TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • “Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam

“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-01-14 23:49:02
mail facebook google pos stwis
333 lượt xem

Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một nhiệm vụ phải được coi trọng nhằm tạo lập được cơ sở xã hội vững chắc để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, là nguồn lực nội sinh quan trọng của đất nước để góp phần “quốc tế hóa” các giá trị văn hóa Việt Nam và “Việt Nam hóa” các giá trị văn hóa quốc tế.

 

Việt Nam lan tỏa giá trị nhân văn và phát triển bền vững tại Trụ sở Liên Hợp Quốc. Ảnh: Tư liệu

 

Cách mạng công nghiệp 4.0 và vai trò của văn hóa trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc

Với ưu thế về công nghệ số, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 diễn ra với tốc độ nhanh, phạm vi rộng và tác động mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội mà trong lịch chưa từng có tiền lệ. Trên lĩnh vực văn hóa, cách mạng công nghiệp 4.0 lan tỏa đến tận “thôn cùng, ngõ hẻm”, sự kết nối thế giới được số hóa, làm mờ đi ranh giới, đường biên văn hóa giữa các quốc gia. Với nhiều nước trên thế giới, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 có thể sẽ đưa đất nước họ bước vào một “thế giới phẳng” mà ở đó nó đang gây ra tác động to lớn đáng ngạc nhiên và đôi khi đầy mâu thuẫn đối với các nền văn hóa trên thế giới. Trong bối cảnh đó, văn hóa Việt Nam phải nhanh chóng tận dụng, khai thác tối ưu lợi thế của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, tạo cho mình nhiều cơ hội mới để không ngừng quảng bá, tan tỏa và khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc. Song bên cạnh đó, văn hóa Việt Nam cũng phải đối diện với nhiều thách thức, nguy cơ mới, trong đó nguy cơ phai nhạt, đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc cũng luôn hiện hữu.

Qua gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu tiêu biểu, tạo lập được nền tảng vững chắc để Việt Nam tiến bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình. Đây là “kỉ nguyên phát triển, kỉ nguyên giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đích đến của kỉ nguyên vươn mình là dân giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu”1. Trong kỉ nguyên mới, văn hóa dân tộc phải vươn lên mạnh mẽ, phấn đấu thực hiện thành công những mục tiêu chiến lược, tạo sự phát triển vượt bậc ở một tầm cao mới, trình độ mới, chất lượng mới, xác lập được vị thế trên trường quốc tế. Do vậy, Việt Nam phải “tranh thủ tối đa thời cơ, thuận lợi, đẩy lùi nguy cơ, thách thức, đưa đất nước phát triển toàn diện, mạnh mẽ, bứt phá và cất cánh”2 như lời của Tổng Bí thư Tô Lâm, để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Một số yêu cầu đặt ra đối với văn hóa trong kỉ nguyên vươn mình

Đảm bảo tính dân tộc và tính quốc tế của văn hóa Việt Nam. Lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã tạo dựng được nền văn hóa kết tinh trong đó ý thức, tâm hồn, cốt cách, tinh hoa… riêng. Chính những bản sắc riêng đó đã trở thành sức mạnh mềm giúp văn hóa Việt Nam chống chọi, vượt qua những âm mưu, thủ đoạn đồng hóa của kẻ đô hộ trong lịch sử. Ngày nay, để hòa nhập mà không bị hòa tan, đòi hỏi người Việt cần ứng xử thông minh, sáng tạo, khéo léo hơn để “quốc tế hóa” những giá trị bản sắc của Việt Nam và “Việt Nam hóa” được những giá trị tiêu biểu, tiến bộ ảnh hưởng từ bên ngoài. Như thế, mỗi người dân Việt Nam dù sống ở đâu đều sẽ tự hào về văn hóa của đất nước, quê hương mình. Và chính họ sẽ đảm bảo văn hóa Việt Nam không bị hòa tan trong cơn lốc toàn cầu hóa, trong môi trường công nghệ số, văn hóa số, công dân số hiện nay.

Đảm bảo mọi sáng tạo văn hóa đều vì con người và luôn đặt con người ở vị trí trung tâm trong sáng tạo, phát triển văn hóa. Chưa bao giờ khoa học, công nghệ lại khẳng định sức mạnh ưu trội của nó như hiện nay. Trí tuệ nhân tạo (AI) có khả năng thu thập, sao chép, cắt ghép, mô phỏng những dữ liệu có sẵn để tạo ra sản phẩm văn hóa mới, cộng với sự lan truyền mạnh mẽ của sản phẩm mới trên nền tảng công nghệ số khiến con người rất khó kiểm soát, nhất là khi chưa được trang bị kiến thức, chưa hiểu đúng giá trị gốc. Do vậy cần phải nhận thức đúng con người là trung tâm và chủ thể sáng tạo văn hóa. Chỉ những sản phẩm văn hóa do con người sáng tạo ra mới phản ánh đầy đủ nhất, chân thực nhất, sinh động nhất và phong phú nhất nhu cầu, khát vọng của mình. Nói cách khác, chỉ những sáng tạo văn hóa của con người mới mang hồn cốt của họ, mới là cơ sở để nhận diện khi họ bước vào cộng đồng lớn hơn. Vì lẽ đó, cần “tôn trọng và bảo vệ sự biểu đạt đa dạng của văn hóa, của người dân, các dân tộc, các vùng, miền”3 để khuyến khích sự sáng tạo, phát triển văn hóa. Đồng thời, tận dụng ưu thế của công nghệ số trong sáng tạo văn hóa số để tăng thêm sức mạnh tổng hợp, xây dựng được nền văn hóa mang đậm yếu tố truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế, tự tin hội nhập với thế giới.

Cùng với đó, phải khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy được tài năng, trí tuệ, phẩm chất… để xây dựng con người Việt Nam thời đại mới, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại. Để từ đó khơi dậy, khuyến khích khả năng sáng tạo vô tận của nhân dân bởi nhân dân chính là người sáng tạo, thụ hưởng và lưu truyền văn hóa tốt đẹp của dân tộc mình.

Luôn chủ động dự báo, ứng phó với những nguy cơ, thách thức. Có một thực tế khách quan là khi tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, nhiều yếu tố văn hóa dân tộc sẽ phải đi từ những bộ phận riêng biệt, khép kín để hình thành những mối liên kết, tác động qua lại, ảnh hưởng và chi phối lẫn nhau nhằm xác lập những giá trị và chuẩn giá trị mới. Các giá trị hiện đại sẽ dùng những ưu thế về khoa học, công nghệ để tấn công mạnh mẽ, làm suy yếu giá trị truyền thống. Ngược lại, các giá trị truyền thống sẽ tìm mọi cách để tự vệ, phản kháng nhằm giữ lại bản sắc riêng. Sự xung đột này có thể diễn ra âm thầm nhưng cũng có khi rất mạnh mẽ, gay gắt và đó cũng là cơ hội để các thế lực thù địch lợi dụng hòng thực hiện âm mưu phá hoại văn hóa, tư tưởng, nhất là tấn công vào giới trẻ. Nhân cơ hội “tranh tối, tranh sáng”, các thế lực thù địch tăng cường truyền bá, du nhập quan điểm, tư tưởng, văn hoá, lối sống “phi nhân tính” của phương Tây, thương mại hoá các hoạt động văn hoá một cách thái quá, gặm nhấm các giá trị văn hóa xã hội chủ nghĩa và bản sắc văn hóa dân tộc, làm cho người ta quên đi nghĩa vụ, quên đi bản quán, gốc rễ, cội nguồn. Vì thế, cần phải nhận diện, dự báo, ứng phó với những nguy cơ, thách thức và phải đặc biệt chú trọng tới việc “chấn hưng và phát triển nền văn hoá Việt Nam trong thời gian tới”4 để phát triển nhanh, bền vững trong kỉ nguyên vươn mình.

Để văn hóa “hòa nhập không hòa tan” trong kỉ nguyên vươn mình

Do hoàn cảnh lịch sử, văn hóa Việt Nam đã trải qua nhiều thử thách mà không bị đồng hóa. Đó là cơ sở, là kinh nghiệm quý để Đảng ta kế thừa, phát triển và vận dụng sáng tạo vào quá trình lãnh đạo đất nước về văn hóa trong kỉ nguyên mới. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng luôn là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của Việt Nam, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nguồn lực vô tận từ nhân dân để xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đồng thời, để văn hóa dân tộc không bị hòa tan trong quá trình toàn cầu hóa, tự tin vững bước trong kỉ nguyên vươn mình, cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:

Một là, đổi mới tư duy về văn hóa

Kỉ nguyên vươn mình của dân tộc sẽ diễn ra đồng thời với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ. Đó là quá trình phát triển không ngừng theo quy mô, mức độ ngày càng rộng lớn, làm thay đổi phương thức sáng tạo, quảng bá, lưu truyền, thụ hưởng, nhận thức, tư duy, thế ứng xử của con người, văn hóa Việt Nam. Do đó, cùng với đầu tư cơ sở hạ tầng, hoàn thiện thể chế, chính sách, điều tất yếu là phải tiếp tục hoàn thiện, đổi mới tư duy về văn hóa theo tinh thần: “tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống”5.

Việc đổi mới tư duy để chỉ dẫn cho hành động là đòi hỏi tất yếu khách quan. Việt Nam phải chủ động nắm bắt, tận dụng hiệu quả các cơ hội của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0… song phải trên tinh thần mọi sự đổi mới đều không được đi ngược lại quan điểm của Đảng về xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học.

Hai là, chú trọng đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của kỉ nguyên số, tạo nền tảng vững chắc cho văn hóa phát triển

Phát triển nguồn nhân lực ngành văn hóa, văn nghệ, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao để họ chủ động, tự tin, sáng tạo, đi đầu ứng dụng công nghệ số trong lĩnh vực văn hóa như: xây dựng di sản văn hóa số, phát triển ngành công nghiệp văn hóa… Kết nối chặt chẽ văn hóa số với kinh tế số để sáng tạo nhiều sản phẩm văn hóa đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của con người, đồng thời biến văn hóa số thành nguồn lực trực tiếp thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội nhanh và bền vững. Để làm được điều đó, lực lượng này phải thực sự am hiểu, thực hành được và có đủ bản lĩnh, tự tin, tự hào giới thiệu những nét văn hóa đặc sắc ra thế giới, biết cách làm mới những giá trị truyền thống mà không đánh mất bản sắc của mình; biết học cái hay, cái tốt và biết định hướng giá trị cho nhân dân trong nước.

Kỉ nguyên vươn mình đòi hỏi phải phát huy, khai thác hiệu quả mạng lưới công dân số để phát triển văn hóa số, đặc biệt là phát huy cao nhất tinh thần ý chí, sức mạnh của toàn dân. Do đó, cần phải khơi dậy được tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lực, tự chủ, tự cường, khát vọng sáng tạo và cống hiến của toàn dân bởi nhân dân là chủ thể, đóng vai trò trung tâm kiến tạo kỉ nguyên mới của dân tộc. Phải làm sao để mỗi người dân đều tham gia tích cực, chủ động vào việc gìn giữ, phát triển, lan tỏa những giá trị văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.

Ba là, quan tâm phát triển ngành công nghiệp văn hóa

Sự phát triển của ngành công nghiệp văn hóa là một tất yếu khách quan của thời đại ngày nay. Việt Nam đã xây dựng được Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đó là cơ sở quan trọng để ngành công nghiệp văn hóa trở thành ngành kinh tế quan trọng và thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia. Do đó, cần bổ sung và hoàn thiện các cơ chế, chính sách có tính đột phá để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho ngành công nghiệp văn hóa phát triển, từ điều kiện kinh doanh, dịch vụ văn hóa, vấn đề sở hữu trí tuệ, vấn đề đầu tư nguồn lực vật chất, tinh thần, vấn đề đào tạo nguồn lực… nhằm tháo gỡ được các rào cản, nút thắt để phát huy tiềm năng, lợi thế của nền văn hóa đậm đà bản sắc của Việt Nam.

Trong quá trình phát triển ngành công nghiệp văn hóa, bên cạnh việc tiếp tục học hỏi kinh nghiệm thành công của các nước trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam cần coi trọng việc tạo ra được các sản phẩm, dịch vụ văn hóa hấp dẫn, đáp ứng được nhu cầu thụ hưởng văn hóa của nhân dân và gợi được sự tò mò, muốn tìm hiểu, khám phá, trải nghiệm của bạn bè thế giới. Thông qua đó, góp phần quảng bá, lan tỏa văn hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế, tiến tới sản phẩm của ngành công nghiệp văn hóa phải chiếm lĩnh được thị trường quốc tế.

Bốn là, đa dạng hóa các hình thức quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới

Để bản sắc văn hóa dân tộc không bị phai mờ, bên cạnh giữ gìn, phát triển sáng tạo, chúng ta cần tăng cường tuyên truyền, quảng bá, đưa nét đẹp văn hóa Việt Nam đến với thế giới bằng nhiều cách thức, con đường khác nhau. Bên cạnh việc xây dựng và phát triển thị trường sản phẩm dịch vụ văn hóa của Việt Nam ở nước ngoài, cần chủ động mở rộng hợp tác văn hóa với các nước, thực hiện đa dạng hóa các hình thức văn hóa đối ngoại, đưa các quan hệ quốc tế về văn hóa đi vào chiều sâu. Đồng thời, chú trọng truyền bá văn hóa Việt Nam, dạy tiếng Việt Nam cho người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài ở Việt Nam.

Đẩy mạnh xây dựng một số trung tâm văn hóa Việt Nam ở nước ngoài và trung tâm dịch thuật, quảng bá văn hóa Việt Nam ra nước ngoài. Coi trọng xây dựng cơ chế, chính sách phát triển văn hóa đối ngoại, hỗ trợ quảng bá nghệ thuật quốc gia và xuất khẩu các sản phẩm văn hóa ra nước ngoài. Chẳng hạn trong lĩnh vực âm nhạc, nhiều MV âm nhạc của những nghệ sĩ trẻ như See Tình của Hoàng Thùy Linh, Bắc Bling của Hòa Minzy… đã khai thác âm hưởng, chất liệu dân gian, kết hợp với âm nhạc, vũ điệu, tiết tấu hiện đại, tạo nên những sản phẩm âm nhạc mới vừa mang giá trị truyền thống, vừa bắt nhịp với hơi thở của thời đại, có sức lan tỏa trên phạm vi toàn cầu.

Vững vàng về tâm thế, chủ động đón nhận thời cơ, dự báo những khó khăn thách thức, có chiến lược phát triển văn hóa rõ ràng, có sự đồng lòng, chung tay, chung sức của mỗi người dân đất Việt, chúng ta có niềm tin văn hóa Việt “hòa nhập không hòa tan”, đạt được nhiều thành tựu rực rỡ trong quá trình toàn cầu hóa và kỉ nguyên vươn mình của dân tộc.

Lê Thị Huyền/VNQĐ

Nguồn tham khảo:

1. GS, TS Tô Lâm: “Cơ sở định vị mục tiêu phát triển và định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỉ nguyên mới”, báo Nhân dân, số 25193, ngày 1-11-2024, tr.2, https://image.nhandan.vn/Uploaded/2024/tmuivppi/2024_11_01/docbao-ndhangngay-01112024-8657.pdf

2. GS, TS Tô Lâm: “Cơ sở định vị mục tiêu phát triển và định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỉ nguyên mới”, báo Nhân dân, số 25193, ngày 1-11-2024, tr. 2, https://image.nhandan.vn/Uploaded/2024/tmuivppi/2024_11_01/docbao-ndhangngay-01112024-8657.pdf

3. Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.171.

4. Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.168.

5. Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 37 - 38.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm