TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • “Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam

“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-01-14 23:49:02
mail facebook google pos stwis
839 lượt xem

Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một nhiệm vụ phải được coi trọng nhằm tạo lập được cơ sở xã hội vững chắc để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, là nguồn lực nội sinh quan trọng của đất nước để góp phần “quốc tế hóa” các giá trị văn hóa Việt Nam và “Việt Nam hóa” các giá trị văn hóa quốc tế.

 

Việt Nam lan tỏa giá trị nhân văn và phát triển bền vững tại Trụ sở Liên Hợp Quốc. Ảnh: Tư liệu

 

Cách mạng công nghiệp 4.0 và vai trò của văn hóa trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc

Với ưu thế về công nghệ số, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 diễn ra với tốc độ nhanh, phạm vi rộng và tác động mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội mà trong lịch chưa từng có tiền lệ. Trên lĩnh vực văn hóa, cách mạng công nghiệp 4.0 lan tỏa đến tận “thôn cùng, ngõ hẻm”, sự kết nối thế giới được số hóa, làm mờ đi ranh giới, đường biên văn hóa giữa các quốc gia. Với nhiều nước trên thế giới, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 có thể sẽ đưa đất nước họ bước vào một “thế giới phẳng” mà ở đó nó đang gây ra tác động to lớn đáng ngạc nhiên và đôi khi đầy mâu thuẫn đối với các nền văn hóa trên thế giới. Trong bối cảnh đó, văn hóa Việt Nam phải nhanh chóng tận dụng, khai thác tối ưu lợi thế của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, tạo cho mình nhiều cơ hội mới để không ngừng quảng bá, tan tỏa và khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc. Song bên cạnh đó, văn hóa Việt Nam cũng phải đối diện với nhiều thách thức, nguy cơ mới, trong đó nguy cơ phai nhạt, đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc cũng luôn hiện hữu.

Qua gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu tiêu biểu, tạo lập được nền tảng vững chắc để Việt Nam tiến bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình. Đây là “kỉ nguyên phát triển, kỉ nguyên giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đích đến của kỉ nguyên vươn mình là dân giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu”1. Trong kỉ nguyên mới, văn hóa dân tộc phải vươn lên mạnh mẽ, phấn đấu thực hiện thành công những mục tiêu chiến lược, tạo sự phát triển vượt bậc ở một tầm cao mới, trình độ mới, chất lượng mới, xác lập được vị thế trên trường quốc tế. Do vậy, Việt Nam phải “tranh thủ tối đa thời cơ, thuận lợi, đẩy lùi nguy cơ, thách thức, đưa đất nước phát triển toàn diện, mạnh mẽ, bứt phá và cất cánh”2 như lời của Tổng Bí thư Tô Lâm, để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Một số yêu cầu đặt ra đối với văn hóa trong kỉ nguyên vươn mình

Đảm bảo tính dân tộc và tính quốc tế của văn hóa Việt Nam. Lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã tạo dựng được nền văn hóa kết tinh trong đó ý thức, tâm hồn, cốt cách, tinh hoa… riêng. Chính những bản sắc riêng đó đã trở thành sức mạnh mềm giúp văn hóa Việt Nam chống chọi, vượt qua những âm mưu, thủ đoạn đồng hóa của kẻ đô hộ trong lịch sử. Ngày nay, để hòa nhập mà không bị hòa tan, đòi hỏi người Việt cần ứng xử thông minh, sáng tạo, khéo léo hơn để “quốc tế hóa” những giá trị bản sắc của Việt Nam và “Việt Nam hóa” được những giá trị tiêu biểu, tiến bộ ảnh hưởng từ bên ngoài. Như thế, mỗi người dân Việt Nam dù sống ở đâu đều sẽ tự hào về văn hóa của đất nước, quê hương mình. Và chính họ sẽ đảm bảo văn hóa Việt Nam không bị hòa tan trong cơn lốc toàn cầu hóa, trong môi trường công nghệ số, văn hóa số, công dân số hiện nay.

Đảm bảo mọi sáng tạo văn hóa đều vì con người và luôn đặt con người ở vị trí trung tâm trong sáng tạo, phát triển văn hóa. Chưa bao giờ khoa học, công nghệ lại khẳng định sức mạnh ưu trội của nó như hiện nay. Trí tuệ nhân tạo (AI) có khả năng thu thập, sao chép, cắt ghép, mô phỏng những dữ liệu có sẵn để tạo ra sản phẩm văn hóa mới, cộng với sự lan truyền mạnh mẽ của sản phẩm mới trên nền tảng công nghệ số khiến con người rất khó kiểm soát, nhất là khi chưa được trang bị kiến thức, chưa hiểu đúng giá trị gốc. Do vậy cần phải nhận thức đúng con người là trung tâm và chủ thể sáng tạo văn hóa. Chỉ những sản phẩm văn hóa do con người sáng tạo ra mới phản ánh đầy đủ nhất, chân thực nhất, sinh động nhất và phong phú nhất nhu cầu, khát vọng của mình. Nói cách khác, chỉ những sáng tạo văn hóa của con người mới mang hồn cốt của họ, mới là cơ sở để nhận diện khi họ bước vào cộng đồng lớn hơn. Vì lẽ đó, cần “tôn trọng và bảo vệ sự biểu đạt đa dạng của văn hóa, của người dân, các dân tộc, các vùng, miền”3 để khuyến khích sự sáng tạo, phát triển văn hóa. Đồng thời, tận dụng ưu thế của công nghệ số trong sáng tạo văn hóa số để tăng thêm sức mạnh tổng hợp, xây dựng được nền văn hóa mang đậm yếu tố truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế, tự tin hội nhập với thế giới.

Cùng với đó, phải khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy được tài năng, trí tuệ, phẩm chất… để xây dựng con người Việt Nam thời đại mới, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại. Để từ đó khơi dậy, khuyến khích khả năng sáng tạo vô tận của nhân dân bởi nhân dân chính là người sáng tạo, thụ hưởng và lưu truyền văn hóa tốt đẹp của dân tộc mình.

Luôn chủ động dự báo, ứng phó với những nguy cơ, thách thức. Có một thực tế khách quan là khi tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, nhiều yếu tố văn hóa dân tộc sẽ phải đi từ những bộ phận riêng biệt, khép kín để hình thành những mối liên kết, tác động qua lại, ảnh hưởng và chi phối lẫn nhau nhằm xác lập những giá trị và chuẩn giá trị mới. Các giá trị hiện đại sẽ dùng những ưu thế về khoa học, công nghệ để tấn công mạnh mẽ, làm suy yếu giá trị truyền thống. Ngược lại, các giá trị truyền thống sẽ tìm mọi cách để tự vệ, phản kháng nhằm giữ lại bản sắc riêng. Sự xung đột này có thể diễn ra âm thầm nhưng cũng có khi rất mạnh mẽ, gay gắt và đó cũng là cơ hội để các thế lực thù địch lợi dụng hòng thực hiện âm mưu phá hoại văn hóa, tư tưởng, nhất là tấn công vào giới trẻ. Nhân cơ hội “tranh tối, tranh sáng”, các thế lực thù địch tăng cường truyền bá, du nhập quan điểm, tư tưởng, văn hoá, lối sống “phi nhân tính” của phương Tây, thương mại hoá các hoạt động văn hoá một cách thái quá, gặm nhấm các giá trị văn hóa xã hội chủ nghĩa và bản sắc văn hóa dân tộc, làm cho người ta quên đi nghĩa vụ, quên đi bản quán, gốc rễ, cội nguồn. Vì thế, cần phải nhận diện, dự báo, ứng phó với những nguy cơ, thách thức và phải đặc biệt chú trọng tới việc “chấn hưng và phát triển nền văn hoá Việt Nam trong thời gian tới”4 để phát triển nhanh, bền vững trong kỉ nguyên vươn mình.

Để văn hóa “hòa nhập không hòa tan” trong kỉ nguyên vươn mình

Do hoàn cảnh lịch sử, văn hóa Việt Nam đã trải qua nhiều thử thách mà không bị đồng hóa. Đó là cơ sở, là kinh nghiệm quý để Đảng ta kế thừa, phát triển và vận dụng sáng tạo vào quá trình lãnh đạo đất nước về văn hóa trong kỉ nguyên mới. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng luôn là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của Việt Nam, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nguồn lực vô tận từ nhân dân để xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đồng thời, để văn hóa dân tộc không bị hòa tan trong quá trình toàn cầu hóa, tự tin vững bước trong kỉ nguyên vươn mình, cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:

Một là, đổi mới tư duy về văn hóa

Kỉ nguyên vươn mình của dân tộc sẽ diễn ra đồng thời với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ. Đó là quá trình phát triển không ngừng theo quy mô, mức độ ngày càng rộng lớn, làm thay đổi phương thức sáng tạo, quảng bá, lưu truyền, thụ hưởng, nhận thức, tư duy, thế ứng xử của con người, văn hóa Việt Nam. Do đó, cùng với đầu tư cơ sở hạ tầng, hoàn thiện thể chế, chính sách, điều tất yếu là phải tiếp tục hoàn thiện, đổi mới tư duy về văn hóa theo tinh thần: “tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống”5.

Việc đổi mới tư duy để chỉ dẫn cho hành động là đòi hỏi tất yếu khách quan. Việt Nam phải chủ động nắm bắt, tận dụng hiệu quả các cơ hội của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0… song phải trên tinh thần mọi sự đổi mới đều không được đi ngược lại quan điểm của Đảng về xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học.

Hai là, chú trọng đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của kỉ nguyên số, tạo nền tảng vững chắc cho văn hóa phát triển

Phát triển nguồn nhân lực ngành văn hóa, văn nghệ, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao để họ chủ động, tự tin, sáng tạo, đi đầu ứng dụng công nghệ số trong lĩnh vực văn hóa như: xây dựng di sản văn hóa số, phát triển ngành công nghiệp văn hóa… Kết nối chặt chẽ văn hóa số với kinh tế số để sáng tạo nhiều sản phẩm văn hóa đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của con người, đồng thời biến văn hóa số thành nguồn lực trực tiếp thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội nhanh và bền vững. Để làm được điều đó, lực lượng này phải thực sự am hiểu, thực hành được và có đủ bản lĩnh, tự tin, tự hào giới thiệu những nét văn hóa đặc sắc ra thế giới, biết cách làm mới những giá trị truyền thống mà không đánh mất bản sắc của mình; biết học cái hay, cái tốt và biết định hướng giá trị cho nhân dân trong nước.

Kỉ nguyên vươn mình đòi hỏi phải phát huy, khai thác hiệu quả mạng lưới công dân số để phát triển văn hóa số, đặc biệt là phát huy cao nhất tinh thần ý chí, sức mạnh của toàn dân. Do đó, cần phải khơi dậy được tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lực, tự chủ, tự cường, khát vọng sáng tạo và cống hiến của toàn dân bởi nhân dân là chủ thể, đóng vai trò trung tâm kiến tạo kỉ nguyên mới của dân tộc. Phải làm sao để mỗi người dân đều tham gia tích cực, chủ động vào việc gìn giữ, phát triển, lan tỏa những giá trị văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.

Ba là, quan tâm phát triển ngành công nghiệp văn hóa

Sự phát triển của ngành công nghiệp văn hóa là một tất yếu khách quan của thời đại ngày nay. Việt Nam đã xây dựng được Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đó là cơ sở quan trọng để ngành công nghiệp văn hóa trở thành ngành kinh tế quan trọng và thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia. Do đó, cần bổ sung và hoàn thiện các cơ chế, chính sách có tính đột phá để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho ngành công nghiệp văn hóa phát triển, từ điều kiện kinh doanh, dịch vụ văn hóa, vấn đề sở hữu trí tuệ, vấn đề đầu tư nguồn lực vật chất, tinh thần, vấn đề đào tạo nguồn lực… nhằm tháo gỡ được các rào cản, nút thắt để phát huy tiềm năng, lợi thế của nền văn hóa đậm đà bản sắc của Việt Nam.

Trong quá trình phát triển ngành công nghiệp văn hóa, bên cạnh việc tiếp tục học hỏi kinh nghiệm thành công của các nước trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam cần coi trọng việc tạo ra được các sản phẩm, dịch vụ văn hóa hấp dẫn, đáp ứng được nhu cầu thụ hưởng văn hóa của nhân dân và gợi được sự tò mò, muốn tìm hiểu, khám phá, trải nghiệm của bạn bè thế giới. Thông qua đó, góp phần quảng bá, lan tỏa văn hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế, tiến tới sản phẩm của ngành công nghiệp văn hóa phải chiếm lĩnh được thị trường quốc tế.

Bốn là, đa dạng hóa các hình thức quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới

Để bản sắc văn hóa dân tộc không bị phai mờ, bên cạnh giữ gìn, phát triển sáng tạo, chúng ta cần tăng cường tuyên truyền, quảng bá, đưa nét đẹp văn hóa Việt Nam đến với thế giới bằng nhiều cách thức, con đường khác nhau. Bên cạnh việc xây dựng và phát triển thị trường sản phẩm dịch vụ văn hóa của Việt Nam ở nước ngoài, cần chủ động mở rộng hợp tác văn hóa với các nước, thực hiện đa dạng hóa các hình thức văn hóa đối ngoại, đưa các quan hệ quốc tế về văn hóa đi vào chiều sâu. Đồng thời, chú trọng truyền bá văn hóa Việt Nam, dạy tiếng Việt Nam cho người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài ở Việt Nam.

Đẩy mạnh xây dựng một số trung tâm văn hóa Việt Nam ở nước ngoài và trung tâm dịch thuật, quảng bá văn hóa Việt Nam ra nước ngoài. Coi trọng xây dựng cơ chế, chính sách phát triển văn hóa đối ngoại, hỗ trợ quảng bá nghệ thuật quốc gia và xuất khẩu các sản phẩm văn hóa ra nước ngoài. Chẳng hạn trong lĩnh vực âm nhạc, nhiều MV âm nhạc của những nghệ sĩ trẻ như See Tình của Hoàng Thùy Linh, Bắc Bling của Hòa Minzy… đã khai thác âm hưởng, chất liệu dân gian, kết hợp với âm nhạc, vũ điệu, tiết tấu hiện đại, tạo nên những sản phẩm âm nhạc mới vừa mang giá trị truyền thống, vừa bắt nhịp với hơi thở của thời đại, có sức lan tỏa trên phạm vi toàn cầu.

Vững vàng về tâm thế, chủ động đón nhận thời cơ, dự báo những khó khăn thách thức, có chiến lược phát triển văn hóa rõ ràng, có sự đồng lòng, chung tay, chung sức của mỗi người dân đất Việt, chúng ta có niềm tin văn hóa Việt “hòa nhập không hòa tan”, đạt được nhiều thành tựu rực rỡ trong quá trình toàn cầu hóa và kỉ nguyên vươn mình của dân tộc.

Lê Thị Huyền/VNQĐ

Nguồn tham khảo:

1. GS, TS Tô Lâm: “Cơ sở định vị mục tiêu phát triển và định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỉ nguyên mới”, báo Nhân dân, số 25193, ngày 1-11-2024, tr.2, https://image.nhandan.vn/Uploaded/2024/tmuivppi/2024_11_01/docbao-ndhangngay-01112024-8657.pdf

2. GS, TS Tô Lâm: “Cơ sở định vị mục tiêu phát triển và định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỉ nguyên mới”, báo Nhân dân, số 25193, ngày 1-11-2024, tr. 2, https://image.nhandan.vn/Uploaded/2024/tmuivppi/2024_11_01/docbao-ndhangngay-01112024-8657.pdf

3. Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.171.

4. Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.168.

5. Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 37 - 38.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm