TIN TỨC
  • Truyện
  • Hai người mẹ | Truyện ngắn của Lê Thanh Huệ

Hai người mẹ | Truyện ngắn của Lê Thanh Huệ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-09-13 17:25:26
mail facebook google pos stwis
4149 lượt xem

LÊ THANH HUỆ

Lúc mới nhìn thấy xác thằng Mỹ chết, đầu gối lên mộ anh Hai, bà Bảy thấy hả hê trong lòng. Nếu mày biết xác thằng Hai con tao, bị chúng mày buộc vào xe lội nước kéo cho tới lúc vướng vào gốc cây, xé làm đôi vẫn chưa chịu buông tha, chỉ vì nó không chịu buông súng đầu hàng chúng mày. Nằm đó mà chờ đồng bọn của mày đem túi nhựa đến bọc xác mang về Sài Gòn, phủ cờ Huê Kỳ đưa về Mỹ. Coi chừng, cờ tụi bây không đủ để gói xác tụi bay nếu không cút về nước cho sớm.

Bà Bảy quay lưng ra về. Được chục bước chân, bà đứng lại. Bà có cảm giác đôi mắt xanh của thằng Mỹ dại đi vì đau đớn vẫn cố nhìn theo bà cầu cứu, van xin. Cúi xuống, bà vuốt mắt cho nó. Cặp mắt lạnh ngắt, cứng đờ của thằng Mỹ nhận được hơi ấm từ bàn tay bà, mi mắt mềm ra, cụp xuống. Giờ thì thằng Mỹ trắng vĩnh viễn đi vào giấc ngủ ngàn thu. Chết còng queo, đau đớn như vậy khó coi lắm. Tiện tay bà sửa lại thế nằm cho nó cho ngay ngắn hơn. Bà kéo bàn tay phải của nó ra khỏi túi áo ngực. Theo bàn tay, tấm ảnh đen trắng cùng phong thư rơi ra. Bà Bảy nhặt lên xem. Trong ảnh, người phụ nữ đứng tuổi có vẻ mặt đăm chiêu, mái tóc sáng màu, đôi mắt xám đầy vẻ lo lắng đang nhìn lại bà. À, ra vậy: Trước lúc chết mày còn nhớ đến má của mày. Sao chúng mày không nhớ đến má của những đứa trẻ khi chúng mày trút bom, trút đạn lên chúng. Bà cau mặt nhét trả lá thư và tấm ảnh vào túi áo tên lính Mỹ rồi quày quả bước đi.

Đêm buông, pháo bắn gần, tiếng nổ nghe rất âm. Bà Bảy ôm thằng Út vào lòng, nhớ tới tấm ảnh hồi chiều. Giờ này, má nó nóng ruột lắm đây. Bà đâu biết được xác con mình đang nằm mãi tận mảnh đất xa xôi này, lạnh lẽo, không một ánh đèn, không một người ngồi bên… Đáng kiếp lính xâm lược, chỉ tội cho má nó thôi. Có lẽ nó bị đụng trận hồi sáng ở ấp bên với du kích. Không hiểu làm sao, với cái bụng thủng như vậy mà nó chạy lạc đến tận đây, tìm đến đúng chỗ mộ thằng Hai mà chết. Thôi, nằm đó đi, ngày mai tụi nó kiếm, đem về.

Sáng sớm, trên đường ra ruộng, bà Bảy ghé mộ anh Hai. Pháo phạt bụi tre bùng nhùng, tơi tả. Một quả nổ gần mộ anh Hai, tiện mất đôi chân thằng Mỹ và xoay thân nó thành nằm nghiêng. Nhờ nấm mộ che chắn, khuôn mặt nó vẫn còn nguyên vẹn. Mày chết hai lần, mà lần này là do chính đồng bọn của mày giết mày đó. Bà Bảy cúi xuống, lật hắn lại, lấy chiếc nón che cho ánh nắng sớm khỏi chiếu vào mặt nó. Không biết đến bao giờ thì tụi nó mới lần ra dấu mày chạy lạc để đến đây đem xác mày về.

Buổi chiều, bà Bảy lại ra đồng. Đi ngang cái xác đã đen lại dưới nắng, bà thấy mủi lòng. Vậy là chúng nó bỏ mày luôn rồi đó. Thôi thì chết đâu chôn đó. Ở đất nước này, đâu cũng vậy thôi; người chết không thân nhân đến nhận thì dân ở đó chôn, hương khói như người quá cố sống ở đó. Tao thay má của mày chôn mày vậy.

Bà Bảy về nhà, lẳng lặng gom hai tấm vải nhựa cũ, mấy sợi dây và cái cuốc. Mình bà loay hoay bó cái xác, đào hố chôn cạnh bụi tre, cách mộ ông Bảy và anh Hai chục bước chân. Bà không nói cho ai biết. Nói làm gì, nó là thằng lính Mỹ, nhưng đã chết rồi, cũng là cái xác của một con người. Một cái xác người trên đất của bà, bà cho miếng đất để chôn. Đó là lẽ đương nhiên. Có điều nó là tên lính xâm lược, không thể sống gửi nạc, thác gửi xương ở đây được nên bà chôn tạm. Bà bó xác vào vải nhựa không phải là theo cái cách chôn cất của lính Mỹ mà để sau này dễ bề đem về bên Mỹ.

Đã chôn là có mả. Dù nhỏ, dù không được cây nhang cắm chân thì cũng là mộ. Đất cát pha qua vài mùa mưa, nấm mộ thấp tè xuống, cỏ mọc tràn lên. Phải mất mấy năm sau, một lần lưỡng lự, bà bớt cho nó một cây nhang. Bà lầm rầm: “Xuống dưới đó, biết tội của mày rồi thì ráng ăn năn, ráng phù hộ cho quân giải phóng đánh giỏi, thắng lớn. Có vậy mới mau hòa bình, đặng tao mới gởi được mầy về bển với má mày, với bà con họ hàng của mày”. Đối với bà Bảy, không chỉ những người sống ra trận mà hồn thiêng các liệt sĩ, những người đã khuất vì bom đạn Mỹ và hồn thiêng cha ông đều cùng ra trận, chở che cho đàng mình, dẫn lũ giặc vào nơi đền tội. Lúc sống làm việc tội lỗi, chết rồi sẽ phải ăn năn tìm cách chuộc tội thì mới coi là linh hồn con người được. Bà cắm nhang. Khói từ cây nhang cháy đỏ trên mộ anh Hai, nhưng chưa đến nơi, cơn gió thoảng đẩy nó bay tạt đi, mất hút vào không trung. Bà Bảy đứng nhìn, lắc đầu, lặng lẽ trở về nhà.

*

Sau năm 1973, khi Mỹ rút hết quân về nước, trong đám giỗ anh Hai, bà Bảy có khấn thêm bảo anh Hai mời thằng Mỹ. Sợ con mình chạnh lòng, bà phân trần thêm: “Đồng bọn của nó đứa còn sống cũng đã về đến xứ, sum họp gia đình, đứa chết trận cũng được chôn cất nơi quê nhà. Một mình nó ở lại đây, côi cút lắm. Má nó ở tận bển, làm sao biết nó còn hay mất đặng cầu nguyện cho nó đỡ lạnh lùng”.

Trong niềm vui miền Nam hoàn toàn giải phóng, má Bảy còn có niềm vui nữa: gặp lại anh Ba, con của má. Anh Ba là bộ đội chủ lực miền được cử ra miền Bắc học thành kỹ sư, cán bộ, giờ được tăng cường về lại Sài Gòn. Đã mấy năm trời má bặt tin, ngày đêm lo cho con. Giờ con của má trở về lành lặn, lại được bà con miền Bắc cưu mang, lo cho học hành đến nơi, đến chốn, còn gì vui hơn.

Niềm vui chưa trọn, chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra. Anh Út tình nguyện nhập ngũ, cầm súng bảo vệ biên cương tổ quốc. Tuy hàng tháng nó có gởi thơ về, nhưng nó là con út. Má làm sao yên lòng được khi nó ở xa má.

Lo lắng, rồi má tự an ủi mình cho dịu bớt nỗi lo. Má tự nhủ: những người mẹ nơi con mình đóng quân sẽ cưu mang nó như má và những người mẹ khác từng cưu mang những người con từ khắp mọi miền đất nước chiến đấu vì đất nước mình. Không những tự nhủ, tự an ủi mà thực sự má Bảy tin như vậy. Không có thành lũy nào đầy yêu thương, tin cậy và vững chắc bằng tấm lòng người mẹ.

Chiến tranh đã đi qua mảnh đất này từ lâu, má Bảy nào có bớt được gánh nặng lo toan. Ngoài công việc đồng áng, việc nhà, má còn lo thăm hỏi, giúp đỡ các má có con là liệt sĩ khi ốm đau, lúc khó khăn. Cùng các má động viên sắp nhỏ có lệnh nhập ngũ. Công việc của Hội Mẹ chiến sĩ. Rồi lo chắt bóp có tiền giúp gia đình anh Ba, gom đủ tiền xây dựng nhà chờ anh Út ra quân…

Mộ ông Bảy, mộ anh Hai được đưa vào nghĩa trang liệt sĩ huyện. Còn trơ lại mộ thằng Mỹ trắng càng thấp hơn, cỏ mọc xanh rờn như muốn xóa sạch dấu vết.

Ngày tảo mộ, sau khi ra nghĩa trang liệt sĩ thắp nhang, lo cho phần mộ ông Bảy, anh Hai, má bớt chút thời gian làm ruộng để giãy mả và thắp nén nhang cho thằng Mỹ. Anh Ba biết chuyện, hỏi, má thủng thẳng:

Mộ thằng Mỹ. Nó chết tại đây. Má không biết gia đình nó ở đâu. Con nghĩ coi có cách chi nhắn họ đến đem nó về.

Sực nhớ, má lục hòm cũ lấy ra bức ảnh và phong thư má đã cất giùm thằng Mỹ hơn hai chục năm. Tấm ảnh ngả màu vàng úa. Phong thư bị gián gặm mất rìa, coi giống tập giấy vụn. Anh Ba liếc qua, không đọc được.

Anh mang hết về Sài Gòn. Tuần sau anh về, nói với má đại để: Người lính Mỹ đó tên là Michel Browning. Lá thơ là của bà Katherine Browning gửi cho con. Má Bảy sốt ruột ngắt lời con:

Đừng đem mấy chữ rách đó ra dọa má. Gọi là thằng “Mai-cơn”, bà “Mai-cơn” là được rồi. Nói tiếp cho má nghe coi.

Dạ, trong thơ bà “Mai-cơn” nói bà rất lo lắng, đêm ngày cầu Chúa phù hộ cho con bà được bình an. Bà chỉ mong đến ngày con bà mãn hạn quân dịch để trở về quê hương. Chiến tranh do chính người Mỹ gây ra ở Việt Nam. Đừng để thanh niên Mỹ hiểu lầm, sang Việt Nam gieo rắc chết chóc cho người dân bản xứ vô tội và cho cả chính mình…

Má biết rồi - Má Bảy nói như là chuyện này má đã biết từ lâu - Hơn hai chục năm bả đứt ruột chờ con! - Má chép miệng: - Chết hơn hai chục năm rồi mà chưa có được ngày giỗ, tấm bia…

Anh Ba gạt đi:

Chết là hết. Người Mỹ không giỗ chạp, ma chay như bên ta.

Má Bảy rầy con:

Chính vì tụi lính Mỹ, tụi ác ôn cho rằng chết là hết, không sợ cả sự trừng phạt. Phải chi tụi nó lỡ tới đây rồi, biết nhập gia tùy tục, lo chuyện mần ăn với người Việt thì đâu đến nỗi... Mà thôi, người đã mất, đừng nhắc chuyện không phải của họ.

Má Bảy ra nghĩa trang tìm mộ Năm Thanh. Năm Thanh hy sinh trong trận càn hôm đó. Ngày năm Thanh hy sinh cũng là ngày “Mai-cơn” chết. Người sống có nhà cửa, chết đi có mộ, bia. Má biểu anh Ba làm cho Michael cái bia và dặn khắc thêm: sanh ở Hoa Kỳ, mất tại Việt Nam ngày… tháng… năm… Có bia rồi má đem đặt vào cuối mộ, nơi có mấy nhánh tre vươn ra. Đám giỗ của Michael cũng có mâm cơm, nén nhang nhưng khác với đám giỗ ông Bảy, anh Hai, không rình rang, không có nước mắt, không có ai đến dự, thậm chí không ai biết ngoài má Bảy.

*

Cả ấp, cả xã xôn xao về việc có một bà đầm cùng với anh phiên dịch cũng là tài xế đến thăm nhà má Bảy. Hai bà già, một to, cao mập ú; một thấp bé, gầy yếu, chỉ giống nhau mái đầu bạc trắng ngồi chuyện trò với nhau cả tiếng. Đám nít nhỏ tò mò thấy rõ ràng má Bảy đưa bà đầm, anh phiên dịch ra góc ruộng nơi có lũy tre nhà má Bảy. Má Bảy thắp nhang, còn bà đầm làm dấu thánh, cầu nguyện. Bà đầm khóc. Nước mắt dễ lây, má Bảy cũng sụt sịt. Khói nhang mỏng mảnh bay lên, do dự lượn quanh rồi chia làm hai nửa rụt rè ôm gọn hai mái đầu bạc trắng. Hình như bà đầm vịn vào vai má Bảy và má Bảy đưa tay dìu bà đầm vào nhà.

Đầu giờ chiều, họ cùng ra ủy ban xã. Má Bảy nói vắn tắt bà “Mai-cơn” muốn đóng góp chục ngàn đô (USD) để xây thêm phòng và mua sắm thiết bị cho trạm xá xã. Đồng chí chủ tịch xã bối rối, sợ có điều không minh bạch, mới hỏi nhỏ anh phiên dịch. Anh này nói đó là số tiền mà bà Browning biếu má Bảy nhưng má không nhận. Sau khi bàn bạc kỹ, hai bà thống nhất như vậy. Má Bảy sốt ruột nhắc:

Chuyện không có chi. Nói ra dông dài chỉ mất công. Bay nhận đi cho bả được an ủi phần nào, dưới suối vàng, vong linh con bà cũng được cứu rỗi đôi chút. Bà khổ vì mất con, lại cực lòng do những tội ác lính Mỹ trong đó có con bà gây ra cho Việt Nam.

Chiều đó, má Bảy giữ bằng được bà Browning và anh phiên dịch dùng bữa cơm chiều. Má nói: “Một bữa dù là cơm rau cũng phải ăn cho má không áy náy vì để khách xa hàng chục ngàn cây số đến đây phải nhịn đói ra về…”.

Tiễn bà Browning ra xe, má Bảy hứa trong thời gian chờ Chính phủ Mỹ, được phép của Chính phủ Việt Nam cho đưa hài cốt Michael Browning về Hoa Kỳ, má Bảy sẽ chăm sóc phần mộ của Michael theo phong tục ở đây.

Dùng dằng, bà Browning lấy khăn mùi soa lau nước mắt. Má Bảy rưng rưng. Má cảm thấy như mình quen bà Browning đã lâu, lâu lắm rồi và lần chia tay này cũng là lần cuối. Vĩnh viễn hai người mẹ sẽ không được gặp nhau nữa… Có phải nỗi đau của những người mẹ gặp nhau ở đạo lý, tình người nên có chung tiếng nói. Có phải sự ân cần của má Bảy là vì không muốn làm cực lòng thêm cho người mẹ Mỹ đã trải qua gần một vạn ngày đêm ngóng trông tin tức đứa con mất tích trong chiến tranh Việt Nam và luôn khắc khoải hy vọng nó còn sống, nó trở về. Để rồi đến hôm nay, bà đau đớn biết con mình đã chết, thật sự chết ngay tại cái xứ sở đầy tình người, thiện chí, vị tha và luôn lo ươm mầm cho sự sống của đời sau.

Có phải chính vì vậy mà má Bảy không nói cho bà Browning dù là một chút về chồng của má, về con của má đã chiến đấu anh dũng và hy sinh như thế nào. Và cả cho đến hôm nay má vẫn còn canh cánh trong lòng nỗi lo mình vẫn chưa làm tròn phần việc của chồng con để lại…

Long An, ngày 10-01-1995

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mùa hoa gạo đỏ - Truyện ngắn Đặng Thị Phúc Hải
Tháng Ba ở làng Ngái không chỉ đơn thuần là một mùa đi qua. Đó là khoảng thời gian đất trời chạm vào nhau trong một vẻ đẹp hư ảo, khi dòng Kiến Giang trầm mặc như dải lụa xanh rêu, lặng lẽ ôm ấp linh hồn mảnh đất này trong vòng tay bao dung và miên viễn. Trong cái tiết trời giêng hai lất phất mưa phùn ấy, làng Ngái hiện ra như một bức họa thủy mặc đang chuyển mình tỉnh thức, nơi mùi hương nồng nàn của hoa xoan rắc tím những lối nhỏ ngoằn ngoèo, hòa quyện với hơi thở của đất ẩm và tiếng thở dài của những mùa cũ. Từ phía đình Ngái, nơi hai cây gạo già đã đứng đó qua bao mùa mưa nắng, sắc đỏ của những bông hoa gạo bắt đầu thắp lên giữa vòm trời, như những đốm lửa nhỏ âm thầm cháy trong ký ức của cả một làng quê. Ở làng Ngái, mỗi mùa tháng Ba về đều mang theo một nỗi bâng khuâng khó gọi thành tên. Dòng Kiến Giang vẫn chảy chậm rãi như thuở nào, mang theo những câu chuyện của đất, của người, và của những linh hồn từng rời đi nhưng chưa bao giờ thật sự rời khỏi miền ký ức này.
Xem thêm
Thương câu hát cũ – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
“Có những điều không còn ở lại giữa đời, nhưng câu hát cũ thì vẫn ở lại trong lòng người.”Dưới bến phà cũ của một thị trấn ven sông Hậu, người ta quen nhìn thấy con nhỏ Hai Thương ôm cây đờn kìm đi qua mỗi buổi tối. Nó không phải nghệ sĩ nổi tiếng gì, chỉ là đào trẻ của một đoàn cải lương tỉnh lẻ, vậy mà bước chân lúc nào cũng ngay ngắn, như thể sàn đất quê mình chính là sân khấu lớn. Hai Thương sinh ra trong một gia đình có truyền thống ca tài tử. Ngoại nó từng ca vọng cổ trong những đêm cúng đình, giọng trong và cao vút. Má nó theo đoàn hát mấy năm tuổi trẻ, sau lấy chồng rồi nghỉ. Ba nó làm nghề vá lưới, ít nói, nhưng mỗi lần nghe ai mở bản Dạ Cổ Hoài Lang là ngồi im lặng rất lâu. Trong căn nhà lợp tôn nóng hầm hập buổi trưa, tiếng đờn và tiếng ca là thứ âm thanh quen thuộc như tiếng gà gáy sáng.
Xem thêm
Câu cua – Truyện ngắn Lê Văn Tám
Sơn bơi xuồng về, nó ấm ức lắm vì ông Giáo keo kiệt không cho anh em nó mượn cái bình, bình ac quy Đồng Nai nhà nó hết điện đem đi sạc hôm qua, nhanh thì cũng phải hai hôm nữa mơi đủ điện lấy về. Tức lắm, sau này đi học điện, kéo điện về sài cho đã, mua cái tivi màu 50 in coi cho thấy cả cỏ trên sân, thấy cả lông chân cầu thủ, khỏi tivi trắng đen, nạp bình chi cho mệt người. Nó làu nhàu nói với Thành.
Xem thêm
Cát lư hương - Truyện ngắn Lệ Hằng
“Ba, ba… ơ kìa ba!”. Cánh cổng bị chiếc xe va trúng kêu xoảng lên một tiếng khó chịu vô cùng. Tôi nhìn người đàn ông lưng khòm gầy guộc quẩy chiếc nón đội lên đầu rồi dứt khoát đẩy xe cát ra khỏi sân mà chới với gọi theo.
Xem thêm
Đi qua mình truyện ngắn Chu Phương Thảo
Căn nhà nhỏ chìm trong một thứ im lặng quen thuộc đến mức không còn ai đủ sức gọi tên. Không tiếng cãi vã, không lời trách móc, cũng chẳng có một câu xin lỗi hay chia tay nào để khép lại những điều đã nứt vỡ từ rất lâu. Chỉ có hai con người, mỗi người ngồi trong phần tối của riêng mình, lặng lẽ chịu đựng một nỗi đau khác biệt, như thể sự im lặng này đã trở thành cách duy nhất để họ còn có thể ở lại bên nhau.
Xem thêm
Trở lại Phong Điền - Truyện ngắn Kim Quyên
Xe đang qua cầu Cần Thơ. Cây cầu thế kỷ lừng lững soi bóng trên dòng nước bạc mênh mang, những chiếc dây giăng khổng lồ nối từ nóc xuống thân cầu khiến ta không thể hình dung được khối óc và bàn tay con người đã làm nên những chiếc cầu đẹp, hiện đại mang tầm cỡ thế giới. Ban đêm, chiếc cầu mới khoe hết những nét rực rỡ của nó, đèn hoa giăng quanh cầu nhấp nháy khiến khi ngồi trên xe ta có cảm giác đang trôi trên dãy ngân hà của thời hồng hoang nào đó. Phía dưới là dòng sông mênh mông sóng vỗ, những cụm lục bình trôi mãi về nơi chân trời xa tít…
Xem thêm
Cố nhân - Truyện ngắn Cao Duy Sơn
Trở về Cô Sầu, anh đã đi qua hai mươi ba năm, ba tháng, hai mươi ba ngày. Đuôi các con số kết bằng con số ba trùng hợp thật ngẫu nhiên. Bước qua phố nhỏ, mái ngói tuềnh toàng gợi bao ký ức. Thời gian làm con người đổi thay nhưng phố xưa vẫn phố xưa đây.
Xem thêm
Rừng Thiêng - Truyện ngắn Võ Đào Phương Trâm
Rừng mang linh hồn từ máu và nước mắt, những lời nguyền kỳ bí không ít lần vận lên ngôi mộ của những gã ngông nghênh, hằn sâu ấn tích cho những ai vắt cuộc đời mình bằng nghề lộc gỗ mà không hiểu được nguyên tắc từ nơi rừng thiêng nước độc...
Xem thêm
Linh hồn bị giam cầm – Truyện ngắn Angela Kosta
Angela Kosta sinh ra tại Elbasan (Albania) và sống tại Ý từ năm 1995. Bà là Giám đốc điều hành của các Tạp chí: MIRIADE, NUANCES ON THE PANORAMIC CANVAS, BRIDGES OF LITERATURE, biên tập viên, nhà viết tiểu luận, nhà báo, nhà phê bình văn học, nhà xuất bản và nhà quảng bá văn học. Bà đã xuất bản 25 cuốn sách: tiểu thuyết, thơ và truyện cổ tích bằng tiếng Albania, tiếng Ý, tiếng Ả Rập, tiếng Pháp, tiếng Hàn, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh. Tác phẩm của Angela Kosta đã được dịch và xuất bản ở 40 ngôn ngữ nước ngoài và quốc gia. Năm 2023, tạp chí OBELISK tuyên bố bà là dịch giả xuất sắc nhất với bản dịch của nhà thơ đoạt giải Nobel Giosuè Alessandro Giuseppe Carducci.
Xem thêm
Genki và chiếc nắng trước hiên – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
Chiều ấy, nắng chạm rất khẽ vào lưng Genki. Cái bóng của nó in xuống nền gạch. Hơi méo, hơi lệch nhưng rất rõ một cái bóng đủ đầy. Tôi chợt hiểu: con người ta, cả đời đi tìm hai chữ “hoàn hảo”. Nhưng có lẽ, điều đáng quý hơn là “toàn vẹn”. Toàn vẹn trong chính hình dạng của mình. Toàn vẹn trong những gì mình có, chứ không phải trong những gì mình thiếu. Genki không dạy tôi cách trở nên mạnh mẽ, nó dạy tôi cách trở nên dịu dàng với chính mình.
Xem thêm
Như xuân tìm xứ – Truyện ngắn của Tống Phước Bảo
Thằng Ấu nhất quyết chỉ có cha già xuôi ghe từ Cái Rơn xuống chợ đèn dầu mỗi cuối tuần mới biết. Chứ hỏi khắp cái chợ thì ai cũng lắc đầu nguầy nguậy. Đám bán chợ này sinh sau đẻ muộn, khi mà trái sáng đã thôi rơi ngoài phía rạch, hỏa châu thôi làm đèn soi đêm khu bốn.
Xem thêm
Tôi viết truyện ngắn Tết - Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều
Một buổi chiều khi chị đang tha thẩn trong vườn bên những khóm hoa hồng thì Giêm bước đến và nói gì đó nhưng chị không hiểu. Chị vô cùng lúng túng và khó chịu. Chị muốn bỏ vào nhà. Nhưng thấy Giêm vẫn hào hứng nói chị không lỡ bỏ đi. Đang lúc chị không biết làm cách nào thì chàng nhà văn trẻ xuất hiện. “Cậu làm gì mà mất mặt cả chiều thế. Cậu có nhiệm vụ làm phiên dịch cho chúng tôi đấy’’. Chị gắt một cách vô lý. Hình như Giêm cũng rất mừng khi chàng nhà văn trẻ xuất hiện. Giêm nói một tràng dài. Chị muốn biết Giêm nói gì nhưng không giục chàng nhà văn trẻ dịch. “Tôi cũng không có nhu cầu nghe’’. Chị nói thầm. “Anh ấy bảo nhà anh ấy cũng có một khu vườn nhỏ và đầy hoa hồng – Chàng nhà văn trẻ dịch – Một năm sau khi từ chiến trường Việt Nam trở về, anh ấy bị trầm cảm.
Xem thêm
Người giỏi Sán Trá - Bút ký của Thế Quynh
Vượt dốc Bản Công, chiếc xe Honda Win 100 chạy ì ì, tiếng máy gằn lên nặng nhọc. Ngồi sau tay lái Hờ A Xà - nguyên cán bộ văn hóa xã Bản Công (nay là xã Hạnh Phúc) mà lòng tôi cứ thấp thỏm mỗi lúc vào cua. Hơn chục km, phân nửa thuộc thôn Bản Công đã bê tông hóa, còn lại vẫn là đường đất.
Xem thêm
Con Ngọ và tôi - Truyện ngắn Kim Quyên
Năm đó, con Ngọ 16 tuổi, còn tôi hơn nó 2 tuổi. Nó con ông cậu, em ruột của má tôi nên nó kêu tôi bằng chị. Gia đình bên ngoại nó không có dì cậu nào hết nên nó xem tôi như người chị ruột. Hai chị em gặp nhau là tíu tít không rời.
Xem thêm
Người cận vệ của vua Hàm Nghi - Truyện ngắn của Trần Thúc Hà
Một người ở xuôi thường lên xuống các bản làng dân tộc thiểu số bán muối và mua các sản vật của rừng. Người ấy cũng đã có vài lần đến bản ông, một bản làng tận rừng sâu heo hút trên dãy Trường Sơn, nơi thượng nguồn sông Long Đại, sông Nhật Lệ, sát biên giới với nước Lào.
Xem thêm
Mây trắng Tràng An – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Từng dải dài lững lờ như tơ trời vắt qua bầu không gian xám nhạt. Có cụm mây xốp như gấm, có mảng mây mỏng như làn khói, có vệt rời rạc như hơi thở cuối cùng của một người hấp hối. Tất cả trôi, không âm thanh, không phương hướng. Trôi như đã trôi ngàn năm trên trời đất Tràng An này.
Xem thêm
Hoa vẫn nở - Truyện ngắn của Nguyễn Thị Minh Phương
Hoa vẫn nở của Nguyễn Thị Minh Phương là một truyện ngắn thấm đẫm không khí miền núi, nơi bi kịch gia đình, thân phận người đàn bà và sự mù quáng của lòng ghen được kể lại bằng giọng văn chậm, sâu và nhân ái.
Xem thêm
Khai khẩu - Truyện ngắn của Nguyễn Trường
Lúc đó khoảng 9 giờ sáng, một người lính tìm gặp Diệu Thúy, trao cho cô lá thư, nói là của ngài Trung tá tỉnh trưởng Kiến Hòa.Diệu Thúy hồi hộp mở thư ra đọc: “Gửi cô Diệu Thúy. Việc cô nhờ tôi đã có kết quả, đúng 11 giờ trưa nay, cô đưa cậu Hai đến dinh tỉnh trưởng, phải đúng giờ”. Bức thư làm Diệu Thúy hiểu và bắt đầu lo. Bởi vì, kể ra cô cũng liều thật, bây giờ ngài trung tá tỉnh trưởng làm được theo lời khẩn cầu của cô, nghĩa là cô phải đáp đền những đề nghị của ngài, mà cái đề nghị đó mới oái oăm làm sao.
Xem thêm