TIN TỨC

Hồn nhiên như tuổi thơ còn sót lại

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-09-22 10:08:54
mail facebook google pos stwis
2512 lượt xem

Nhà văn NGUYỄN TRƯỜNG: Nhà văn Nguyễn Khải từng viết "Năm 70 tuổi tôi bắt đầu chán viết, người rã ra, đọc sách... chả rõ mình đang đọc gì...". Tôi sợ mình cũng đến lúc như thế, mà tuổi 70 đã cận kề, phải tranh thủ viết thôi. Bởi vậy tôi ít đàn đúm, sợ mất thời gian. Tôi viết về sự nghiệp nhà văn nào là bởi họ đã già, bị bệnh hiểm nghèo, để động viên họ như nhà văn Nguyễn Vũ Tiềm, Triệu Xuân, Nguyễn Khoa Đăng, Trúc Phương. Còn viết về tác phẩm nào là do mình thích, ngoài vòng bè phái và "ân oán giang hồ". Nay tôi viết về Tuyển tập thơ Trần Mạnh Hảo (báo Văn nghệ số 39) là vì văn học, mong được bạn đọc thể tất.

HỒN NHIÊN NHƯ TUỔI THƠ CÒN SÓT LẠI
(Đọc Tuyển tập thơ Trần Mạnh Hảo- nxb Hội Nhà văn 2022)

NGUYỄN TRƯỜNG

Tuyển tập thơ Trần Mạnh Hảo, dày gần 500 trang, khổ 16 x24 cm, bìa cứng, vừa ra mắt độc giả tháng 8 năm 2022 gây xôn xao dư luận, 1000 cuốn đã bán hết trong vòng 1 tháng. Đó là hiện tượng lạ, vì những năm gần đây các tác giả in thơ chỉ để biếu tặng.

Tại sao Tuyển tập thơ Trần Mạnh Hảo lại gây được sự chú ý của dư luận, được sự đón tiếp nồng nhiệt của độc giả? Có lẽ đã mấy chục năm nay thơ Trần Mạnh Hảo không xuất hiện trên báo chí cũng như xuất bản. Trong trí nhớ của nhiều người, thơ Trần Mạnh Hảo như là thứ rượu thơm ngon, từ lâu chưa được nhấp lai, càng làm người ta mong nhớ. Thì nay, tuyển tập thơ hơn nửa thế kỷ- kể từ ngày anh in bài thơ đầu tiên trên báo Tiền phong năm 1962, quả là có sức nặng chữ nghĩa. Nhưng trên hết tập thơ gần 600 bài, từ thơ tứ tuyệt đến trường ca, như Mỹ tửu cất lâu ngày, say lúc nào không biết.

Trong tuyển tập thơ, ta dễ nhận ra thi pháp thơ Trần Mạnh Hảo, trước hết đó là thơ có tứ hay. Trong bài thơ, tứ thơ triển khai theo chiều dọc, còn thơ viết theo cảm xúc thường thể hiện qua chiều ngang. Nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm đúc kết kinh nghiệm làm thơ: “Túi nhà thơ có ba ngăn/ Tứ- Từ- Tư đủ quanh năm tiêu xài” (Tứ là tứ thơ. Từ là từ ngữ. Tư là tư tưởng). Trong tuyển tập thơ ta gặp phần lớn bài thơ có tứ hay như: “Mặt trời và hạt sương”: “Mặt trời không mang nổi/ dù một hạt sương rơi/ Nhưng trong hạt sương ấy/ Có bao nhiêu mặt trời”. Bài “Bác gấu trả lời”: “Bác xơi toàn mật ong/ Mà sinh mật đắng thật/ Lấy cái ngọt tận cùng/ Làm nên cái đắng nhất”. Bài “Giữa nước Nga tìm một con kiến” cũng có tứ thơ độc đáo: Nhà thơ đến nước Nga, chợt phát hiện trong vali có chú kiến: “Một chú kiến Việt Nam bé nhỏ/ Đã leo qua sáu quốc gia mười bảy nghìn cây số/ Không biết chú đã biết mình bò tận tới Liên Xô”. Để tác giả có cớ mà triết lý: “Tổ quốc có bao giờ người hóa thân thành kiến/ Lặng lẽ bò qua sự vĩ đại của mình/ Như những đứa con vượt Trường Sơn ra thế giới/ Không còn thích đóng vai người hùng cứu chuộc hành tinh”.

Nhà thơ trước hết phải xúc động viết nên bài thơ thì mới mong làm rung động được trái tim độc giả. Còn nhiều yếu tố làm rung động độc giả như tài năng, tài sử dụng ngôn từ, thơ phải có hình ảnh, thi tại ngôn ngoại... Thơ cần đa nghĩa, nhưng phải để cho độc giả hiểu. Thơ tù mù, rối rắm không hiểu thì làm sao người ta cảm được. Anh phản đối thơ chỉ cần cảm không cần hiểu. Không có nhận thức, không có con người. Hiểu, chính là nhận thức của con người.

Yếu tố phi lý và hợp lý trong tương quan với hình thức và nội dung thơ được ông sử dụng khá nhuần nhuyễn: “Ngọn lửa rét run trên củi ướt/ Cháy lem nhem dáng dấp con người”. (Tổ quốc của tình yêu) “Sông già nhất sông từng nhiều tuổi nhất/ Mà sóng đùa như trẻ mới lon ton” (Những dòng sông Nam bộ); “Khái niệm tự do làm ta khổ/ Hạnh phúc giam cầm nỗi khổ đau” (Tự do).

Nhưng tập trung nhất trong thi pháp thơ Trần Mạnh Hảo là nghệ thuật ẩn dụ. Hầu hết trong tuyển tập thơ là dùng hình tượng ẩn dụ. Những bài thơ Trần Mạnh Hảo viết về quê hương, đất nước đều hay, đều tràn đầy cảm xúc, bởi anh yêu đất nước này, không dưng gì tác giả lấy hai câu thơ trong bài “Nhân xem phim sám hối nghĩ về Boris Pasternak” làm đề từ: “Ôi đất nước/ Anh yêu đến băng hoại cả đời”. Đất nước của anh không thể hiện trực diện, nói tuột ra mà qua hình tượng văn học, qua ẩn dụ, nên thêm tầng ý nghĩa. Bởi thế, những bài thơ hay nhất của Trần Mạnh Hảo là viết về các dòng sông dọc dài đất nước như: Sông Hồng, sông Mã, sông Lam, sông Hương, sông Thu Bồn, sông Cửu Long... Con người ở dọc theo dòng sông từ ngàn xưa đã anh dũng chống ngoại xâm, cần cù lao động làm nên non nước hôm nay: “Con mới hiểu biển vì sao khát nước/ Triệu năm còn ừng ực uống dòng sông/ Vì sao Lạc Long Quân lấy sông Hồng làm đuốc/ Soi nước Văn Lang từng bước tiên rồng” (Sông Hồng). Viết về Thanh Hóa, nhà thơ cảm hứng từ trong lịch sử, các anh hùng dân tộc đã lãnh đạo nhân dân ta đứng lên chống giặc ngoại xâm và mở mang bờ cõi như Bà Triệu, Dương Diên Nghệ, Ngô Quyền, Lê Lợi, Nguyễn Hoàng... Nhà thơ khái quát hoá hình tượng đó bằng những dòng sông: “Một bên sông Trâu, một bên sông Ngựa/ Kéo tỉnh Thanh vào Thuận Hóa mở sơn hà”; “Sông linh hiển đất ngựa lồng, trâu húc/ Tổ quốc còn Thanh Hóa sợ gì đâu?” (Thanh Hóa). Trong tuyển tập, theo tôi bài thơ hay nhất là bài “Sông Lam”. Tác giả lấy con sông để nói về người dân xứ Nghệ nổi tiếng cần kiệm, bởi vùng đất đó vốn “khắc nghiệt về điều kiện tự nhiên, cằn cỗi về điều kiện thổ nhưỡng” nên con người càng phải chống chọi lại những gian khó đó để sinh tồn, do đó cũng tạo ra tính cách người xứ Nghệ: “Sông vắt kiệt lòng mình nuôi đất cát/ Thương đất nghèo sông xanh rớt mồng tơi/ Sông ẩn hồn trong vại cà, vại nhút/ Một củ khoai cũng lấp ló mây trời/ Con cò mặc áo tơi đi học/ Cá sông Lam còi cọc toát mồ hôi/ Gió hào kiệt thổi xơ Nghệ Tĩnh/ Cá gỗ nuôi lớn những thiên tài”. Những con người xứ Nghệ ham học, nên dân xứ Nghệ tài giỏi ở đủ mọi lĩnh vực, con đường học cũng là con đường để họ thoát cảnh bần hàn: “Đến cỏ dại cũng mọc thành chữ nghĩa/ Đồ nghệ sông Lam dạy biển cả học bài”. Người xứ Nghệ rất anh dũng trong chiến tranh bảo về Tổ quốc: “Để rú Quyết lặng thầm đi cứu nước/ Sông veo veo trời đất thoắt sen vàng/ Sông Lam ăn cát mà xanh, uống trời mà mát/ Trăng cháy hết lòng sâu quyết liệt cả cơ hàn”. Thật hào sảng, thật sâu sắc!

Một dải đất miền Trung làm nên “Đất nước hình tia chớp”. Mảnh đất “Mang hình dáng em”. Anh khái quát về miền Trung: “Những dòng sông nhất định về ngang/ Để lịch sử chảy về chiều dọc”. Miền Trung có sông Mã, sông Chu, sông Lam, sông Nhật Lệ, sông Gianh, sông Hương, sông Thu Bồn, sông Trà Khúc, sông Côn, sông Đà Rằng... rất nên thơ lại hàm nghĩa văn hóa ngàn năm của dân tộc: “Những dòng sông miền Trung/ Như những thắt lưng đất nước/ Thắt lưng đất nước cho chặt/ Mà đi xuống biển/ Mà đi lên rừng”.

“Những dòng sông Nam bộ” lại là những ẩn dụ khác về người dân dọc con sông Cửu Long “Nông dân Nam bộ gối đất nằm sương/ Mồ hôi vã bãi lầy thành đồng lúa” (Cửu Long giang ta ơi- Nguyên Hồng). Trần Mạnh Hảo cũng cảm xúc về con sông Cửu Long này: “Những dòng sông làm nên làng nên xóm”. Những dòng sông chở nặng phù sa bồi đắp nên đồng bằng rộng lớn, vựa lúa của cả nước được tác giả ví như người khỏe mạnh: “Những dòng sông như những người chạy bộ/ Cứ đuổi theo bóng dáng chân trời/ Sông khỏe quá chạy hoài thành châu thổ/ Chạy qua rồi sông để lại lúa khoai”. Dòng sông cũng như tính cách con người Nam bộ, phóng khoáng, thích tự do, không muốn làm phiền người khác “Những dòng sông mang buồn vui sướng khổ/ Một đời sông không phiền lụy đê điều”. Tác giả trải hết lòng mình với dòng sông êm đềm này đến trọn đời: “Anh mới sống được một phần thương nhớ/ Bởi dòng sông cứ đến chảy qua nhà”.

Tây Bắc có hoa ban được ẩn dụ như người con gái Thái, như hình tượng Tây Bắc hùng vĩ: “Anh từng ước cùng hoa ban tắm suối/ Trời hở hang mây trắng khỏa lưng trần”. Nhà thơ ước thôi, để có lý do tưởng tượng trời đất, thiên nhiên cũng giao tình, lôi cuốn: “Hôn nước suối nõn nà hương con gái/ Cả núi rừng xao động ngoái thèm hoa/ Xin ôm xiết trọn linh hồn xứ Thái/ Inh lả ơi lồng lộng một đôi tòa”. Lồng lộng như một tòa thiên nhiên Thúy Kiều của Nguyễn Du tắm, nhưng trong thơ Trần Mạnh Hảo không phải người con gái tắm mà thiên nhiên, sông suối, văn hóa xứ Thái tắm: “Em cỡi hết mây trời trăng nõn tuyết/ Hoa ban còn trinh tiết mãi ngàn năm/ Yêu dấu hỡi xin suối nguồn tâm huyết/ Giữ dùm anh trăng khuyết nở nang rằm”. (Hoa ban em ơi). Quả là nhà thơ say mê Tây Bắc đến mụ mị, đến “băng hoại cả đời”.

Một bài thơ hay ít nhất phải có từ đôi ba câu thơ hay. Chính những câu thơ hay làm sáng cả bài thơ. Thậm chí trong câu thơ hay lại có một hai từ cực hay. Bài thơ “Cửu Long Giang ta ơi” của Nguyên Hồng thỉnh thoảng có vài câu thơ hay, trong nhưng câu thơ đó có vài từ “đinh”: “Ngẫm nghĩ voi đi/ Thác Khôn cười trắng xóa”; “Suối mát dội trong rừng dừa trĩu quả”. Trong tuyển tập thơ Trần Mạnh Hảo, bài Sông Lam và bài “Hoa ban em ơi”, dày đặc nhưng câu thơ hay: “Khoai lang gàn, luống dọc thích bò ngang”; “Người giàu có nên đất nghèo khô khát/ Kìa gió Lào thổi cong sông Lam” (Sông Lam). Có thể lẩy ra trong tập trùng trùng điệp điệp câu thơ hay: “Những vạt lục bình hoa vừa đi vừa nở/ Để đôi bờ sót lại những bài ca” (Những dòng sông Nam bộ); “Hồn ta làm cá cho trăng lưới/ Nghìn năm ta chết đuối giữa trời” (Lý Bạch, thơ hay có thể bị vua bắt); “Hoa ban nở thành người con gái Thái/ Đám mây bay trong thau nước gội đầu”; “Nơi con thác giữ nụ cười em lại/ Tiếng Thái thương như cầm được giữa tay mình” (Gửi Lai Châu); “Cái duyên là cái vô tình/ Ai mà cố ý không thành được duyên”; “Bánh dầy trắng bánh chưng xanh/ Đất trời kia cũng sinh thành bởi ta” (Đất nước hình tia chớp); “Sông Hồng lụt cả ca dao/ Con cò bị bão giạt vào lời ru” (Sông Hồng)...

Trần Mạnh Hảo nói nhiều về lịch sử, về các nhân vật lịch sử, các văn nghệ sỹ trong và ngoài nước... cũng chỉ mượn hình tượng người xưa để nói nay, để triết lý về vấn đề nào đó tùy thuộc vào thi hứng. Anh từng định nghĩa về thơ: “Thơ chính là tuổi thơ của loài người còn sót lại”, bởi thế thơ phải hồn nhiên, không cố ý, như là cái duyên của người con gái. “Cái duyên là cái vô tình”. Thơ không phải là triết học, thơ chỉ phảng phất màu sắc, hương vị cuả triết học, của tâm linh. Nó vừa hư vừa thực. Trong những câu thơ hay nó nửa hư nửa thực của anh: “Nắng trộn vào mưa, mưa trộn nắng/ Trời đất mà như tóc muối tiêu/ Ngày trộn vào đêm / Năm trộn tháng/ Anh trộn vào em hết mọi điều”. Thơ anh có nhiều câu khái quát một cách không khái quát. Những bài thơ tứ tuyệt của anh thường dồn nén, có tính khái quát rất cao, đặc biệt là ở câu kết: “Tỉa mấy cành khô toan chụm lửa/ Vài hôm chồi rỉ giọt đào hoa/ Mùa xuân đâu phụ lòng cây củi/ Cành đứt lìa thân nụ mới òa” (Củi và hoa).

Trần Mạnh Hảo vẫn trung thành với thơ truyền thống. Trong tuyển tập thơ ta gặp nhiều bài thơ lục bát, thơ tứ tuyệt, nhưng anh cũng có cả thơ không vần. Thật ra thơ không vần không mới. Từ Văn Cao, Thanh Tâm Tuyền, Trần Mai Ninh... thời chống Pháp đã làm thơ không vần. Trần Mạnh Hảo tâm sự, anh chịu ảnh hưởng của thơ Chế Lan Viên ở thơ tứ tuyệt. Không có Chế Lan Viên không có Trần Mạnh Hảo. Nhưng với Trần Mai Ninh lại là thần tượng thơ không vần của Trần Mạnh Hảo, mặc dù Trần Mai Ninh chỉ có ba bài thơ không vần, nhưng đó là ba bài tuyệt tác. Ta gặp các bài thơ không vần của Trần Mạnh Hảo trong tuyển tập như: “Thanh Tùng- người ăn hải cảng”; “Nghe nàng Vọng Phu Solveig hát”; “Bài ca vỏ ốc”... Trần Mạnh Hảo có đến chục bài thơ không vần.

Trung thành với thơ truyền thống, với tiêu chí thơ để hiểu, Trần Mạnh Hảo đã để lại cho đời một tuyển tập thơ nhiều tìm tòi đổi mới về thi pháp, có tính khái quát mang hương sắc triết học mà vẫn hồn nhiên như tuổi thơ còn sót lại.

N.T.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm