TIN TỨC

Khám phá vẻ đẹp thi nhân

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-02-28 09:07:50
mail facebook google pos stwis
2628 lượt xem

NGUYỄN TRƯỜNG
(Đọc tiểu thuyết “Người tài hoa dại khờ” của Nguyễn Vũ Tiềm- NXB Hội Nhà văn 2022)

Nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm vừa ra đi ngày 14 tháng 1 năm 2022,  cuốn tiểu thuyết thứ 4 của ông ra đời được 5 ngày, đến nỗi ông không còn năng lượng để  ký tặng bạn bè đồng nghiệp, một sức viết phi thường của người đam mê văn học đến giây phút cuối cùng của cuộc đời. Vẫn chưa phải là cuốn tiểu thuyết cuối cùng của ông, vì cuốn tiểu thuyết “Bùi Giáng - thiên tài tự hủy” cũng sắp được xuất bản.

Khi nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm từ trần thì báo Văn nghệ đã in xong báo Tết gộm 3 số nên không kịp đăng bài về nhà thơ tài hoa. Bài viết này như một nén nhang tưởng nhớ nhà thơ, nhà văn, nhà lý luận phê bình văn học Nguyễn Vũ Tiềm.

Gần đây, nhà thơ có vẻ không còn được độc giả ái mộ như hồi thế kỷ trước, đâu rồi hình ảnh thi sỹ Hàn Mặc Tử đi vào âm nhạc; Thần đồng thơ Trần Đăng Khoa, ông Hoàng thơ tình Xuân Diệu…bình thơ, hội trường luôn chật người nghe; chương trình ngâm thơ trên Đài Tiếng nói Việt Nam cũng không còn cuốn hút thính giả. Đã có câu vè nghe thật đau lòng “Gặp nhau tay bắt mặt mừng/ tặng gì thì tặng xin đừng tặng thơ”. Ở Việt Nam, chưa có cuốn tiểu thuyết đúng nghĩa nào viết về nhà thơ đương đại. Thì đây, Nguyễn Vũ Tiềm đã viết hẳn một cuốn tiểu thuyết đầy đặn về nhà thơ Trúc Sơn (Nguyên mẫu là nhà thơ Thanh Tùng) -  thi sỹ mà bạn đọc đã quen tên bởi bài thơ “Thời hoa đỏ” được nhạc sỹ Nguyễn Đình Bảng phổ nhạc, đi vào lòng người từ mấy thập niên cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, góp phần lấy lại hình ảnh nhà thơ trong lòng bạn đọc. Đó là một Thanh Tùng thi sỹ, “Có trực giác vạm vỡ và tươi tốt” (Hữu Thỉnh), sống hết mình vì thơ, mọi thứ khác với ông chỉ là phương tiện để ông hành hương về ngôi đền thi ca vời vợi.

Nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm đã có thời gian dài sống và làm việc với thi sĩ Thanh Tùng, câu chuyện về nhà thơ đủ chất liệu viết nên cuốn hồi ức hấp dẫn, nhưng còn một số tình huống tế nhị cần thay đổi địa chỉ và tên người thật nên ông chọn cách viết tiểu thuyết. Tiểu thuyết cơ bản là hư cấu, vậy viết về một nhà  thơ có thật, được nhiều người biết và mến mộ liệu có khó khăn? Nguyễn Vũ Tiềm đã vượt qua được cái ngưỡng chật chội đó, viết về người thật, việc thật mà ngòi bút vẫn tung phá, văn chương vẫn bay bỗng, nhân vật hiện ra đầy tính cách, câu chuyện có lớp lang sinh động. Trước hết nhờ nguyên mẫu nhà thơ Thanh Tùng có biệt tài: giỏi võ nghệ, giỏi ứng tác thơ. Những chất liệu đó là “ Mảnh đất màu mỡ” trợ sức cho Nguyễn Vũ Tiềm trồng tỉa, công phu của người thâm canh đã được đền đáp: cây nghệ thuật đã mọc lên xanh tươi, xum xuê hoa trái.

Nổi bật ở cuốn tiểu thuyết này là nghệ thuật bố cục. Câu chuyện bắt đầu từ một Việt kiều  Pháp về tên là Cẩm Châu, cô là cháu gái công tử Bạc Liêu (Công tử con nhà điền chủ giàu có, nổi tiếng ăn chơi cách đây cả trăm năm). Một lần Trúc Sơn đi công tác ở Bạc Liêu, dự đám cưới và quen Cẩm Châu. Cái duyên tiền định đã đưa hai người gắn bó với nhau, yêu nhau bằng tiếng sét ái tình. Như Đôn Ki-hô-tê, chàng nhà thơ Trúc Sơn đã có một nàng “Đuyn-xi-nê-a” - Cẩm Châu làm thần tượng, mỗi bài thơ của chàng như là một “chiến công” dâng lên nàng. Họ nhớ nhung, chung thủy với nhau, là cảm hứng để nhà thơ dàn trải tâm trạng, cảm  xúc của mình trên trang giấy. Bây giờ nàng Cẩm Châu trở về thì nhà thơ của chúng ta đã rời cõi tạm. Cẩm Châu đến tạp chí Tài Hoa Trẻ, cơ quan mà Trúc Sơn công tác để nghe, để sống lại những năm tháng thi sĩ đã sống, đã yêu và đã viết như thế nào. Qua sự khám phá của Cẩm Châu, Nguyễn Vũ Tiềm  dựng lại quá khứ một thời sôi nỗi và không ít giông bão của nhà thơ Trúc Sơn. Đây là cách bố cục khá hiện đại, quá khứ, hiện tại cùng đồng hiện gây xúc động cho người đọc. Cẩm Châu cũng tham gia vào câu chuyện, vào cảm xúc của người kể. Nhất là chuyện có một cô gái hâm mộ Trúc Sơn, mời chàng về nhà để chăm sóc trong lúc lánh nạn bởi gã giang hồ truy lùng. Những đêm trong nhà nàng, được nàng gợi ý, thậm chí tỏ tình nhưng thi sĩ vẫn giữ lòng chung thủy làm Cẩm Châu rơi không ít nước mắt. Không ngờ nhà thơ cũng trải qua những đố kỵ nhỏ nhen của Bính Tuất, của một số người mang tư tưởng lạc hậu về chính trị và kém hiểu biết về văn học nghệ thuật. Còn cả chuyện ân oán giang hồ hồi nhà thơ đi làm áp tải ở Hải Phòng thời chiến tranh chống Mỹ cùng lúc ùa về làm thi sĩ khốn khổ.  Có lệnh miệng của cấp trên yêu cầu phải sa thải Trúc Sơn. Nhà thơ vốn tự trọng đành âm thầm rời cơ quan Tài Hoa Trẻ trước khi để lại lá thư từ biệt. Nhưng trưởng cơ quan, nhà thơ Văn Thịnh, rất mến mộ, yêu quý Trúc Sơn, từng cưu mang, giúp đỡ anh, đã cử người đi tìm thi sĩ. Nhà văn Nguyễn Khoa Đăng, vốn có kinh nghiệm thám tử đã tìm được Trúc Sơn khi anh đang ngồi câu cá bên sông Sài Gòn. Thi sĩ về đúng lúc cơ quan Tài Hoa Trẻ đang vào thời kỳ nước rút cuộc thi thơ tứ tuyệt và truyện ngắn mi ni. Những đóng góp của thi sĩ trong vị trí trưởng ban sơ khảo, tuyển chọn được nhiều bài thơ, truyện ngắn mi ni hay, được các nhà văn, nhà thơ tên tuổi khen ngợi đã tạo uy tín cho anh, dẹp tan dư luận từng nhận xét ấu trĩ về thơ Trúc Sơn. Những người vốn ghen ghét đố kỵ anh cũng đã nhận ra bản chất của Trúc Sơn mà hối hận, trở nên cảm tình, biết ơn những giúp đỡ vô tư của anh. Qua sóng gió càng thấy Trúc Sơn đa tài, đa tình, ứng xử giữa con người với con người rất nhân hậu. Những nét đẹp đó của Trúc Sơn ánh lên trong sự khám phá của Cẩm Châu.

Trong cuốn tiểu thuyết này còn có điểm sáng bởi yếu tố tâm linh. Hình ảnh Trúc Sơn hiện ra linh thiêng, qua chi tiết Cẩm Châu đang đọc lại những tác phẩm của thi sĩ thì bỗng  chìm vào giấc điệp, trong mơ cô gặp lại Trúc Sơn, hai người ôm nhau, nói những lời chan chứa yêu đương… Thi sĩ dặn, “Anh còn tập bản thảo có chừng mười bài thơ anh viết trong cuốn vở học trò, anh để quên trên nóc tủ sắt trên ở tầng 4 tòa soạn. Em nhắc anh Văn Thịnh lấy xuống. Kỷ niệm tặng em đó”. Cẩm Châu giật mình bừng tỉnh. Nhớ lại giấc mơ cô vội gặp Văn Thịnh kể lại câu chuyện. Mọi người lên tầng 4 tòa soạn, bắc ghế leo lên và đúng là có cuốn tập học trò bị phủ bụi, đúng chữ Trúc Sơn với mười bài thơ viết tặng Cẩm Châu. Trong truyện, thỉnh thoảng ta gặp những bài thơ, những câu thơ thi sĩ tặng Cẩm Châu nhờ giấc mơ mà cô tìm  được, những chi tiết đó càng làm cho tiểu thuyết trở nên huyền ảo, những câu thơ của Trúc Sơn bỗng linh thiêng ảo diệu.

Tuyến nhân vật tiêu cực, trong truyện có Bính Tuất, người luôn đố kỵ với Trúc Sơn, muốn thay thi sĩ vị trí biên tập thơ.  Bính Tuất được một số tờ báo đăng thơ vì cần yếu tố minh họa cho thời sự, tự ngộ nhận mình có tài. Nhân vật Văn Thịnh, trưởng cơ quan Tài Hoa Trẻ đã chỉ cho Bính Tuất  thấy thơ dở là như thế nào. Tránh viết những điều hiển nhiên như “ Con mèo con chó có lông”. Hình ảnh Bính Tuất làm thơ toàn nói những điều hiển nhiên giống như mảng đen để bên mảng trắng càng nổi bật lên bút pháp thơ Trúc Sơn với những tìm tòi mới mẻ. Theo nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm, trong thơ Trúc Sơn, cái phần “ khả tri” khá đậm nét, Trước hết là thơ ứng tác của anh. Biệt tài này cổ kim đông tây rất hiếm, mà phần lớn là giai thoại, trong khi Trúc Sơn là có thật. Nhiều khi anh làm thơ trong vô thức, những câu thơ tài hoa cứ hiện lên một cách tự nhiên. Phần “bất khả tri” này nếu phải phân tích cái hay cái đẹp rất khó, có khi cố tình mổ xẻ, phân tích lại làm câu thơ, bài thơ nông cạn, tầm thường đi. Đôi khi “bất khả tri” thì cứ để “ bất khả tri” mà thưởng thức cũng là cái thú! Những câu thơ, bài thơ như thế thường xuất hiện ở những giây phút thần khởi kỳ diệu của thi nhân một cách bí ẩn mà ta không lý giải được. Chính vì thế, trong tiểu thuyết này ta thấy Nguyễn Vũ Tiềm trích khá nhiều bài thơ của thi sĩ mà ít bình luận, ông dành phần “bất khả tri” cho độc giả đồng sáng tạo. Chi tiết nhà thơ Trúc Sơn bỏ cơ quan Tài Hoa Trẻ trốn đi biệt tăm vì không muốn phiền cho cơ quan, cho Văn Thịnh bằng những buổi buông câu trên sông Sài Gòn cũng là ẩn dụ nghệ thuật: Cái sân si ngoài đời ta đã cố tránh mà vẫn không thoát, nay ta đi buông câu, như buông bỏ cái ngã chấp để tiệm ngộ cõi trong xanh. Có thể nhà thơ tài hoa của chúng ta đã giật được bài thơ không chữ không lời từ dòng sông mà những người “trần mắt thịt” chưa thấy chăng? Qua đó càng dễ tạo nên thế giới “bất khả tri” trong thơ Trúc Sơn. Hàng ngày chúng ta gặp biết bao nhiêu người, nhưng nhà văn giữ lại trong lòng bạn đọc dù chỉ một nhân vật thôi đã khó lắm thay. Nhà văn dựng nên nhân vật, nhưng nếu viết tài, chính nhân vật lại làm nên tầm vóc nhà văn. Mừng thay qua tác phẩm này, Nguyễn Vũ Tiềm đã có có một Trúc Sơn vừa là bạn thật sự ngoài đời vừa là nhân vật văn học song hành cùng ông đi vào thế giới  nghệ thuật.

Cuốn tiểu thuyết, phần kết có hậu, nhân vật Cẩm Châu, sau mười ngày sống ngược dòng quá khứ của Trúc Sơn tại cơ quan Tài Hoa Trẻ đã khám phá ra những vẻ đẹp trong con người thi nhân, cô tự hào vì có một nhà thơ yêu cô, chọn cô làm đối tượng của thi ca để cảm hứng sáng tạo, giúp ích cho đời. Cô đã không nhầm khi chọn anh, yêu anh và được đền đáp bằng mối tình đẹp như thơ. Trước khi đi thăm mộ thi nhân cô đã vào chùa cầu nguyện, mặc áo nâu sồng, quyết ăn chạy niệm phật, tu tại gia để sớm tối tụng kinh gõ mõ nguyện cầu cho anh được an bình tịnh độ. Trong truyện ngắn hay tiểu thuyết, qua câu chuyện xảy ra, nhân vật thay đổi thái độ sống, dẫn đến hành động đột ngột trong lô gích chính là thành công của tác phẩm.

Nguyễn Vũ Tiềm là nhà thơ, văn xuôi giống như là tay trái, những vận động viên bóng bàn,  chơi tay trái đôi khi có những cú “giật” thần sầu làm đối phương choáng váng. Nguyễn Vũ Tiềm có cuốn tiểu thuyết lịch sử độc đáo “ Bắc phương hoàng hậu” viết về công chúa Ngọc Hân. Vẫn phát huy ưu thế rành chữ Hán, giỏi về thơ cổ, thơ mới khi bình luận dẫn dắt truyện. Cuốn tiểu thuyết “Người tài hoa dại khờ” viết về một nhà thơ, đúng là sở trường để tác giả tung hoành trên trang giấy, lôi cuốn người đọc vào thế giới nghệ thuật của mình và cả trong thế giới nghệ thuật của nhà thơ Trúc Sơn. Đó chính là nghệ thuật liên văn bản của văn học hậu hiện đại. Bởi thế cuốn tiểu thuyết bạn đang cầm trên tay quả là sách đáng đọc, không những có khả năng ôm trùm không khí thời đại, mà qua chuyện về nhà thơ còn giúp độc giả khám phá, rọi chiếu vào căn cốt của thơ.

Nguồn: Báo Văn nghệ số 9 (26/2/2022).

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm