TIN TỨC
  • Truyện
  • Hai mươi năm và hai cuộc gặp

Hai mươi năm và hai cuộc gặp

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-07-23 16:05:44
mail facebook google pos stwis
1695 lượt xem

HOÀI HƯƠNG

1.

Đêm trăng rằm trong khu tập kết 100 ngày ở Cao Lãnh, Đồng Tháp Mười, Long Châu Sa (Đồng Tháp), theo Hiệp định đình chiến Geneve năm 1954, má Sáu mới 25 tuổi, một tay dắt thằng Hai lên năm, một tay níu quai ba lô của chồng đang bồng thằng Út lên bốn, bịn rịn không dứt ra được. Chồng má theo đơn vị ra tập kết miền Bắc cùng thằng bé Hai.

- Mình à, anh đi, mình về ngoại, có má có mấy dì cũng đỡ. Chớ ở lại nhà, đơn chiếc, không có ai, có bề gì, anh lo dữ lắm.

- Dạ, em cũng tính vậy. Mình đừng lo cho em. Ráng chăm sóc thằng bé Hai. Mà nghe nói đi có hai năm thôi…

- Không chắc được đâu mình, anh nghe chính ủy sư đoàn nói, mọi sự không đơn giản, hãy chuẩn bị tinh thần nhiều lần “hai năm”... Mình ở lại cũng ráng thật bình an, đợi anh và thằng bé Hai về nhen.

Mà đúng thế. Má Sáu lận tiếng thở nặng sâu vào lồng ngực chực buột ra. Cái “hai năm” kéo dài tới không biết bao lần. Má nhớ, đêm tiễn chồng cùng thằng Hai. Nước mắt lặng lẽ lăn dài, má nhìn con tàu nhòa nhoẹt từ từ rời bến. Tiếng hú tiễn biệt dài dặc, ngun ngút buồn, đầy bất an. Tàu đã đi xa rồi, chỉ còn sóng nước mênh mông, mà má và thằng Út cùng rất nhiều người vợ người má khác cùng bầy con nhỏ vẫn nán cả buổi trời, không muốn rời chút hơi ấm người thân vương vất trong mấy chòi lá, gốc cây, khăn áo, không gian... Ai cũng linh tính, sự trùng phùng sẽ xa xôi lắm, lành ít, dữ nhiều. Ngay cả họ, ở lại là biết sẽ phải đương đầu với bao nhiêu thử thách.


Minh họa:  Trương Đình Dung

“Hai năm” đầu tiên, má Sáu bồng thằng Út về quê ngoại ở Kiên Giang. Việc một thiếu phụ còn trẻ ôm một đứa con, chồng không rõ lai lịch, khiến ai cũng nhìn với ánh mắt ngờ vực làm má thấy trong lòng cào xáo lo sợ không an. “Hai năm” thứ ba, Luật 10/59 cùng tòa án quân sự lưu động của chính quyền Sài Gòn, lập các ấp chiến lược dồn dân ở nông thôn hòng hạn chế quân Giải phóng xây dựng cơ sở hoạt động, ngăn chặn người dân tiếp tế cho du kích gieo rắc kinh hoàng từ vĩ tuyến 17 trở vào. Ngó bề khó sống yên, má Sáu quyết định dắt thằng Út trở lại quê nội của sắp nhỏ ở Củ Chi, móc nối với bên cách mạng, tham gia đội quân du kích quyết giữ gìn “đất thép thành đồng” ở cửa ngõ Sài Gòn này.

Tới lần thứ 5 của “hai năm”, khi thằng Út mười lăm tuổi, má gởi nó vào Sài Gòn ở nhà bà con bên ngoại để học lên trung học đệ nhị cấp. Củ Chi, cuộc chiến tranh bước vào hồi khốc liệt. Mĩ đổ quân vào miền Nam Việt Nam thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ”. Má cùng đồng đội kiên cường trước biết bao trận càn lớn nhỏ, bao lần tưởng vùi mình dưới các trận bom hạng nặng, pháo kích cấp tập hàng giờ, xe tăng Mĩ càn ủi, những cuộc đổ bộ hành quân “tìm và diệt”, đặc biệt là chiến dịch Cedar Falls - chiến dịch “Bóc vỏ Trái Đất”, hòng làm trắng toàn bộ Củ Chi, nơi “gốc rễ” căn cứ của chủ lực quân Giải phóng miền Nam.

Lần thứ 7 của “hai năm”, Tết Mậu Thân năm 1968, má được biết chồng mình đã trở vào Nam chiến đấu, đang chỉ huy một cánh quân đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất. Ở Củ Chi, má cùng đồng đội cũng vào trận. Nhiều lúc má thầm thì với chính mình “Mình ơi, em chia lửa nè, mau chiến thắng, mình gặp nhau nghen”. Rồi má trông hoài, hết đợt một Mậu Thân, dù giao liên đã móc nối, nhưng tình hình quá căng, không thể tổ chức đưa đón được. Quân lính Sài Gòn tăng cường chốt chặn các cửa ngõ vào thành phố từ lộ lớn, lộ nhỏ tới các cửa sông, bến tàu thuyền… Cho tới một bữa, vào cữ tháng 7 Vu lan, má hay tin báo chồng đã hi sinh khi đánh vào Sài Gòn đợt hai. Đất trời sụp xuống, có ai dè lần chia tay 14 năm trước là lần sau cùng hai người gặp nhau. Những hẹn ước đợi chờ khắc khoải, kẻ đêm Nam người ngày Bắc, rồi đêm Bắc ngày Nam, có đâu tưởng gần nhau đến thế, cách vài chục cây số, chỉ vài giờ chạy xe gắn máy. Vậy mà… Tim má quặn đau, cảm giác như chính mình bị trúng đạn.

Thêm một tin sét đánh rơi xuống đầu má, trong Sài Gòn tin ra cho hay thằng Út vừa đậu tú tài đã bị bắt quân dịch và đưa lên trường Võ bị quốc gia Đà Lạt học sĩ quan. Má buồn buốt ruột, thấy mình có lỗi với chồng. Làm sao có thể để con mình trở thành kẻ phản nghịch cầm súng bắn lại má, anh Hai, đồng đội của ba nó… Má vội tìm cách vào Sài Gòn. Nhưng ngay cửa ngõ, má suýt nữa bị bọn chỉ điểm bắt, may mà giao liên nhanh trí, đưa má quay lại, đi tắt đường khác. Má về cứ mà trong lòng không lúc nào yên, vừa buồn con, vừa tự giận trách, dằn vặt bản thân sao hồi đó lại đưa con vào Sài Gòn học làm gì, sao không gởi nó ra cứ theo Giải phóng, rồi học trong rừng có sao đâu…

Lần thứ 9 của “hai năm”, năm 1972, má nghe tin thằng Hai ở Hà Nội, vừa tốt nghiệp đại học ở nước ngoài về, biết ba hi sinh, má là chỉ huy du kích Củ Chi, đã quyết định tình nguyện nhập ngũ, xin được vào Nam chiến đấu. Và không biết đi bằng con đường nào, má nhận được thư thằng Hai, nói đơn vị nó vừa vượt sông Bến Hải đánh chiếm Quảng Trị. Lúc này, thằng Út cũng vừa tốt nghiệp trường Võ bị quốc gia Đà Lạt, mang quân hàm thiếu úy, và lập tức bị điều ra miền Trung, tung vào cái chảo lửa chiến trường Quảng Trị đang nóng rực. Xa nhau 18 năm, trời ơi, có khi nào anh em nó... Má không dám nghĩ thêm. Đêm đêm má thắc thỏm lo âu, đợi khuya lén mở nghe radio tin chiến trận cả đài Sài Gòn và đài Giải phóng, rồi thức trắng trong sự bất lực, chỉ biết thắp cây nhang bàn thờ chồng, mong ông phù hộ các con bình an, mong anh em nó đừng gặp nhau trong chiến trận.

 

2.

Sau khi đánh sập cầu Đông Hà, sư đoàn tiếp tục áp sát các mục tiêu để tiêu diệt, dọn đường cho các đơn vị chủ lực khác đánh chiếm, thọc sâu hơn. Thật khuya, chiến sĩ trực cơ yếu sư đoàn bắt được tín hiệu trên tần số lạ - tần số của đối phương, nhưng là một câu chào theo quy ước chỉ có đám cơ yếu các sư đoàn quân chủ lực quân Giải phóng mới biết, để tìm cách nhận ra nhau, mỗi khi có chiến dịch cho dễ liên lạc hợp đồng tác chiến và tránh bị nhầm lẫn với đối phương. Khá dè dặt, người chiến sĩ cơ yếu đáp lại, ngay lập tức nhận một dòng trao đổi ngắn, muốn được trực tiếp gặp sư trưởng. Anh vội báo cáo cho chỉ huy trưởng của mình, và được lệnh, mời ngay sư trưởng sang phòng cơ yếu. Cũng không rõ hai bên trao đổi gì, một lát sau, sư trưởng cho gọi anh vào.

- Đồng chí có biết hệ mật mã Mĩ?

- Dạ, báo cáo, tôi đã được học nhưng chưa dùng bao giờ.

- Vậy có khi nào quên?

- Dạ, thưa không.

- Tốt! Giờ thì ngay lập tức phát tín hiệu chuẩn bị nhận tin.

- Báo cáo! Rõ!

Đó là một bản tin dài, rất chi tiết về vị trí, hỏa lực và cách bố phòng, những điểm “mù”, các đơn vị phối thuộc, những khung giờ được yểm trợ pháo và máy bay ném bom từ các căn cứ quân sự Mĩ… ở căn cứ Tân Lâm, sở chỉ huy Trung đoàn 56 quân đội Sài Gòn. Đây cũng chính là hướng mục tiêu sư đoàn đang nhắm tới trong kế hoạch tác chiến của chiến dịch mà công tác trinh sát vẫn còn gặp khó khăn. Sư trưởng cầm bản tin, nét mặt lộ ra sự vui mừng.

- Tuyệt quá. Thế này thì trinh sát của ta đỡ bao nhiêu công sức.

Và rồi trước khi rời khỏi phòng cơ yếu, sư trưởng vỗ vai người chiến sĩ và nhìn anh bằng một ánh mắt trìu mến khá đặc biệt.

- Giỏi lắm! Cố gắng nhé. Nhắc lại, chuyện bức điện này tuyệt đối giữ bí mật.

Từ thông tin được cung cấp, sư đoàn đã lên kế hoạch tác chiến. Chiến dịch diễn ra thuận lợi. Trung đoàn 56 quân đội Sài Gòn bị đánh tan tác, phải đầu hàng; các vị trí quan trọng được mệnh danh “lá chắn thép”, “pháo đài bất khả xâm phạm”, “con mắt thần điện tử” Mắc Namara… bị xoá sổ. Mấy cố vấn Mĩ vội vàng leo lên trực thăng bỏ chạy về Sài Gòn. Chiến thắng của sư đoàn đã mở cửa mặt trận để các đơn vị phối thuộc tấn công. Quảng Trị được giải phóng.

Sư đoàn được Bộ Tư lệnh miền khen thưởng, người chiến sĩ cơ yếu cũng được đích thân sư trưởng đề nghị cấp trên khen thưởng. Vui, nhưng trong thâm tâm anh vẫn thắc mắc về người truyền tin bí ẩn kia. Anh có chút lo lắng cho số phận của người đó. Trong linh giác của một người công tác ngành cơ yếu, anh cảm nhận có gì đó thân thiết gần gũi rất khó lí giải. Nghe cách thả tín hiệu, những khoảng cách ngắt nhịp, hay cách nhấn xuống dòng hết một câu, một kiểu “nhận diện định danh” cá nhân kiểu chữ kí, chỉ có người học cơ yếu - mật mã truyền tin mới nhận ra được, anh mơ hồ quen quen, lạ lạ.

Hơn một tháng sau, Mĩ và Sài Gòn cùng kết hợp tiến hành một cuộc hành quân lấy mật danh “Lam Sơn 72”, với ý đồ tái chiếm Quảng Trị trước ngày Hội nghị Paris được nhóm họp trở lại, với tham vọng chiếm thế thượng trong đàm phán. Đây là nỗ lực cuối cùng để cứu vãn sự phá sản của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” sau ba năm triển khai theo “Học thuyết Nixon” ở Đông Dương. “Lam Sơn 72” sẽ là trận chiến khốc liệt nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam, là “mùa hè đỏ lửa”, với sự huy động hỏa lực lớn chưa từng có của cả hai bên. Việc nắm thông tin tình báo chiến lược của đối phương càng trở nên cấp thiết và cấp bách. Các đầu mối tình báo kĩ thuật của quân Giải phóng được lệnh phải tìm cách “truy tìm” và “bắt sóng” được các tần số của đối phương để nắm cách bày binh bố trận của quân đội Sài Gòn.
 

3.

Chỉ huy sở của Ủy ban Quân quản Quân giải phóng Quảng Trị vừa được tăng cường một “tân binh” cơ yếu còn trẻ, nghe đâu là người của quân đội Sài Gòn đầu hàng. Không biết thân thế ra sao, chỉ biết là đích thân tư lệnh mặt trận đưa đến, lệnh cho cơ quan tiếp nhận như một chiến sĩ của ta, đồng thời trực tiếp giao nhiệm vụ “bắt sóng”, giải mật các bức điện hành quân chiến dịch “Lam Sơn 72” của quân đội Sài Gòn và Mĩ mà ta thu bắt được.

Nghe tin, đang ngồi rà sóng truy tìm tần số của đối phương, người chiến sĩ cơ yếu bỗng nhớ lại cuộc truyền tin bí ẩn trong trận tiêu diệt Trung đoàn 56 của quân đội Sài Gòn. Có khi nào là anh ta? Có khi nào là thằng Út không nhỉ? Ý nghĩ thoáng trong đầu ấy, nhanh chóng bị phủ nhận. Làm gì có sự trùng hợp ngẫu nhiên đến thế. Nhưng dù sao cũng có chút hi vọng bởi nghe tin nó học sĩ quan Đà Lạt ngành truyền tin, và cũng bị đưa ra đây. Giờ mà gặp liệu mình có nhận ra nó không? Ờ, mà nó giống ba hay giống má, hay giống mình? Bỗng dưng tim anh thắt lại…

Mải suy nghĩ, anh giật thót mình bối rối đứng dậy giơ tay chào khi thấy sư trưởng cùng chỉ huy trưởng của anh vào phòng từ lúc nào.

- Đồng chí chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới.

- Dạ, rõ!

Anh được điều sang phòng cơ yếu của Sở chỉ huy Quân quản để dịch các bức điện của đối phương. Sống lưng anh bỗng có con gì bò rần rần, thoắt lạnh thoắt nóng. Sang đó, là sẽ gặp người “tân binh” kia. Từ sư đoàn bộ sang tòa nhà trụ sở Ủy ban Quân quản chỉ cách vài con phố, ngồi trên xe cùng hai chỉ huy, mà sao anh thấy quãng đường dài thế. Có một sự hồi hộp rất khó diễn tả, không hề giống như lần đầu ra trận, hay lần đầu khoác bộ quân phục Quân Giải phóng trên người, càng không giống như khi chạm chân sang bên này giới tuyến sau những ngày hành quân vượt Trường Sơn.

Sư trưởng bảo anh đứng đợi. Và rồi, trong ánh sáng vàng của bóng đèn phòng khách, một người bước ra. Khoảnh khắc bất ngờ khiến anh lặng đến đơ người. Trước mặt anh là một phiên bản giống hệt anh.

- Anh Hai! Nhận ra Út không?

- Út! Là Út?

- Hai giống hệt ba.

- Còn Út giống hệt Hai.

Hai người nhào vào nhau, ôm dính nhau, đấm vào lưng nhau, vừa khóc, vừa cười, vừa nói, và cả hai cũng không biết mình nói những gì. Niềm vui quá lớn. Mười tám năm xa cách, tưởng rằng mãi mãi không thể gặp nhau. Thì ra sư trưởng đã được biết từ trước, nhưng vì nhiều nguyên tắc mà không thể lộ ra thông tin.

Một bàn tiệc dã chiến lập tức được bày, chỉ trà, thuốc, và một ít món đồ hộp chiến lợi phẩm, nhưng là cả một bầu không khí ấm áp. Dường như trong những giây khắc đó chiến tranh không tồn tại, dù tiếng đạn tiếng pháo vẫn ì ầm ngay trên đầu… Một cuộc đoàn tụ kì lạ trong chiến tranh.

- Làm sao Út lại ở đây?

- Chuyện dài lắm, rồi sẽ kể Hai nghe.

- Cái đêm đó… Hai cứ nhớ hoài người truyền tin. Có cảm giác rất lạ, cách đánh chữ đầu tiên, cách chấm hết câu chào, giống y như kiểu của Hai.

- Ờ, lần đó Út xài tần số đó cũng liều, tần số chỉ dùng khi nguy cấp và chỉ được một lần. Ngay sau đó bị phát hiện, nhưng không còn cách khác, gấp mà. Út cũng lập tức được lệnh rút ra ngoài và được đón sang đây. Bên Sài Gòn cứ nghĩ Út chắc bị bắt…

- Nhưng sao Út biết có Hai?

- Ờ, Út cũng có linh cảm kì lạ. Bữa nghe chỉ huy bên này nói ở một sư đoàn quân Giải phóng có một chiến sĩ cơ yếu giỏi lắm, dịch mật mã đối phương ro ro. Út nghe, tò mò, muốn gặp. Linh tính sao đó. Có lẽ do nghe ba nói là anh Hai học ngành truyền tin ở Liên Xô…

 

4.

Câu chuyện ấy mãi sau này má mới biết. Còn khi đó, má vẫn đau đáu thầm lặng, đắng đót nghĩ về hai đứa con mình đang đối nghịch nhau. Má ăn không ngon, ngủ không yên, luôn thầm kêu chồng phù hộ cho hai đứa đừng có gặp nhau. Hàng đêm má cầu nguyện bình an cho cả hai. Rồi má muốn chết nửa người, đau thấu tâm can khi có tin báo về, thằng Út chết trận, hay mất tích vì không thấy xác. Má đau. Nghĩ tới còn thằng Hai, má mới không theo thằng Út, theo ba nó mà đi luôn. Vừa thương con đứt ruột, vừa giận con sao không nghe mình, vừa hận bản thân tại sao không giữ con lại cho ở với Giải phóng trong cứ mà cho nó vào Sài Gòn.

Nếu như má không gặp được thằng Hai, có lẽ má còn khóc hoài. Tháng 4/1975, trong chiến dịch Hồ Chí Minh, đơn vị của Hai thuộc cánh quân hướng tây - bắc Sài Gòn, nên khi vừa giải phóng hoàn toàn Củ Chi, anh được chỉ huy cho phép về nhà gặp má nửa ngày, trước khi tiếp tục hành quân tiến vào thành phố. Má nhìn thằng Hai, trời, sao mà in hệt ba nó cái ngày hai người quen nhau trong chiến khu. Bỗng dưng cả một trời kỉ niệm hơn 30 năm trước theo về. Rồi má nghĩ đến thằng Út, bỗng thảng thốt, nếu thằng Hai hỏi biết nói thế nào với nó đây. Má đã không tròn lời hứa với ba sắp nhỏ, với thằng Hai. Rồi má sợ, sợ chính điều má hàng đêm nằm mơ… Má muốn xỉu không dám nghĩ tiếp hay hỏi gì.

- Má, con đã gặp thằng Út. Con xin lỗi má.

Má Sáu nghe tới đó, bất chợt rủn hết người, vội buông tay thằng Hai. Má lắp bắp, run rảy:

- Anh em bây gặp nhau trên chiến trường? Rồi anh em bây có bắn nhau?

- Má nghĩ gì mà hỏi dzậy? Hai anh em con gặp nhau thật kì lạ. Má có biết không, thằng Út cũng là người của đàng mình đó.

- Là sao? Chớ không phải nó là lính Sài Gòn?

- Má có biết thằng Út đã gặp được ba không?

- Sao má không nghe nó nói gì. Ba các con hi sinh, má còn không gặp được. Mà sao nó gặp. Đâu, con biết gì kể má nghe.

- Ba vô Sài Gòn, bí mật gặp nó. Rồi ba móc nối giới thiệu nó với các chú các bác. Nghe theo ba, nó vào trường Võ bị quốc gia Đà Lạt, học, để làm việc cho Giải phóng mình. Nó là người truyền tin giúp ta thắng trận đó má.

- Trời! Thằng nhỏ gì kín tiếng quá trời. Má có hay đâu. Cứ trách giận nó hoài. Thiệt má có lỗi với Út con. Mà sao nữa?

- Con xin lỗi má. Con không đưa thằng Út nguyên vẹn về nhà cho má… Cuộc chiến trong Thành Cổ quá ác liệt... Nó nhất định đòi vào đó... Bom đạn cày xới mọi thứ vụn nát… Con có mang theo nắm đất ở đó, gói trong lá cờ Giải phóng mang theo đây, má làm mộ cho thằng Út.

 

5.

Nửa ngày cho hơn 10 lần “hai năm” xa nhau, thật không biết nói gì trước nói gì sau cho đủ, cho hết. Hai má con cứ ôm nhau không muốn xa. Những câu nói rời rạc chưa hết ý, bao nhiêu điều muốn hỏi những ngày hai ba con ở ngoài Hà Nội, những ngày con đi học nước ngoài đơn côi xứ người tuyết rơi buốt giá, những cuộc hành quân vượt Trường Sơn, vào trận chiến đối diện sinh tử, rồi chuyện hai anh em đã có những ngày sống chung nhau một chiến hào, một trận địa, chuyện thằng Út hi sinh ra sao… 20 năm hơn chỉ gói gọn chưa đầy 10 giờ đồng hồ. Rồi má lật bật đi nấu cơm, bắt con gà, quơ mớ rau. Thắp ba cây nhang má vừa khóc vừa cười với di ảnh chồng mình, với thằng Út.

- Tới giờ hẹn đơn vị, con đi nghen má. Còn chút thôi, trận cuối rồi.

- Ờ, trận cuối rồi. Xong trận, hòa bình, hai má con mình tha hồ hủ hỉ với nhau. Má còn cưới vợ cho con nữa. À, mà con đã có bạn gái chưa? Nói má biết, mai mốt má mang trầu cau tới nhà xin rước…

Con đi rồi, má Sáu vẫn lấn bấn ra ra vô vô trong nhà ngoài sân, đụng tới cái gì, chưa kịp làm lại buông. Má còn ngợp, thở không muốn nổi. Má buồn đó, vui đó, đau cũng có, thương cũng có. Bồn chồn lo lắng...

Ngày 1/5/1975, nhà má rất đông người. Toàn bạn bè đồng đội của chồng má, của các con má. Họ đưa thằng Hai về, được gói trong lá cờ Quân Giải phóng. Một viên đạn đã bắn ra từ ngôi nhà cao tầng gần dinh Độc Lập, xuyên qua ngực Hai…
 

Nguồn: Văn nghệ quân đội

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thành phố tươi đẹp – Truyện ngắn của Vũ Minh Phúc
Ở Việt Nam ta, có không ít thành phố, nhưng sao mãi lòng tôi cứ đắm đuối và lưu luyến với thành phố Hà Tĩnh. Vì sao lại vậy? Vì đó là một thành phố biển tươi đẹp, nó đẹp trong khung cảnh, trong con người và cả vùng đất. Tôi ngồi đó, trên bãi biển Thiên Cầm, nghe tiếng sóng biển ào ạt như tiếng đàn trời réo rắt. Sông Ngàn Sâu Ngàn Phố nước trong xanh như một khối ngọc bích, nước dưới đáy biển yên tĩnh lạ kỳ. Nó nối giữa đôi bờ của hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình. Ánh chiều tà tịch dương xuống chậm và đổ dài trên đường chân trời xa xa, và mùi hương của hoa sen ngan ngát đến dịu lòng. Có phải là tôi đang mơ không? Không, dĩ nhiên rồi. Trong suy nghĩ mơ màng của tôi, dù thành phố đã chịu nhiều bão tố của thiên nhiên, triều cường, nhưng nó vẫn ngời lên sức sống bất diệt. Dù cho không phải là người con của đất Hà Tĩnh mến thương, nhưng xin cho phép tôi được gửi câu chuyện nhỏ này đến đó như một nỗi niềm xa xôi vọng niệm. (Lời tác giả)
Xem thêm
Cánh cửa không mở lại – Truyện ngắn Hồng Loan
Nga chết lặng. Đôi môi cô mím lại, hơi run. Cơn gió lạnh tưởng đã tan từ sáng sớm lại bất ngờ quét qua lồng ngực, như một cú đấm vô hình, như một cú tát nhẹ nhưng bén ngót. Cô đã từng tưởng tượng đến giây phút này hàng trăm lần. Nơi cô sẽ gào lên, chất vấn, hoặc ít nhất cũng khiến ông ta bối rối, nhưng không. Cô ngồi đó, lặng lẽ. Đôi mắt không còn giận dữ, mà trở nên thản nhiên một cách đáng sợ. Bởi vì… ông không nhận ra cô. Và chính điều đó lại đau hơn mọi lời phủ nhận. Có lẽ với ông, cô chưa từng tồn tại.
Xem thêm
Từ mặt - Truyện ngắn của Lê Thanh Huệ
Nguồn: Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam số 50 tháng 7/2026, trang 12.
Xem thêm
Núi chờ - Truyện ngắn Thanh Tuân
Má thương cảm đời Vũ như đời má. Chỉ là Vũ còn bé chưa ý thức được phận đời rơi rụng. Còn má, ngày đó tuổi đã lưng chừng, biết nghĩ, biết suy, biết yêu thương, biết đau khổ. Má chăm Vũ từng miếng ăn, giấc ngủ, từng cái váy thổ cẩm xòe, váy dài trắng như công chúa, không để thiếu thứ gì. Má nói để nhớ ngày xưa mình được dắt đi mua sắm thế nào, được yêu thương ra sao. Mà lạ kỳ càng cố nhớ lại thấy lòng mình càng trống rỗng. Sự đời đâu phải cứ muốn nhớ là nhớ, cứ muốn quên là quên được. Có những thứ muốn quên mà làm con người ta đau đáu hoài. Có những điều cố nhớ nhưng lại tít tắp mịt mù. Như má cố nhớ những yêu thương từ hồi mà được sinh ra đến khi lớn lên, nhưng lạ kỳ hình như yêu thương bốc khói. Cái còn lại là những đau khổ, những kiệt cùng của nhói buốt mà thỉnh thoảng vẫn quặn lên từng cơn co thắt. Trong lòng má. Cái đó đáng lẽ quên biệt xứ.
Xem thêm
Đêm trăng lúa – Truyện ngắn Vũ Minh Phúc
Tôi là thằng bé lớn lên từ những đồng ruộng. Bao giờ cũng vậy, cứ mỗi lần về quê, đi trên con đường, ngắm những đồng lúa chín, lòng tôi lại dâng lên những kỷ niệm và quá khứ êm ái của làng quê mình. Giờ đây, cuộc sống cuốn đi, những no đói thường nhật, chẳng có lúc nào nghĩ về những năm tháng ấy nữa. Tôi đi đến các vùng quê, tuy đã đô thị hóa, khang trang hơn, đồng ruộng lui dần vào dĩ vãng, nhưng đây đó vẫn còn những cánh đồng lúa chín bát ngát hương thơm, những người nông dân được trang bị cơ giới hóa, tôi đã gặp họ. Nhưng câu chuyện qua đi, không còn nhớ nữa. Nhưng tôi chẳng thể nào quên, tôi đã cố chắp nối những ký ức nhỏ bé ấy thành một câu chuyện, hy vọng để mình không quên đi và cũng bày tỏ lòng biết ơn với cây lúa, hạt thóc, bát cơm đã nuôi nâng chúng ta thành hình hài bé nhỏ.
Xem thêm
Mưa Sài Gòn - Truyện ngắn Vũ Thanh Hoa
Nàng là phụ nữ, lại là phụ nữ đa cảm, những cử chỉ dịu dàng giản dị nho nhỏ của anh đủ sức trấn áp những nổi loạn, những mơ mộng dại dột lâu lâu lại nảy sinh trong cái đầu bé nhỏ, xinh xắn nhưng rắc rối của nàng. Chắc là anh đang vui và mãn nguyện. Họ đang trên đường đi mời bạn bè dự đám cưới mình.
Xem thêm
Chạm mặt chúa rừng - Truyện ngắn của Hồng Chiến
Mấy cậu học trò vừa bắt cá, vừa trêu đùa nhau vui vẻ vượt lên phía trước. Vân Trang theo sau, dùng đèn pin soi bên bờ suối xem cá kéo cả bầy ăn quả ươi rơi chìm dưới suối. Trên mặt đá nằm dưới làn nước, gần sát bờ có loại rêu mọc xanh màu đọt chuối, thân và lá gần giống như hoa mười giờ, nở hoa màu đỏ tươi, năm cánh, cánh hoa giống như cánh hoa hồng. Bầy cá chỉ to hơn đầu đũa một chút, sống lưng màu đen, phía bụng vảy màu vàng tươi kéo dài đến tận đuôi, vây quanh các bông hoa như đang ngắm nhìn.
Xem thêm
Thuần hương - Truyện ngắn
Đây không phải kiểu truyện đọc để biết chuyện gì xảy ra, mà là kiểu truyện đọc để đắm trong một trạng thái cảm xúc và suy tưởng.
Xem thêm
Mùa phượng chết - Truyện ngắn của Việt Nga
Đêm, hai thằng ngồi ở góc xa nhất của sân vườn nhà Thắng nên không nhìn rõ mặt nhau. Chỉ thấy đốm thuốc trên môi Thắng tắt rồi lại lóe liên hồi. Thắng chưa khi nào tưởng tượng ra rằng Ngân có đủ dũng khí đến gặp Hoa, khóc nức nở thú nhận cô đang mang trong mình giọt máu của anh, rồi van xin Hoa hãy nhường Thắng cho cô, để con cô có bố. Hoa xinh đẹp, giỏi giang, thiếu gì chọn lựa. Còn Ngân, nếu Thắng không chịu cưới, thì chỉ còn một lựa chọn duy nhất là cái chết. Đó là khi giữa Thắng và Ngân hoàn toàn chưa có chuyện gì. Đến lúc “có chuyện gì” thì chưa kịp biết Hoa có sao không, Thắng đã phải vội vã làm đám cưới. Sau đám cưới cả năm trời Ngân mới mang bầu. Vậy mà… Người xúi Ngân việc đó là Hoàn. Và âm mưu ấy đã thành công như mong đợi. Không một lần Hoa ngoảnh lại nhìn Thắng nữa.
Xem thêm
Giấc ngủ đại ngàn – Truyện ngắn Vũ Minh Phúc
Khi bắt đầu viết truyện ngắn này, em đã cố gắng hình dung và nhớ lại khu rừng mang tên ông: Tướng giáp. Ông là vị tướng của nhân dân, vị tướng của hòa bình, có điều gì cuốn hút đến thế. Và những nơi ông đi qua, những chiến tích ông từng làm cho nhân dân ta, đều khiến lớp trẻ chúng em muôn phần kính trọng, tự hào và ngưỡng mộ. Làm sao có thể quên đi được những trang sử hào hùng ấy. Làm sao không kính trọng một con người, một vị tướng đã trở thành huyền thoại ngay cả khi ông còn sống. Em cứ nghĩ đã có một cánh rừng đại ngàn đã đi vào giấc ngủ và cũng có một vị tướng huyền thoại cũng chìm trong giấc ngủ ngàn thu ở Vũng Chùa – Đảo Yến: Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Xem thêm
Chuyện cổ tích – Truyện ngắn Nguyễn Thị Việt Nga
Một năm trôi qua, rồi nhiều năm trôi qua, cuốn sách vẫn ở yên trên bàn khách sạn. Trong ngần ấy thời gian, có biết bao nhiêu khách lưu trú đã ra vào căn phòng ấy. Có người không ngó đến cuốn sách một giây. Họ thuê phòng khách sạn khi đêm khuya và ra đi khi mặt trời còn chưa mọc. Nhưng cũng có người ở đến mấy ngày. Họ cầm sách lên, ngắm nghía, lật ra, tò mò đọc những dòng thư nhắn của bà chủ và rồi lại để lại chỗ cũ… Cuốn sách cứ nhẫn nại chờ đợi. Nó nhẩm tính trong đầu, với ngần ấy thời gian, cô chủ nhỏ ngày xưa cũng đã lớn lắm rồi. Có thể cô không còn thích đọc truyện cổ tích như ngày xưa nữa… Cũng có thể cô đã không còn nhớ mình từng có một cuốn truyện cổ tích thế này ... Nhưng nó vẫn kiên trì chờ đợi và hy vọng…
Xem thêm
Đóa hồng đẫm sương – Truyện ngắn của Võ Chí Nhất
Nhà văn Võ Chí Nhất là một cây bút trẻ kiên trì sáng tạo dòng văn trinh thám - tội phạm, với series truyện về nhân vật Đại úy Hà “ớt”. Anh bắt đầu sự nghiệp viết lách từ 2013, tiểu thuyết Pho tượng cổ được NXB Công an nhân dân xuất bản năm 2025 là tác phẩm thứ 7 của anh.
Xem thêm
Nhang Tàn – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
Ngồi một mình trong căn phòng làm việc nhỏ, nơi tòa soạn đã thưa người. Thành phố ngoài kia vẫn ồn ào, tiếng xe, tiếng rao hàng, tiếng gọi nhau í ới mua mai, mua bánh, tất cả hòa lại thành một bản nhạc quen thuộc của những ngày cuối năm. Huệ nhìn ra ô cửa kính, nắng rớt xuống từng mảng vàng nhạt, mỏng như một lớp ký ức đang chậm rãi phủ lên lòng mình.
Xem thêm
Cuộc nhường ghế vĩ đại – Truyện ngắn của Hồng Luân Anh
Vì nể mặt ông bác họ của cậu hàng xóm – dù khi ấy đầu óc tôi đã tít tắp ở vương quốc Biêng-biêng rồi – tôi vẫn bấm bụng ngồi rốn làm thêm một chập nữa đến tận hai giờ sáng. Bốn tiếng sau, bắt gặp tôi ở hành lang, cu cậu vò mái đầu rối, lè nhè với cái miệng sủi bọt trắng xóa cùng cán bàn chải nhựa lòi ra.
Xem thêm
Ta là ai? – Truyện ngắn của Trần Đôn
“Ta là ai?” của Trần Đôn (Bình Dương) là câu chuyện về một thân phận bị đặt giữa hai bờ lịch sử – nơi lựa chọn đôi khi không thuộc về cá nhân, và câu hỏi về căn tính trở thành nỗi day dứt kéo dài suốt một đời người.
Xem thêm
Di ảnh người lính Gạc Ma – Truyện ngắn của Huỳnh Mẫn Chi
Sài Gòn sáng sớm, luồng khí vẫn còn trong trẻo, thanh khiết, thong dong chưa kịp bắt nhịp sống tất bật của ngày mới.
Xem thêm
Dư vang trong đá – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Chàng chẳng còn gì. Không ngai vua. Không cả nước. Chỉ còn một thân thể rách nát và một trái tim bị đánh cắp. Không khi nào trong giấc mơ thời trẻ, chàng từng nghĩ tới vương miện, ngai vàng, bảo kiếm. Chàng từng chỉ mong một mái nhà nhỏ giữa rừng, một người bạn tri kỷ, một thư phòng và một chốn hoa nở thơm ngát bốn mùa, trăng in đáy nước để bình thơ. Giấc mơ ấy đã bị đánh cắp – bởi chiến lược, bởi quyền lực, và bởi niềm tin rằng mọi thứ trên đời có thể toan tính được.
Xem thêm
Cứu người đẹp - Truyện ngắn của Lê Thanh Huệ
Cứu người đẹp – hay cứu một trật tự? Một truyện giả cổ, đọc như ngụ ngôn về luật và lòng người.
Xem thêm
Giờ linh – Truyện Võ Đào Phương Trâm (Kỳ cuối)
Một ngày tháng Năm, ngôi dinh thự trở nên vắng lặng, cửa khóa ngoài, đã một tuần trôi qua, người ta không thấy những chiếc xe oto ra vào khu dinh thự. Đèn khuôn viên không còn bật sáng, ngôi nhà chìm trong bóng đêm, chỉ còn những tàng cây cổ thụ đong đưa và tiếng côn trùng rền rĩ. Một vòm kiến trúc vốn là niềm tự hào của dân làng Đại Mẫu, nay trở thành địa điểm bỏ hoang, mang màu sắc tâm linh và bí ẩn.
Xem thêm
Giờ linh - Truyện Võ Đào Phương Trâm (Kỳ 1)
Ánh đèn màu đỏ, ám đục như làn sương mờ ảo, bị bám bụi lâu ngày. Những con phù du bé nhỏ đong đưa ở những quầng sáng le lói để tìm sự sống. Người đàn bà trong ngôi nhà cổ, rêu phong phủ lạnh không gian, thâm sâu như đáy vực, bà ngồi im lặng, phía trước con đường hun hút nhỏ hẹp, lần sâu vào bên trong ngôi nhà, chẳng thấy lối đi, chỉ thấy một màu đặc sệt của bóng đêm. Ngôi nhà này chỉ có duy nhất người đàn bà trú ngụ.
Xem thêm