TIN TỨC

Hơi thở đất quê trong miền nhớ của Huỳnh Khang

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-08-22 22:18:35
mail facebook google pos stwis
3144 lượt xem

VÕ THỊ NHƯ MAI

Tôi may mắn có duyên được chuyển lời tiếng Anh cho ca khúc Miền Nhớ từ chính bài thơ cùng tên của thi sĩ – nhạc sĩ Huỳnh Khang. Bài thơ thật đẹp, chỉ cần đọc đôi lần, ta có thể thuộc lòng và khe khẽ ngân nga trong niềm vui. Và giờ đây, tuyển tập mang tên MIỀN NHỚ ra đời, như một dấu ấn trong hành trình thơ Việt tìm về nguồn cội, chuyên chở nỗi niềm của người con xứ Nẫu – Phú Yên. Giữa nhịp sống hối hả của đô thị hóa, Miền Nhớ mở ra một khoảng không gian bình dị, nơi có cánh đồng, sông nước, và tình quê đong đầy mộc mạc. Ấn tượng đầu tiên đọng lại là giọng thơ chân chất, trong trẻo mà vẫn dày dặn, vững vàng – giọng thơ của một người đã trưởng thành qua trải nghiệm. Mỗi bài thơ như một làn gió mát thổi qua cánh đồng, mang theo hương rơm rạ và nét duyên dáng mượt mà của dòng sông Ba thân thương.


Nhà thơ Huỳnh Khang và nhà thơ, dịch giả Võ Thị Phương Mai.

Chủ đề và nội dung trong MIỀN NHỚ xoay quanh ký ức quê hương, tình mẫu tử, nghĩa làng nghĩa xóm, thiên nhiên, tình yêu đôi lứa, nỗi buồn mất mát, cùng những triết lý đời thường. Giọng thơ Huỳnh Khang vừa đậm dấu ấn cá nhân vừa chạm tới cảm xúc chung, bởi có ai mà chưa từng thổn thức trước mùi rơm rạ nồng nàn, gió nồm thoảng qua hay vệt nắng cuối chiều. Đó là nỗi nhớ về những bữa cơm mẹ nấu, lũy tre làng, con nước dâng mùa lũ; là những đêm mẹ thức trắng chờ con trở về, lời ru ấm áp, láng giềng tối lửa tắt đèn có nhau. Đó là vùng đất từ thuở hồng hoang, đom đóm đêm hè, chim cuốc gọi đàn. Đó là những khắc khoải của tình yêu và kết thúc thinh lặng trong cô đơn da diết. Đó là mùi vị của cuộc sống – nửa đời lầm lỡ, một mình dấn thân, nhưng vẫn đầy trân quý và xúc động.

Phong cách và ngôn ngữ thơ Huỳnh Khang không hẳn mới lạ, nhưng lại đủ duyên để cuốn hút người đọc, đủ chân thành để gợi trong ta niềm yêu thương và trân quý qua những hình ảnh thân thuộc mà giàu sức gợi: đàn cò trắng chao nghiêng, khói rơm quấn mây, đom đóm lập lòe nơi quê nhà. Vẫn là những thủ pháp tu từ quen thuộc như điệp ngữ, đối lập, ẩn dụ; vẫn là nhịp điệu thân gần của thơ tự do, của lục bát, tứ tuyệt mang âm hưởng dân ca; vẫn là lối viết vừa ngẫu hứng, bộc trực, vừa khi trầm tư, hoài niệm, gieo vần tinh tế. Và cũng chính ở đó, thơ mở ra những tầng ngữ nghĩa để mỗi lần đọc lại, người ta lại tìm thấy một dư vang mới. Sự chuyển tiếp tự nhiên giữa các mảng thơ tạo nên dòng chảy liền mạch: từ hoài niệm dạt dào đến suy ngẫm lắng sâu. Đã có nhiều người làm thơ theo hướng này, nhưng dường như người đọc vẫn chưa bao giờ thấy chán, bởi cái duyên và cái tình trong thơ Huỳnh Khang luôn biết cách giữ chân người thưởng thức.

Tuy không được chia thành các chương rõ ràng, tuyển tập vẫn có thể tạm phân thành những mạch, những nhánh như dòng sông của hoài niệm dạt dào chảy hòa với suy ngẫm trầm tĩnh. Quá khứ giản dị rưng rưng hiện lên, trân trọng những điều bình thường trong cuộc sống, khiến lòng ta lắng xuống, tự vấn về cội rễ, tình thân và sự kết nối giữa con người với thiên nhiên. Dư âm của rạ rơm, con đường làng, những câu chuyện ông bà, cha mẹ kể vẫn còn đọng lại trong tâm trí như lời nhắc nhở tìm về nguồn cội. Khi gấp lại trang cuối cùng, ta cảm nhận được sự nhẹ nhàng, bình yên, như một chuyến du hành trở về quê hương, để tìm thấy sự thanh thản và kết nối sâu sắc với những thi ảnh gần gũi, thân thuộc.

Không mới, không lạ, nhưng vẫn thật hay. Cái hay đầu tiên nằm ở chủ đề quê hương, đất nước – một mạch nguồn mà biết bao thi sĩ đã từng viết, từng nói, từng bày tỏ. Những câu thơ trong MIỀN NHỚ nghe gần gũi, dễ thuộc, nhưng lại mang một chất riêng, chưa ai từng viết theo cách này. Điều tưởng chừng giản đơn ấy thực ra không hề dễ dàng: nếu viết thiếu tinh tế, dễ trùng lặp; nếu viết không gọn, dễ gây nhàm chán. Trong khi nhiều thi sĩ đi theo con đường cách tân, tìm tòi lạ lẫm, thử nghiệm đủ kiểu để “đãi cát tìm vàng”, thì Huỳnh Khang vẫn vững vàng đi dọc theo cánh đồng, hoà mình vào dòng sông – đơn giản mà sâu lắng, bình dị mà trọn vẹn.

Trong khổ thơ về mẹ, Huỳnh Khang không vẽ ra ý tưởng mẹ con mới lạ, nhưng chính sự giản dị chắt lọc khiến câu chữ bừng sức sống. Chỉ qua hai câu “Suốt đời mẹ đã cả lo: / Lo con, lo cháu… ấm no mẹ mừng”, ta đã hình dung trọn vẹn một đời mẹ lặng lẽ hy sinh, nước mắt và nụ cười đan vào nhau bên bếp lửa quê nhà. Sang đến “Một đời quên mất tuổi xuân, / Quay đi, ngoảnh lại… bát tuần đã qua”, mốc thời gian dài đọng lại trong ba chấm ngắn ngủi tinh tế, gọi về bao mùa xuân héo úa không tiếng than. Khi người con trở về ngủ tại nhà, chỉ một tiếng ho lúc đục, lúc trong vang lên giữa đêm thanh đã đủ khiến lòng xốn xang nặng trĩu như sông lũ về, như thể nỗi nhọc nhằn của mẹ dồn cả vào từng hơi thở. Như vậy, thấy được ở đây sức mạnh của một giọng thơ bình thản mà sâu lắng: không cần hình thức cách tân, chỉ với ngôn từ gần gũi nhưng giàu ẩn dụ, Huỳnh Khang vẫn tạo nên những phản chiếu cảm xúc mới mẻ trên mạch nguồn thi ca về mẹ.

Đoạn thơ “Ta nay đã nửa cuộc mình…” là tiếng lòng chân thật của những phận người lấm lem bùn đất, đã trải nửa đời bôn ba mà vẫn giữ trọn tình quê hương. Ngôn từ mộc mạc dẫn ta về với cánh đồng, con sông thân thuộc của từng hạt phù sa đọng lại. Cách tác giả khéo đặt dấu chấm lửng ngay giữa “Chữ tình tròn, méo khéo là… trêu ngươi” hay “An yên là… mừng!” như để nhường chỗ cho bao suy tư, bao dư âm còn sót lại trong lòng người. Dẫu chủ đề về nửa đời người, nỗi nhọc nhằn, khát khao bình yên không mới lạ, mỗi câu mỗi chữ vẫn rạo rực sức sống bởi sự tinh giản, gọn gàng, khiến ta lặng ngắm lại hành trình của chính mình và thấy yêu quý từng khoảnh khắc bình dị nhất.

Điểm đặt biệt thứ hai, vì Huỳnh Khang cũng sáng tác nhạc và một số bài thơ do chính anh phổ nhạc trở nên vô cùng phổ biến như CHỈ NỤ CƯỜI EM THÔI, MIỀN NHỚ, và nhiều sáng tác khác khi đọc lên đã tự khắc đầy nhạc điệu. Trong khổ thơ về Sông Hinh, điệp từ “nghiêng” vang lên như một giai điệu lặp mà không đơn điệu, lúc vỗ nhịp êm ái, khi ngân vang sâu lắng như tiếng đàn bầu văng vẳng bên triền đồi kéo người nghe, người đọc bước vào khúc nhạc đồng quê mênh mang. Ở đây thơ và nhạc không còn biên giới: mỗi nhịp luyến láy trong câu chữ đều có thể cất lên thành một khúc tình ca, và chính khả năng phổ nhạc của tác giả đã giúp người thưởng thức cảm nhận trọn vẹn nhịp điệu ấy ngay từ trang giấy.

Trong những vần thơ của Huỳnh Khang, hơi thở của đất quê đọng trong ruộng đồng, con đường làng, luỹ tre, hạt gạo. Ta cảm nhận được mùi nồng của phù sa sau cơn mưa đầu mùa, vị ngọt thoang thoảng của mạ non hé nụ trong buổi sớm mai, cả độ ấm còn sót lại trên bờ giậu khi nắng đã lên cao. Đó là hơi thở được nuôi dưỡng từ bao thế hệ cày bừa, gặt hái, từ những bàn tay chai sần đan vào hạt giống và ước mơ. Khi mường tượng từng thuổng xới, ta như nghe được tiếng lách cách vang lên giữa không gian tĩnh lặng, âm thanh của lao động đồng điệu với tiếng tim đất réo rắt. Đất ở đây không im lặng, mà lớn lên cùng lời ru của mạ, vươn mình dưới hơi nắng, cất giấu ký ức khói bếp, bến nước và những bước chân quen thuộc. Mỗi hạt cát, mỗi tảng bùn mang trong mình câu chuyện về những ngày nắng cháy, những buổi chiều mưa rả rích, và cả khát khao vươn lên giữa muôn trùng giông tố. Sống cùng hơi thở đất quê qua thơ Huỳnh Khang ta nhận ra một tình yêu giản dị mà mãnh liệt, nơi gốc rễ và cành lá luôn đan quyện kéo ta trở về với những giá trị thuở ấu thơ, với nỗi niềm nhớ thương mênh mang. Nghe hơi thở ấy là lắng nghe trái tim của mảnh đất chứa đựng niềm tin vững chãi về một tương lai được vun đắp từ lòng hiếu khách và sức sống bất tận. Hơi thở đất quê trong thơ là cảnh sắc và trách nhiệm cũng như tình thương với mảnh đất mình đang sống, gìn giữ và trao truyền hơi ấm của cội nguồn cho thế hệ mai sau.

"Về quê ra ngủ ngoài hiên

Nghe con chim cuốc liên miên gọi bầy

Côn trùng rả rích quanh đây

Chiếu chăn trăng chiếu và đầy ánh sao".

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm