Quang Sáng chuyển sang viết văn xuôi, tập trung khai thác hiện thực chiến tranh và đời sống người dân Nam Bộ. Tác phẩm tiêu biểu thời kỳ này là “Chiếc lược ngà”, một truyện ngắn cảm động về tình cha con giữa khói lửa chiến tranh. Thời kỳ này, Nguyễn Quang Sáng ghi dấu ấn mạnh mẽ với những tác phẩm mang đậm chất nhân văn, phản ánh cuộc sống chiến tranh khốc liệt nhưng tràn đầy tình người. “Chiếc lược ngà” là minh chứng cho khả năng khai thác chiều sâu tâm lý nhân vật trong hoàn cảnh chiến tranh. Sau năm 1975, khi đất nước thống nhất, Nguyễn Quang Sáng tiếp tục sáng tác về cuộc sống thời hậu chiến, các mâu thuẫn xã hội trong thời kỳ xây dựng và đổi mới đất nước. Ông chuyển sang phản ánh những thay đổi xã hội, khai thác các vấn đề xã hội, đạo đức và con người.

Những tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Quang Sáng là “Con chim vàng” (tập truyện ngắn, 1956), “Người quê hương” (tập truyện ngắn, 1968), “Nhật ký người ở lại” (tiểu thuyết, 1961), “Đất lửa” (tiểu thuyết, 1963), “Câu chuyện bên trận địa pháo” (truyện vừa, 1966), “Chiếc lược ngà” (tập truyện ngắn, 1966), “Bông cẩm thạch” (tập truyện ngắn, 1969), “Cái áo thằng hình rơm” (truyện vừa, 1975), “Mùa gió chướng” (tiểu thuyết, 1975), “Người con đi xa” (tập truyện ngắn, 1977), “Dòng sông thơ ấu” (tiểu thuyết, 1985), “Bàn thờ tổ của một cô đào” (tập truyện ngắn, 1985), “Tôi thích làm vua” (tập truyện ngắn, 1988), “25 truyện ngắn” (1990), “Paris – tiếng hát Trịnh Công Sơn” (1990), “Con mèo của Foujita” (tập truyện ngắn, 1991), “Nhà văn về làng” (tập truyện ngắn, 2008).

Nguyễn Quang Sáng còn là nhà biên kịch phim xuất sắc, với các tác phẩm kinh điển như bộ phim “Cánh đồng hoang”, được tặng Huy chương vàng liên hoan phim toàn quốc (1980), Huy chương vàng liên hoan phim quốc tế ở Moskva (1981); “Mùa gió chướng đoạt Huy chương bạc liên hoan phim toàn quốc (1980). Ông cũng là tác giả kịch bản của nhiều bộ phim khác như “Pho tượng” (1981), “Cho đến bao giờ” (1982), “Mùa nước nổi” (1986), “Dòng sông hát” (1988), “Câu nói dối đầu tiên” (1988), “Thời thơ ấu” (1995), “Giữa dòng” (1995), “Như một huyền thoại” (1995).

Nguyễn Quang Sáng được xem là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học cách mạng Việt Nam. Với phong cách viết mộc mạc, giản dị nhưng giàu cảm xúc, ông khắc họa thành công cuộc sống và tâm hồn con người miền Nam trong các thời kỳ chiến tranh và hòa bình. Nguyễn Quang Sáng nổi bật với khả năng khai thác các khía cạnh đời thường trong những hoàn cảnh đặc biệt. Các tác phẩm của ông không chỉ là câu chuyện cá nhân mà còn là câu chuyện chung của dân tộc, phản ánh trung thực và sâu sắc sự chuyển mình của đất nước. Ông có đóng góp lớn cho thể loại văn xuôi và dòng văn học chiến tranh.


TS Hà Thanh Vân (đeo kính) tại buổi hội thảo “Nhà văn Nguyễn Quang Sáng – Cuộc đời và sự nghiệp” - Ảnh Trần Quang Khánh.


“Dòng sông thơ ấu” là hoài niệm và cũng là dòng đời tuổi thơ của nhà văn Nguyễn Quang Sáng

“Dòng sông thơ ấu” là một trong những tác phẩm nổi bật của Nguyễn Quang Sáng, được xuất bản vào năm 1985. Đây là câu chuyện về tuổi thơ của nhân vật lấy cảm hứng từ chính tuổi thơ của nhà văn và những người bạn ở một vùng quê Nam Bộ, với dòng sông gắn liền cuộc sống của họ. “Dòng sông thơ ấu” có nguyên mẫu là dòng sông Tiền chảy qua làng Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, An Giang, quê hương của nhà văn Nguyễn Quang Sáng. Dòng sông dưới ngòi bút của Nguyễn Quang Sáng cũng trở thành một dạng nhân vật, như lời ông Hai Thợ Bạc, một nhân vật trong tác phẩm hay triết lý: “Nỗi nhớ của con người có lúc nó nằm yên rồi chợt gặp một dáng đi, giọng nói của ai đó, hoặc gặp một bài hát mà nó hay hát, nỗi nhớ lại dâng lên cuồn cuộn như sóng. Và kỷ niệm như những con thuyền trăn trở không yên. Nỗi nhớ như con sông vẫn chảy mãi trong đời người”. Năm 1995, tác phẩm “Dòng sông thơ ấu” được dựng thành phim với tên gọi “Thời thơ ấu” do chính nhà văn Nguyễn Quang Sang chuyển thể thành kịch bản phim, với sự tham gia của các diễn viên như Thành Lộc, Quyền Linh, Mỹ Hạnh, Mạc Can...

Tác phẩm “Dòng sông thơ ấu” xoay quanh hồi ức tuổi thơ hồn nhiên nhưng cũng đầy khó khăn của nhân vật trong bối cảnh Nam Bộ trước năm 1945 với điểm nhấn là những ngày hào hùng đầy chất sử thi của tháng 8/1945, nhưng tiểu thuyết in dấu trong lòng người đọc lại là nét văn hóa đặc trưng sông nước của miền Tây, với những con người hồn hậu, nghĩa tình. Qua dòng sông, nhà văn gợi lên hình ảnh quê hương yên bình nhưng cũng đầy biến động của những năm tháng đã qua, phản ánh mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, con người và xã hội đặt trong một bối cảnh lịch sử đặc thù

“Dòng sông thơ ấu” phản ánh bức tranh tuổi thơ miền Tây Nam Bộ. Đó là một câu chuyện về tuổi thơ không chỉ của riêng nhân vật mang tên “Năm” theo thứ bậc của người miền Tây Nam Bộ trong gia đình, mà còn là tuổi thơ chung của cả một thế hệ sống giữa khói lửa chiến tranh, trong sự đan xen giữa cái hồn nhiên và cái khắc nghiệt của cuộc đời. Dòng sông trong tác phẩm không chỉ là một không gian địa lý mà còn là biểu tượng của ký ức, của sự trưởng thành và những mất mát khó quên.

Nguyễn Quang Sáng khắc họa tuổi thơ của nhân vật chính là cậu bé Năm cùng nhóm bạn qua những trò chơi nghịch ngợm, những mẩu chuyện đời thường giản dị nhưng mang tính biểu tượng sâu sắc. Từ những trò nghịch phá của cậu bé Năm và bạn bè, cho đến những cú va chạm đầu đời với hiện thực nghiệt ngã, tác phẩm vẽ nên một bức tranh sinh động về tuổi thơ miền quê Tây Nam Bộ: vừa dung dị, thơ mộng, vừa ám ảnh bởi bóng đen của chiến tranh thế giới thứ hai và mùa thu cách mạng, kháng chiến 1945, cùng với những nét văn hóa, tôn giáo đặc trưng của mảnh đất An Giang với những nhân vật lịch sử của đạo Hòa Hảo có thật đan xen, khiến cho tác phẩm “Dòng sông thơ ấu” phảng phất bóng dáng của tự truyện.

 

“Dòng sông thơ ấu” như là nhân chứng của ký ức lịch sử

Dòng sông trong tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng hiện diện như một “nhân vật” đặc biệt, chứng kiến sự lớn lên, trưởng thành của các nhân vật, sự đổi thay của quê hương và xã hội. Qua dòng sông, Nguyễn Quang Sáng kể lại những kỷ niệm hồn nhiên, những giấc mơ dang dở và cả những nỗi đau mất mát. Nó không chỉ là không gian sinh hoạt của tuổi thơ, của sự sôi động miền quê sông nước, mà còn là nơi lưu giữ những rung động đầu đời, những bài học đầu tiên về cuộc sống. Nhân vật cô gái Chi (hay còn gọi là Trâm) là hình ảnh đẹp lưu giữ trong ký ức tác giả và gây rung cảm sâu sắc với độc giả về một người phụ nữ lặng lẽ không lập gia đình, chờ đợi người yêu đi kháng chiến cho đến khi mái tóc đã pha sương và chàng trai ấy đã hy sinh, chưa kịp một lần gặp lại.

Tác phẩm “Dòng sông thơ ấu” không chỉ dừng lại ở tuổi thơ mà còn gợi lên bức tranh lớn hơn về xã hội miền Tây Nam Bộ thời kỳ trước năm 1945 và vắt ngang qua bằng những mảnh ký ức của những năm tháng sau này. Đó là xã hội mà những mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại, giữa kháng chiến và thực dân, giữa lòng yêu nước và sự cơ hội chính trị bắt đầu lộ rõ. Dòng sông không còn là chốn bình yên của tuổi thơ mà dần mang theo cả những dòng chảy của biến cố và thay đổi của lịch sử. Đó là câu chuyện treo cờ đỏ búa liềm ở Cột Dây Thép hay về nhà cách mạng Châu Văn Liêm, về giáo chủ đạo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ, về đạo Cao Đài… Dù không miêu tả trực diện, chiến tranh thế giới thứ hai và bối cảnh đất nước Việt Nam thời đó vẫn hiện lên qua những câu chuyện nhỏ, những biến cố xảy ra quanh cuộc sống của cậu bé Năm.

Ở một tầng mức ý nghĩa sâu hơn, “Dòng sông thơ ấu” là một lời tri ân đối với quê hương miền Tây Nam Bộ, cụ thể là mảnh đất An Giang đã nuôi dưỡng tâm hồn và ký ức của nhà văn. Nguyễn Quang Sáng không chỉ tái hiện vẻ đẹp của vùng đất này mà còn gợi lên một khát vọng hòa bình và những ước vọng nhân văn, cũng như quyết tâm mở lòng ra với đất nước, với kháng chiến, như lời khẳng định của cậu bé Năm, nhân vật chính trong tác phẩm: “Lâu nay, mọi người như đi trên con sông, tôi thấy bạn bè và thiên hạ, ai ai cũng có một chỗ trên chiếc thuyền của mình, còn tôi, cứ phải lặn hụp, ngoi ngóp trên mặt sông. Đêm ấy, tôi như thấy được bóng dáng chiếc thuyền của mình, tôi sẽ bơi tới.”

 

“Dòng sông thơ ấu” và chất miền Tây Nam Bộ đậm đặc

Nguyễn Quang Sáng sử dụng giọng văn mộc mạc, gần gũi, mang đậm phong vị Nam Bộ. Từ cách xây dựng lời thoại đến cách miêu tả thiên nhiên, con người, ông đưa người đọc hòa mình vào không gian miền quê thân thuộc, cảm nhận được cả mùi bùn, mùi nước sông, ở đó có những con người miền Tây khẳng khái, nhân hậu, nghĩa tình. Ngôn ngữ của Nguyễn Quang Sáng đầy chất thơ, giàu hình ảnh nhưng không hề xa rời thực tế. Ông sử dụng những câu chữ giản dị nhưng giàu sức gợi, làm bật lên vẻ đẹp tự nhiên của dòng sông, làng quê và cả những cảm xúc tinh tế của nhân vật. “Từng mảng đất từ trên bờ đổ ùm xuống, bọt nước tung trắng xóa. Bờ sông hõm vô với màu đất đỏ. Và dòng sông như giận ai, từ nơi xa khơi, ở giữa dòng, nổi lên từng đợt sóng bạc đầu, gầm thét đuổi xô nhau đập vào bờ. Và xa kia, ở làng tôi, mây khói đen như kéo cả bầu trời hạ xuống, trên đầu của con sông. Ôi! Dòng sông thơ ấu của tôi chiều hôm ấy sao mà buồn thế!”

Cảnh sắc miền quê Tây Nam Bộ được Nguyễn Quang Sáng tái hiện như một bức tranh chân phương, mộc mạc, nhưng nhiều màu sắc. Dòng sông không chỉ là một không gian địa lý mà còn là một nhân tố tham gia vào dòng cảm xúc, ký ức và sự trưởng thành của nhân vật. Những nhân vật trong tác phẩm, từ cậu bé Năm đến những người lớn, đều được xây dựng gần gũi, chân thực. Dù là trẻ em hay người lớn, mỗi nhân vật đều mang trong mình những nét riêng, phản ánh rõ tính cách và hoàn cảnh sống của họ.

Dòng sông là biểu tượng trung tâm của tác phẩm, mang ý nghĩa đa tầng: sông là nơi nuôi dưỡng tuổi thơ, nhân chứng của những thay đổi, biến thiên của lịch sử, lòng người, và biểu tượng của dòng chảy cuộc đời. Nó vừa là chốn bình yên vừa là nơi khơi dậy những trăn trở và suy tư của một con người đã đi qua nhiều biến động thời cuộc, nay ngoảnh đầu nhìn lại. Tuổi thơ trong tác phẩm không chỉ là những ký ức đẹp đẽ mà còn là biểu tượng cho những giá trị nhân văn sâu sắc, nhắc nhở con người giữ gìn những ký ức quá khứ, dù có thể có những bất toàn, có những đau thương, nhưng quan trọng là những điều trong sáng và tốt đẹp trong cuộc sống của một thời đại đấu tranh cho quê hương, dân tộc, vẫn luôn được gìn giữ, nhớ về

“Dòng sông thơ ấu” là một tác phẩm mang giá trị lớn cả về nội dung và nghệ thuật. Nguyễn Quang Sáng không chỉ kể lại câu chuyện của riêng mình mà còn kể câu chuyện của cả một thế hệ, của cả một dân tộc. Tác phẩm là một lời nhắc nhở về tầm quan trọng của ký ức, về giá trị của tuổi thơ và tình yêu quê hương. Nguyễn Quang Sáng, với “Dòng sông thơ ấu,” đã để lại một dấu ấn sâu sắc trong văn học Việt Nam. Tác phẩm không chỉ là một cuốn hồi ký văn chương mà còn là một tượng đài nghệ thuật về tuổi thơ và ký ức quê hương. Dưới ngòi bút của ông, dòng sông không chỉ chảy trên trang giấy mà còn chảy vào lòng người đọc, mang theo những xúc cảm và suy tư về cuộc đời.

Nguyễn Quang Sáng là một nhà văn lớn với sự nghiệp gắn bó mật thiết với vận mệnh đất nước. Những tác phẩm của ông, trong đó có “Dòng sông thơ ấu” là một phần không thể thiếu trong dòng chảy văn học Việt Nam hiện đại.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm