TIN TỨC

Giới thiệu tập sách Người đi tìm lá diêu bông

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-10-16 12:06:13
mail facebook google pos stwis
2252 lượt xem

Nguyễn Văn Ngọc sinh năm 1959. Ông quê ở xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Là thạc sỹ Ngữ văn, ông từng là giáo viên dạy Văn, sau đó là chuyên viên phụ trách môn Văn của Phòng Giáo dục & Đào tạo huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Thời gian công tác tại Phòng Giáo dục & Đào tạo huyện Nghi Lộc, ông đã biên soạn cuốn sách Địa phương huyện Nghi Lộc (NXB Đại học Vinh, 2016 ).  Năm 2021, cuốn sách được kênh VTV1 của Đài truyền hình Việt Nam dùng làm minh chứng trong chương trình “Nét đẹp dân gian” của tiếng Nghi Lộc.

 Nguyễn Văn Ngọc là người có tâm hồn lãng mạn, yêu văn chương và chịu khó viết lách. Ông cũng có khá nhiều bài viết đã đăng trên các báo địa phương và tạp chí văn nghệ. Riêng về lĩnh vực sáng tác văn chương, một số tác phẩm của ông đã được giới thiệu trên các diễn đàn của Hội Nhà văn Hà Nội, Văn chương thành phố Hồ Chí Minh, Văn chương Phương Nam, Tạp chí Môi trường và Đô thị, Tạp chí Tao đàn… Người đi tìm lá diêu bông mà bạn đọc đang cầm trên tay là tập hợp những bài viết của ông, chủ yếu tập trung vào ba thể loại: Truyện ngắn, tản văn và phê bình văn học.

Chùm truyện ngắn của Nguyễn Văn Ngọc chủ yếu tập trung vào đề tài tình yêu. Ông quan tâm tới số phận của những  người phụ nữ trong chiến tranh và thời kỳ hậu chiến. Họ là những thiếu nữ đang ở cái tuổi đẹp nhất của đời người, rời làng quê, lên miền núi dạy học: Ngà (Đứa con của rừng), Hoa (Hoa rừng); là những mảnh đời khuyết thiếu vì chiến tranh đã cướp đi người đàn ông, người chồng của họ: Dung (Mùa hoa cúc biển), Minh (Đứa con cửa Lạch); là người phụ nữ tham gia hoạt động cách mạng bí mật, tài sắc nhưng cuộc đời nhiều vất vả, truân chuyên: mẹ (Mẹ tôi đi về phía mặt trời lên), Là cô sinh viên trưỡng Mỹ thuật giàu hoài bão, thủy chung trong tình yêu: Nhung (Người đi tìm lá diêu bông)… Mỗi người có một cuộc đời, một số phận, một chân dung riêng biệt. Nhưng ở họ đều toát lên vẻ đẹp của những người phụ nữ có đời sống nội tâm phong phú, khao khát hạnh phúc, giàu lòng tin yêu vào cuộc sống, biết trân quý những khoảnh khắc đẹp đẽ của tình yêu... Nguyễn Văn Ngọc chăm chút cho từng khoảnh khắc như vậy, viết về họ với tất cả sự cảm thông, trìu mến, trân trọng. Tác phẩm của ông vì vậy luôn toát lên giá trị nhân văn sâu sắc, hấp dẫn người đọc, dù rằng những truyện ngắn của ông được viết một cách dung dị, ít chú trọng vào kỹ thuật.

Tản văn của ông là tiếng lòng, là nỗi hoài niệm của một tình yêu trĩu nặng đối với quê hương, với làng quê nghèo khó nhưng giàu ân nghĩa, giàu truyền thống văn hóa. Có khi nỗi hoài niệm, sự nhớ thương được gợi lên từ một âm thanh trong ký ức xa vời, là tiếng chim  bìm bịp gọi cả một trời thương nhớ  tuổi thơ (Nhớ những mùa chim), cái âm thanh mà Nguyễn Văn Ngọc gọi là “tiếng của cuộc đời tôi”. Có khi là nỗi ưu tư, trăn trở về nghề nghiệp, về học sinh của người thầy khi chạm đến cái sắc màu hoa phượng chói chang nơi sân trường (Mùa hoa phượng). Trong những ký ức miên man ấy, có lúc người đọc bắt gặp những hình ảnh  thật gần gũi, nhưng cũng thật đẹp và đầy ám ảnh “Thầy đã đi trong gió rét hun hút của mùa đông để đến trường. Bao bước chân thầy đã in trên cát mênh mông, bãi cát tung lên qua những trận gió Lào” (Con chữ của thầy tôi). Nhưng những trang tản văn đẹp nhất của Nguyễn Văn Ngọc có lẽ là những trang viết về mẹ. Mẹ với luống cày xưa  cũ, với gồng gánh trĩu vai, chiếc nón đã chuyển màu… Ông viết về mẹ rưng rưng cảm xúc, với tất cả nỗi lòng của một người con thấu hiểu bao nhọc nhằn, vất vả của mẹ.

Ở mảng phê bình văn học, ông tập trung viết về một số tác phẩm văn  xuôi của nhà văn Nguyên Ngọc và các nhà thơ như: Nguyễn Bính, Xuân Quỳnh, Nguyễn Khoa Điềm, Phan Văn Từ, Nguyễn Hồng Linh. Tác giả đã quá nổi tiếng, tác phẩm thì quá quen thuộc, bài viết, bài giới thiệu đã quá nhiều. Nguyễn Văn Ngọc dường như vẫn lặng lẽ tìm cho mình một hướng đi riêng. Không ồn ào, khoa trương, màu mè, ông viết hồn hậu, tự nhiên, viết bằng những suy ngẫm, lý giải  rất riêng của mình.

Có một điều dễ nhận thấy là dù viết thể loại nào, truyện ngắn, tản văn hay phê bình văn học, những trang văn của Nguyễn Văn Ngọc luôn toát lên vẻ hồn hậu, tự nhiên, chan chứa tình yêu thương, sự cảm thông sâu sắc đối với những phận người, phận đời. Người đi tìm lá diêu bông phải chăng là đi tìm tình yêu sau những dâu bể, lặng lẽ nhặt nhạnh những hạnh phúc nhỏ bé trong cuộc đời này, để viết lên niềm hi vọng, niềm tin yêu không bao giờ nguôi tắt…

          CAO THỊ ANH TÚ

Biên tập viên Nhà xuất bản Đại học Vinh

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm