TIN TỨC

Khám phá vẻ đẹp thi nhân

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-02-28 09:07:50
mail facebook google pos stwis
2550 lượt xem

NGUYỄN TRƯỜNG
(Đọc tiểu thuyết “Người tài hoa dại khờ” của Nguyễn Vũ Tiềm- NXB Hội Nhà văn 2022)

Nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm vừa ra đi ngày 14 tháng 1 năm 2022,  cuốn tiểu thuyết thứ 4 của ông ra đời được 5 ngày, đến nỗi ông không còn năng lượng để  ký tặng bạn bè đồng nghiệp, một sức viết phi thường của người đam mê văn học đến giây phút cuối cùng của cuộc đời. Vẫn chưa phải là cuốn tiểu thuyết cuối cùng của ông, vì cuốn tiểu thuyết “Bùi Giáng - thiên tài tự hủy” cũng sắp được xuất bản.

Khi nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm từ trần thì báo Văn nghệ đã in xong báo Tết gộm 3 số nên không kịp đăng bài về nhà thơ tài hoa. Bài viết này như một nén nhang tưởng nhớ nhà thơ, nhà văn, nhà lý luận phê bình văn học Nguyễn Vũ Tiềm.

Gần đây, nhà thơ có vẻ không còn được độc giả ái mộ như hồi thế kỷ trước, đâu rồi hình ảnh thi sỹ Hàn Mặc Tử đi vào âm nhạc; Thần đồng thơ Trần Đăng Khoa, ông Hoàng thơ tình Xuân Diệu…bình thơ, hội trường luôn chật người nghe; chương trình ngâm thơ trên Đài Tiếng nói Việt Nam cũng không còn cuốn hút thính giả. Đã có câu vè nghe thật đau lòng “Gặp nhau tay bắt mặt mừng/ tặng gì thì tặng xin đừng tặng thơ”. Ở Việt Nam, chưa có cuốn tiểu thuyết đúng nghĩa nào viết về nhà thơ đương đại. Thì đây, Nguyễn Vũ Tiềm đã viết hẳn một cuốn tiểu thuyết đầy đặn về nhà thơ Trúc Sơn (Nguyên mẫu là nhà thơ Thanh Tùng) -  thi sỹ mà bạn đọc đã quen tên bởi bài thơ “Thời hoa đỏ” được nhạc sỹ Nguyễn Đình Bảng phổ nhạc, đi vào lòng người từ mấy thập niên cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, góp phần lấy lại hình ảnh nhà thơ trong lòng bạn đọc. Đó là một Thanh Tùng thi sỹ, “Có trực giác vạm vỡ và tươi tốt” (Hữu Thỉnh), sống hết mình vì thơ, mọi thứ khác với ông chỉ là phương tiện để ông hành hương về ngôi đền thi ca vời vợi.

Nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm đã có thời gian dài sống và làm việc với thi sĩ Thanh Tùng, câu chuyện về nhà thơ đủ chất liệu viết nên cuốn hồi ức hấp dẫn, nhưng còn một số tình huống tế nhị cần thay đổi địa chỉ và tên người thật nên ông chọn cách viết tiểu thuyết. Tiểu thuyết cơ bản là hư cấu, vậy viết về một nhà  thơ có thật, được nhiều người biết và mến mộ liệu có khó khăn? Nguyễn Vũ Tiềm đã vượt qua được cái ngưỡng chật chội đó, viết về người thật, việc thật mà ngòi bút vẫn tung phá, văn chương vẫn bay bỗng, nhân vật hiện ra đầy tính cách, câu chuyện có lớp lang sinh động. Trước hết nhờ nguyên mẫu nhà thơ Thanh Tùng có biệt tài: giỏi võ nghệ, giỏi ứng tác thơ. Những chất liệu đó là “ Mảnh đất màu mỡ” trợ sức cho Nguyễn Vũ Tiềm trồng tỉa, công phu của người thâm canh đã được đền đáp: cây nghệ thuật đã mọc lên xanh tươi, xum xuê hoa trái.

Nổi bật ở cuốn tiểu thuyết này là nghệ thuật bố cục. Câu chuyện bắt đầu từ một Việt kiều  Pháp về tên là Cẩm Châu, cô là cháu gái công tử Bạc Liêu (Công tử con nhà điền chủ giàu có, nổi tiếng ăn chơi cách đây cả trăm năm). Một lần Trúc Sơn đi công tác ở Bạc Liêu, dự đám cưới và quen Cẩm Châu. Cái duyên tiền định đã đưa hai người gắn bó với nhau, yêu nhau bằng tiếng sét ái tình. Như Đôn Ki-hô-tê, chàng nhà thơ Trúc Sơn đã có một nàng “Đuyn-xi-nê-a” - Cẩm Châu làm thần tượng, mỗi bài thơ của chàng như là một “chiến công” dâng lên nàng. Họ nhớ nhung, chung thủy với nhau, là cảm hứng để nhà thơ dàn trải tâm trạng, cảm  xúc của mình trên trang giấy. Bây giờ nàng Cẩm Châu trở về thì nhà thơ của chúng ta đã rời cõi tạm. Cẩm Châu đến tạp chí Tài Hoa Trẻ, cơ quan mà Trúc Sơn công tác để nghe, để sống lại những năm tháng thi sĩ đã sống, đã yêu và đã viết như thế nào. Qua sự khám phá của Cẩm Châu, Nguyễn Vũ Tiềm  dựng lại quá khứ một thời sôi nỗi và không ít giông bão của nhà thơ Trúc Sơn. Đây là cách bố cục khá hiện đại, quá khứ, hiện tại cùng đồng hiện gây xúc động cho người đọc. Cẩm Châu cũng tham gia vào câu chuyện, vào cảm xúc của người kể. Nhất là chuyện có một cô gái hâm mộ Trúc Sơn, mời chàng về nhà để chăm sóc trong lúc lánh nạn bởi gã giang hồ truy lùng. Những đêm trong nhà nàng, được nàng gợi ý, thậm chí tỏ tình nhưng thi sĩ vẫn giữ lòng chung thủy làm Cẩm Châu rơi không ít nước mắt. Không ngờ nhà thơ cũng trải qua những đố kỵ nhỏ nhen của Bính Tuất, của một số người mang tư tưởng lạc hậu về chính trị và kém hiểu biết về văn học nghệ thuật. Còn cả chuyện ân oán giang hồ hồi nhà thơ đi làm áp tải ở Hải Phòng thời chiến tranh chống Mỹ cùng lúc ùa về làm thi sĩ khốn khổ.  Có lệnh miệng của cấp trên yêu cầu phải sa thải Trúc Sơn. Nhà thơ vốn tự trọng đành âm thầm rời cơ quan Tài Hoa Trẻ trước khi để lại lá thư từ biệt. Nhưng trưởng cơ quan, nhà thơ Văn Thịnh, rất mến mộ, yêu quý Trúc Sơn, từng cưu mang, giúp đỡ anh, đã cử người đi tìm thi sĩ. Nhà văn Nguyễn Khoa Đăng, vốn có kinh nghiệm thám tử đã tìm được Trúc Sơn khi anh đang ngồi câu cá bên sông Sài Gòn. Thi sĩ về đúng lúc cơ quan Tài Hoa Trẻ đang vào thời kỳ nước rút cuộc thi thơ tứ tuyệt và truyện ngắn mi ni. Những đóng góp của thi sĩ trong vị trí trưởng ban sơ khảo, tuyển chọn được nhiều bài thơ, truyện ngắn mi ni hay, được các nhà văn, nhà thơ tên tuổi khen ngợi đã tạo uy tín cho anh, dẹp tan dư luận từng nhận xét ấu trĩ về thơ Trúc Sơn. Những người vốn ghen ghét đố kỵ anh cũng đã nhận ra bản chất của Trúc Sơn mà hối hận, trở nên cảm tình, biết ơn những giúp đỡ vô tư của anh. Qua sóng gió càng thấy Trúc Sơn đa tài, đa tình, ứng xử giữa con người với con người rất nhân hậu. Những nét đẹp đó của Trúc Sơn ánh lên trong sự khám phá của Cẩm Châu.

Trong cuốn tiểu thuyết này còn có điểm sáng bởi yếu tố tâm linh. Hình ảnh Trúc Sơn hiện ra linh thiêng, qua chi tiết Cẩm Châu đang đọc lại những tác phẩm của thi sĩ thì bỗng  chìm vào giấc điệp, trong mơ cô gặp lại Trúc Sơn, hai người ôm nhau, nói những lời chan chứa yêu đương… Thi sĩ dặn, “Anh còn tập bản thảo có chừng mười bài thơ anh viết trong cuốn vở học trò, anh để quên trên nóc tủ sắt trên ở tầng 4 tòa soạn. Em nhắc anh Văn Thịnh lấy xuống. Kỷ niệm tặng em đó”. Cẩm Châu giật mình bừng tỉnh. Nhớ lại giấc mơ cô vội gặp Văn Thịnh kể lại câu chuyện. Mọi người lên tầng 4 tòa soạn, bắc ghế leo lên và đúng là có cuốn tập học trò bị phủ bụi, đúng chữ Trúc Sơn với mười bài thơ viết tặng Cẩm Châu. Trong truyện, thỉnh thoảng ta gặp những bài thơ, những câu thơ thi sĩ tặng Cẩm Châu nhờ giấc mơ mà cô tìm  được, những chi tiết đó càng làm cho tiểu thuyết trở nên huyền ảo, những câu thơ của Trúc Sơn bỗng linh thiêng ảo diệu.

Tuyến nhân vật tiêu cực, trong truyện có Bính Tuất, người luôn đố kỵ với Trúc Sơn, muốn thay thi sĩ vị trí biên tập thơ.  Bính Tuất được một số tờ báo đăng thơ vì cần yếu tố minh họa cho thời sự, tự ngộ nhận mình có tài. Nhân vật Văn Thịnh, trưởng cơ quan Tài Hoa Trẻ đã chỉ cho Bính Tuất  thấy thơ dở là như thế nào. Tránh viết những điều hiển nhiên như “ Con mèo con chó có lông”. Hình ảnh Bính Tuất làm thơ toàn nói những điều hiển nhiên giống như mảng đen để bên mảng trắng càng nổi bật lên bút pháp thơ Trúc Sơn với những tìm tòi mới mẻ. Theo nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm, trong thơ Trúc Sơn, cái phần “ khả tri” khá đậm nét, Trước hết là thơ ứng tác của anh. Biệt tài này cổ kim đông tây rất hiếm, mà phần lớn là giai thoại, trong khi Trúc Sơn là có thật. Nhiều khi anh làm thơ trong vô thức, những câu thơ tài hoa cứ hiện lên một cách tự nhiên. Phần “bất khả tri” này nếu phải phân tích cái hay cái đẹp rất khó, có khi cố tình mổ xẻ, phân tích lại làm câu thơ, bài thơ nông cạn, tầm thường đi. Đôi khi “bất khả tri” thì cứ để “ bất khả tri” mà thưởng thức cũng là cái thú! Những câu thơ, bài thơ như thế thường xuất hiện ở những giây phút thần khởi kỳ diệu của thi nhân một cách bí ẩn mà ta không lý giải được. Chính vì thế, trong tiểu thuyết này ta thấy Nguyễn Vũ Tiềm trích khá nhiều bài thơ của thi sĩ mà ít bình luận, ông dành phần “bất khả tri” cho độc giả đồng sáng tạo. Chi tiết nhà thơ Trúc Sơn bỏ cơ quan Tài Hoa Trẻ trốn đi biệt tăm vì không muốn phiền cho cơ quan, cho Văn Thịnh bằng những buổi buông câu trên sông Sài Gòn cũng là ẩn dụ nghệ thuật: Cái sân si ngoài đời ta đã cố tránh mà vẫn không thoát, nay ta đi buông câu, như buông bỏ cái ngã chấp để tiệm ngộ cõi trong xanh. Có thể nhà thơ tài hoa của chúng ta đã giật được bài thơ không chữ không lời từ dòng sông mà những người “trần mắt thịt” chưa thấy chăng? Qua đó càng dễ tạo nên thế giới “bất khả tri” trong thơ Trúc Sơn. Hàng ngày chúng ta gặp biết bao nhiêu người, nhưng nhà văn giữ lại trong lòng bạn đọc dù chỉ một nhân vật thôi đã khó lắm thay. Nhà văn dựng nên nhân vật, nhưng nếu viết tài, chính nhân vật lại làm nên tầm vóc nhà văn. Mừng thay qua tác phẩm này, Nguyễn Vũ Tiềm đã có có một Trúc Sơn vừa là bạn thật sự ngoài đời vừa là nhân vật văn học song hành cùng ông đi vào thế giới  nghệ thuật.

Cuốn tiểu thuyết, phần kết có hậu, nhân vật Cẩm Châu, sau mười ngày sống ngược dòng quá khứ của Trúc Sơn tại cơ quan Tài Hoa Trẻ đã khám phá ra những vẻ đẹp trong con người thi nhân, cô tự hào vì có một nhà thơ yêu cô, chọn cô làm đối tượng của thi ca để cảm hứng sáng tạo, giúp ích cho đời. Cô đã không nhầm khi chọn anh, yêu anh và được đền đáp bằng mối tình đẹp như thơ. Trước khi đi thăm mộ thi nhân cô đã vào chùa cầu nguyện, mặc áo nâu sồng, quyết ăn chạy niệm phật, tu tại gia để sớm tối tụng kinh gõ mõ nguyện cầu cho anh được an bình tịnh độ. Trong truyện ngắn hay tiểu thuyết, qua câu chuyện xảy ra, nhân vật thay đổi thái độ sống, dẫn đến hành động đột ngột trong lô gích chính là thành công của tác phẩm.

Nguyễn Vũ Tiềm là nhà thơ, văn xuôi giống như là tay trái, những vận động viên bóng bàn,  chơi tay trái đôi khi có những cú “giật” thần sầu làm đối phương choáng váng. Nguyễn Vũ Tiềm có cuốn tiểu thuyết lịch sử độc đáo “ Bắc phương hoàng hậu” viết về công chúa Ngọc Hân. Vẫn phát huy ưu thế rành chữ Hán, giỏi về thơ cổ, thơ mới khi bình luận dẫn dắt truyện. Cuốn tiểu thuyết “Người tài hoa dại khờ” viết về một nhà thơ, đúng là sở trường để tác giả tung hoành trên trang giấy, lôi cuốn người đọc vào thế giới nghệ thuật của mình và cả trong thế giới nghệ thuật của nhà thơ Trúc Sơn. Đó chính là nghệ thuật liên văn bản của văn học hậu hiện đại. Bởi thế cuốn tiểu thuyết bạn đang cầm trên tay quả là sách đáng đọc, không những có khả năng ôm trùm không khí thời đại, mà qua chuyện về nhà thơ còn giúp độc giả khám phá, rọi chiếu vào căn cốt của thơ.

Nguồn: Báo Văn nghệ số 9 (26/2/2022).

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm