TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • “Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam

“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-01-14 23:49:02
mail facebook google pos stwis
990 lượt xem

Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một nhiệm vụ phải được coi trọng nhằm tạo lập được cơ sở xã hội vững chắc để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, là nguồn lực nội sinh quan trọng của đất nước để góp phần “quốc tế hóa” các giá trị văn hóa Việt Nam và “Việt Nam hóa” các giá trị văn hóa quốc tế.

 

Việt Nam lan tỏa giá trị nhân văn và phát triển bền vững tại Trụ sở Liên Hợp Quốc. Ảnh: Tư liệu

 

Cách mạng công nghiệp 4.0 và vai trò của văn hóa trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc

Với ưu thế về công nghệ số, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 diễn ra với tốc độ nhanh, phạm vi rộng và tác động mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội mà trong lịch chưa từng có tiền lệ. Trên lĩnh vực văn hóa, cách mạng công nghiệp 4.0 lan tỏa đến tận “thôn cùng, ngõ hẻm”, sự kết nối thế giới được số hóa, làm mờ đi ranh giới, đường biên văn hóa giữa các quốc gia. Với nhiều nước trên thế giới, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 có thể sẽ đưa đất nước họ bước vào một “thế giới phẳng” mà ở đó nó đang gây ra tác động to lớn đáng ngạc nhiên và đôi khi đầy mâu thuẫn đối với các nền văn hóa trên thế giới. Trong bối cảnh đó, văn hóa Việt Nam phải nhanh chóng tận dụng, khai thác tối ưu lợi thế của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, tạo cho mình nhiều cơ hội mới để không ngừng quảng bá, tan tỏa và khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc. Song bên cạnh đó, văn hóa Việt Nam cũng phải đối diện với nhiều thách thức, nguy cơ mới, trong đó nguy cơ phai nhạt, đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc cũng luôn hiện hữu.

Qua gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu tiêu biểu, tạo lập được nền tảng vững chắc để Việt Nam tiến bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình. Đây là “kỉ nguyên phát triển, kỉ nguyên giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đích đến của kỉ nguyên vươn mình là dân giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu”1. Trong kỉ nguyên mới, văn hóa dân tộc phải vươn lên mạnh mẽ, phấn đấu thực hiện thành công những mục tiêu chiến lược, tạo sự phát triển vượt bậc ở một tầm cao mới, trình độ mới, chất lượng mới, xác lập được vị thế trên trường quốc tế. Do vậy, Việt Nam phải “tranh thủ tối đa thời cơ, thuận lợi, đẩy lùi nguy cơ, thách thức, đưa đất nước phát triển toàn diện, mạnh mẽ, bứt phá và cất cánh”2 như lời của Tổng Bí thư Tô Lâm, để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Một số yêu cầu đặt ra đối với văn hóa trong kỉ nguyên vươn mình

Đảm bảo tính dân tộc và tính quốc tế của văn hóa Việt Nam. Lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã tạo dựng được nền văn hóa kết tinh trong đó ý thức, tâm hồn, cốt cách, tinh hoa… riêng. Chính những bản sắc riêng đó đã trở thành sức mạnh mềm giúp văn hóa Việt Nam chống chọi, vượt qua những âm mưu, thủ đoạn đồng hóa của kẻ đô hộ trong lịch sử. Ngày nay, để hòa nhập mà không bị hòa tan, đòi hỏi người Việt cần ứng xử thông minh, sáng tạo, khéo léo hơn để “quốc tế hóa” những giá trị bản sắc của Việt Nam và “Việt Nam hóa” được những giá trị tiêu biểu, tiến bộ ảnh hưởng từ bên ngoài. Như thế, mỗi người dân Việt Nam dù sống ở đâu đều sẽ tự hào về văn hóa của đất nước, quê hương mình. Và chính họ sẽ đảm bảo văn hóa Việt Nam không bị hòa tan trong cơn lốc toàn cầu hóa, trong môi trường công nghệ số, văn hóa số, công dân số hiện nay.

Đảm bảo mọi sáng tạo văn hóa đều vì con người và luôn đặt con người ở vị trí trung tâm trong sáng tạo, phát triển văn hóa. Chưa bao giờ khoa học, công nghệ lại khẳng định sức mạnh ưu trội của nó như hiện nay. Trí tuệ nhân tạo (AI) có khả năng thu thập, sao chép, cắt ghép, mô phỏng những dữ liệu có sẵn để tạo ra sản phẩm văn hóa mới, cộng với sự lan truyền mạnh mẽ của sản phẩm mới trên nền tảng công nghệ số khiến con người rất khó kiểm soát, nhất là khi chưa được trang bị kiến thức, chưa hiểu đúng giá trị gốc. Do vậy cần phải nhận thức đúng con người là trung tâm và chủ thể sáng tạo văn hóa. Chỉ những sản phẩm văn hóa do con người sáng tạo ra mới phản ánh đầy đủ nhất, chân thực nhất, sinh động nhất và phong phú nhất nhu cầu, khát vọng của mình. Nói cách khác, chỉ những sáng tạo văn hóa của con người mới mang hồn cốt của họ, mới là cơ sở để nhận diện khi họ bước vào cộng đồng lớn hơn. Vì lẽ đó, cần “tôn trọng và bảo vệ sự biểu đạt đa dạng của văn hóa, của người dân, các dân tộc, các vùng, miền”3 để khuyến khích sự sáng tạo, phát triển văn hóa. Đồng thời, tận dụng ưu thế của công nghệ số trong sáng tạo văn hóa số để tăng thêm sức mạnh tổng hợp, xây dựng được nền văn hóa mang đậm yếu tố truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế, tự tin hội nhập với thế giới.

Cùng với đó, phải khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy được tài năng, trí tuệ, phẩm chất… để xây dựng con người Việt Nam thời đại mới, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại. Để từ đó khơi dậy, khuyến khích khả năng sáng tạo vô tận của nhân dân bởi nhân dân chính là người sáng tạo, thụ hưởng và lưu truyền văn hóa tốt đẹp của dân tộc mình.

Luôn chủ động dự báo, ứng phó với những nguy cơ, thách thức. Có một thực tế khách quan là khi tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, nhiều yếu tố văn hóa dân tộc sẽ phải đi từ những bộ phận riêng biệt, khép kín để hình thành những mối liên kết, tác động qua lại, ảnh hưởng và chi phối lẫn nhau nhằm xác lập những giá trị và chuẩn giá trị mới. Các giá trị hiện đại sẽ dùng những ưu thế về khoa học, công nghệ để tấn công mạnh mẽ, làm suy yếu giá trị truyền thống. Ngược lại, các giá trị truyền thống sẽ tìm mọi cách để tự vệ, phản kháng nhằm giữ lại bản sắc riêng. Sự xung đột này có thể diễn ra âm thầm nhưng cũng có khi rất mạnh mẽ, gay gắt và đó cũng là cơ hội để các thế lực thù địch lợi dụng hòng thực hiện âm mưu phá hoại văn hóa, tư tưởng, nhất là tấn công vào giới trẻ. Nhân cơ hội “tranh tối, tranh sáng”, các thế lực thù địch tăng cường truyền bá, du nhập quan điểm, tư tưởng, văn hoá, lối sống “phi nhân tính” của phương Tây, thương mại hoá các hoạt động văn hoá một cách thái quá, gặm nhấm các giá trị văn hóa xã hội chủ nghĩa và bản sắc văn hóa dân tộc, làm cho người ta quên đi nghĩa vụ, quên đi bản quán, gốc rễ, cội nguồn. Vì thế, cần phải nhận diện, dự báo, ứng phó với những nguy cơ, thách thức và phải đặc biệt chú trọng tới việc “chấn hưng và phát triển nền văn hoá Việt Nam trong thời gian tới”4 để phát triển nhanh, bền vững trong kỉ nguyên vươn mình.

Để văn hóa “hòa nhập không hòa tan” trong kỉ nguyên vươn mình

Do hoàn cảnh lịch sử, văn hóa Việt Nam đã trải qua nhiều thử thách mà không bị đồng hóa. Đó là cơ sở, là kinh nghiệm quý để Đảng ta kế thừa, phát triển và vận dụng sáng tạo vào quá trình lãnh đạo đất nước về văn hóa trong kỉ nguyên mới. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng luôn là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của Việt Nam, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nguồn lực vô tận từ nhân dân để xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đồng thời, để văn hóa dân tộc không bị hòa tan trong quá trình toàn cầu hóa, tự tin vững bước trong kỉ nguyên vươn mình, cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:

Một là, đổi mới tư duy về văn hóa

Kỉ nguyên vươn mình của dân tộc sẽ diễn ra đồng thời với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ. Đó là quá trình phát triển không ngừng theo quy mô, mức độ ngày càng rộng lớn, làm thay đổi phương thức sáng tạo, quảng bá, lưu truyền, thụ hưởng, nhận thức, tư duy, thế ứng xử của con người, văn hóa Việt Nam. Do đó, cùng với đầu tư cơ sở hạ tầng, hoàn thiện thể chế, chính sách, điều tất yếu là phải tiếp tục hoàn thiện, đổi mới tư duy về văn hóa theo tinh thần: “tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống”5.

Việc đổi mới tư duy để chỉ dẫn cho hành động là đòi hỏi tất yếu khách quan. Việt Nam phải chủ động nắm bắt, tận dụng hiệu quả các cơ hội của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0… song phải trên tinh thần mọi sự đổi mới đều không được đi ngược lại quan điểm của Đảng về xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học.

Hai là, chú trọng đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của kỉ nguyên số, tạo nền tảng vững chắc cho văn hóa phát triển

Phát triển nguồn nhân lực ngành văn hóa, văn nghệ, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao để họ chủ động, tự tin, sáng tạo, đi đầu ứng dụng công nghệ số trong lĩnh vực văn hóa như: xây dựng di sản văn hóa số, phát triển ngành công nghiệp văn hóa… Kết nối chặt chẽ văn hóa số với kinh tế số để sáng tạo nhiều sản phẩm văn hóa đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của con người, đồng thời biến văn hóa số thành nguồn lực trực tiếp thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội nhanh và bền vững. Để làm được điều đó, lực lượng này phải thực sự am hiểu, thực hành được và có đủ bản lĩnh, tự tin, tự hào giới thiệu những nét văn hóa đặc sắc ra thế giới, biết cách làm mới những giá trị truyền thống mà không đánh mất bản sắc của mình; biết học cái hay, cái tốt và biết định hướng giá trị cho nhân dân trong nước.

Kỉ nguyên vươn mình đòi hỏi phải phát huy, khai thác hiệu quả mạng lưới công dân số để phát triển văn hóa số, đặc biệt là phát huy cao nhất tinh thần ý chí, sức mạnh của toàn dân. Do đó, cần phải khơi dậy được tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lực, tự chủ, tự cường, khát vọng sáng tạo và cống hiến của toàn dân bởi nhân dân là chủ thể, đóng vai trò trung tâm kiến tạo kỉ nguyên mới của dân tộc. Phải làm sao để mỗi người dân đều tham gia tích cực, chủ động vào việc gìn giữ, phát triển, lan tỏa những giá trị văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.

Ba là, quan tâm phát triển ngành công nghiệp văn hóa

Sự phát triển của ngành công nghiệp văn hóa là một tất yếu khách quan của thời đại ngày nay. Việt Nam đã xây dựng được Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đó là cơ sở quan trọng để ngành công nghiệp văn hóa trở thành ngành kinh tế quan trọng và thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia. Do đó, cần bổ sung và hoàn thiện các cơ chế, chính sách có tính đột phá để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho ngành công nghiệp văn hóa phát triển, từ điều kiện kinh doanh, dịch vụ văn hóa, vấn đề sở hữu trí tuệ, vấn đề đầu tư nguồn lực vật chất, tinh thần, vấn đề đào tạo nguồn lực… nhằm tháo gỡ được các rào cản, nút thắt để phát huy tiềm năng, lợi thế của nền văn hóa đậm đà bản sắc của Việt Nam.

Trong quá trình phát triển ngành công nghiệp văn hóa, bên cạnh việc tiếp tục học hỏi kinh nghiệm thành công của các nước trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam cần coi trọng việc tạo ra được các sản phẩm, dịch vụ văn hóa hấp dẫn, đáp ứng được nhu cầu thụ hưởng văn hóa của nhân dân và gợi được sự tò mò, muốn tìm hiểu, khám phá, trải nghiệm của bạn bè thế giới. Thông qua đó, góp phần quảng bá, lan tỏa văn hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế, tiến tới sản phẩm của ngành công nghiệp văn hóa phải chiếm lĩnh được thị trường quốc tế.

Bốn là, đa dạng hóa các hình thức quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới

Để bản sắc văn hóa dân tộc không bị phai mờ, bên cạnh giữ gìn, phát triển sáng tạo, chúng ta cần tăng cường tuyên truyền, quảng bá, đưa nét đẹp văn hóa Việt Nam đến với thế giới bằng nhiều cách thức, con đường khác nhau. Bên cạnh việc xây dựng và phát triển thị trường sản phẩm dịch vụ văn hóa của Việt Nam ở nước ngoài, cần chủ động mở rộng hợp tác văn hóa với các nước, thực hiện đa dạng hóa các hình thức văn hóa đối ngoại, đưa các quan hệ quốc tế về văn hóa đi vào chiều sâu. Đồng thời, chú trọng truyền bá văn hóa Việt Nam, dạy tiếng Việt Nam cho người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài ở Việt Nam.

Đẩy mạnh xây dựng một số trung tâm văn hóa Việt Nam ở nước ngoài và trung tâm dịch thuật, quảng bá văn hóa Việt Nam ra nước ngoài. Coi trọng xây dựng cơ chế, chính sách phát triển văn hóa đối ngoại, hỗ trợ quảng bá nghệ thuật quốc gia và xuất khẩu các sản phẩm văn hóa ra nước ngoài. Chẳng hạn trong lĩnh vực âm nhạc, nhiều MV âm nhạc của những nghệ sĩ trẻ như See Tình của Hoàng Thùy Linh, Bắc Bling của Hòa Minzy… đã khai thác âm hưởng, chất liệu dân gian, kết hợp với âm nhạc, vũ điệu, tiết tấu hiện đại, tạo nên những sản phẩm âm nhạc mới vừa mang giá trị truyền thống, vừa bắt nhịp với hơi thở của thời đại, có sức lan tỏa trên phạm vi toàn cầu.

Vững vàng về tâm thế, chủ động đón nhận thời cơ, dự báo những khó khăn thách thức, có chiến lược phát triển văn hóa rõ ràng, có sự đồng lòng, chung tay, chung sức của mỗi người dân đất Việt, chúng ta có niềm tin văn hóa Việt “hòa nhập không hòa tan”, đạt được nhiều thành tựu rực rỡ trong quá trình toàn cầu hóa và kỉ nguyên vươn mình của dân tộc.

Lê Thị Huyền/VNQĐ

Nguồn tham khảo:

1. GS, TS Tô Lâm: “Cơ sở định vị mục tiêu phát triển và định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỉ nguyên mới”, báo Nhân dân, số 25193, ngày 1-11-2024, tr.2, https://image.nhandan.vn/Uploaded/2024/tmuivppi/2024_11_01/docbao-ndhangngay-01112024-8657.pdf

2. GS, TS Tô Lâm: “Cơ sở định vị mục tiêu phát triển và định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỉ nguyên mới”, báo Nhân dân, số 25193, ngày 1-11-2024, tr. 2, https://image.nhandan.vn/Uploaded/2024/tmuivppi/2024_11_01/docbao-ndhangngay-01112024-8657.pdf

3. Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.171.

4. Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.168.

5. Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 37 - 38.

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm