TIN TỨC

Khám phá vẻ đẹp thi nhân

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-02-28 09:07:50
mail facebook google pos stwis
2812 lượt xem

NGUYỄN TRƯỜNG
(Đọc tiểu thuyết “Người tài hoa dại khờ” của Nguyễn Vũ Tiềm- NXB Hội Nhà văn 2022)

Nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm vừa ra đi ngày 14 tháng 1 năm 2022,  cuốn tiểu thuyết thứ 4 của ông ra đời được 5 ngày, đến nỗi ông không còn năng lượng để  ký tặng bạn bè đồng nghiệp, một sức viết phi thường của người đam mê văn học đến giây phút cuối cùng của cuộc đời. Vẫn chưa phải là cuốn tiểu thuyết cuối cùng của ông, vì cuốn tiểu thuyết “Bùi Giáng - thiên tài tự hủy” cũng sắp được xuất bản.

Khi nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm từ trần thì báo Văn nghệ đã in xong báo Tết gộm 3 số nên không kịp đăng bài về nhà thơ tài hoa. Bài viết này như một nén nhang tưởng nhớ nhà thơ, nhà văn, nhà lý luận phê bình văn học Nguyễn Vũ Tiềm.

Gần đây, nhà thơ có vẻ không còn được độc giả ái mộ như hồi thế kỷ trước, đâu rồi hình ảnh thi sỹ Hàn Mặc Tử đi vào âm nhạc; Thần đồng thơ Trần Đăng Khoa, ông Hoàng thơ tình Xuân Diệu…bình thơ, hội trường luôn chật người nghe; chương trình ngâm thơ trên Đài Tiếng nói Việt Nam cũng không còn cuốn hút thính giả. Đã có câu vè nghe thật đau lòng “Gặp nhau tay bắt mặt mừng/ tặng gì thì tặng xin đừng tặng thơ”. Ở Việt Nam, chưa có cuốn tiểu thuyết đúng nghĩa nào viết về nhà thơ đương đại. Thì đây, Nguyễn Vũ Tiềm đã viết hẳn một cuốn tiểu thuyết đầy đặn về nhà thơ Trúc Sơn (Nguyên mẫu là nhà thơ Thanh Tùng) -  thi sỹ mà bạn đọc đã quen tên bởi bài thơ “Thời hoa đỏ” được nhạc sỹ Nguyễn Đình Bảng phổ nhạc, đi vào lòng người từ mấy thập niên cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, góp phần lấy lại hình ảnh nhà thơ trong lòng bạn đọc. Đó là một Thanh Tùng thi sỹ, “Có trực giác vạm vỡ và tươi tốt” (Hữu Thỉnh), sống hết mình vì thơ, mọi thứ khác với ông chỉ là phương tiện để ông hành hương về ngôi đền thi ca vời vợi.

Nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm đã có thời gian dài sống và làm việc với thi sĩ Thanh Tùng, câu chuyện về nhà thơ đủ chất liệu viết nên cuốn hồi ức hấp dẫn, nhưng còn một số tình huống tế nhị cần thay đổi địa chỉ và tên người thật nên ông chọn cách viết tiểu thuyết. Tiểu thuyết cơ bản là hư cấu, vậy viết về một nhà  thơ có thật, được nhiều người biết và mến mộ liệu có khó khăn? Nguyễn Vũ Tiềm đã vượt qua được cái ngưỡng chật chội đó, viết về người thật, việc thật mà ngòi bút vẫn tung phá, văn chương vẫn bay bỗng, nhân vật hiện ra đầy tính cách, câu chuyện có lớp lang sinh động. Trước hết nhờ nguyên mẫu nhà thơ Thanh Tùng có biệt tài: giỏi võ nghệ, giỏi ứng tác thơ. Những chất liệu đó là “ Mảnh đất màu mỡ” trợ sức cho Nguyễn Vũ Tiềm trồng tỉa, công phu của người thâm canh đã được đền đáp: cây nghệ thuật đã mọc lên xanh tươi, xum xuê hoa trái.

Nổi bật ở cuốn tiểu thuyết này là nghệ thuật bố cục. Câu chuyện bắt đầu từ một Việt kiều  Pháp về tên là Cẩm Châu, cô là cháu gái công tử Bạc Liêu (Công tử con nhà điền chủ giàu có, nổi tiếng ăn chơi cách đây cả trăm năm). Một lần Trúc Sơn đi công tác ở Bạc Liêu, dự đám cưới và quen Cẩm Châu. Cái duyên tiền định đã đưa hai người gắn bó với nhau, yêu nhau bằng tiếng sét ái tình. Như Đôn Ki-hô-tê, chàng nhà thơ Trúc Sơn đã có một nàng “Đuyn-xi-nê-a” - Cẩm Châu làm thần tượng, mỗi bài thơ của chàng như là một “chiến công” dâng lên nàng. Họ nhớ nhung, chung thủy với nhau, là cảm hứng để nhà thơ dàn trải tâm trạng, cảm  xúc của mình trên trang giấy. Bây giờ nàng Cẩm Châu trở về thì nhà thơ của chúng ta đã rời cõi tạm. Cẩm Châu đến tạp chí Tài Hoa Trẻ, cơ quan mà Trúc Sơn công tác để nghe, để sống lại những năm tháng thi sĩ đã sống, đã yêu và đã viết như thế nào. Qua sự khám phá của Cẩm Châu, Nguyễn Vũ Tiềm  dựng lại quá khứ một thời sôi nỗi và không ít giông bão của nhà thơ Trúc Sơn. Đây là cách bố cục khá hiện đại, quá khứ, hiện tại cùng đồng hiện gây xúc động cho người đọc. Cẩm Châu cũng tham gia vào câu chuyện, vào cảm xúc của người kể. Nhất là chuyện có một cô gái hâm mộ Trúc Sơn, mời chàng về nhà để chăm sóc trong lúc lánh nạn bởi gã giang hồ truy lùng. Những đêm trong nhà nàng, được nàng gợi ý, thậm chí tỏ tình nhưng thi sĩ vẫn giữ lòng chung thủy làm Cẩm Châu rơi không ít nước mắt. Không ngờ nhà thơ cũng trải qua những đố kỵ nhỏ nhen của Bính Tuất, của một số người mang tư tưởng lạc hậu về chính trị và kém hiểu biết về văn học nghệ thuật. Còn cả chuyện ân oán giang hồ hồi nhà thơ đi làm áp tải ở Hải Phòng thời chiến tranh chống Mỹ cùng lúc ùa về làm thi sĩ khốn khổ.  Có lệnh miệng của cấp trên yêu cầu phải sa thải Trúc Sơn. Nhà thơ vốn tự trọng đành âm thầm rời cơ quan Tài Hoa Trẻ trước khi để lại lá thư từ biệt. Nhưng trưởng cơ quan, nhà thơ Văn Thịnh, rất mến mộ, yêu quý Trúc Sơn, từng cưu mang, giúp đỡ anh, đã cử người đi tìm thi sĩ. Nhà văn Nguyễn Khoa Đăng, vốn có kinh nghiệm thám tử đã tìm được Trúc Sơn khi anh đang ngồi câu cá bên sông Sài Gòn. Thi sĩ về đúng lúc cơ quan Tài Hoa Trẻ đang vào thời kỳ nước rút cuộc thi thơ tứ tuyệt và truyện ngắn mi ni. Những đóng góp của thi sĩ trong vị trí trưởng ban sơ khảo, tuyển chọn được nhiều bài thơ, truyện ngắn mi ni hay, được các nhà văn, nhà thơ tên tuổi khen ngợi đã tạo uy tín cho anh, dẹp tan dư luận từng nhận xét ấu trĩ về thơ Trúc Sơn. Những người vốn ghen ghét đố kỵ anh cũng đã nhận ra bản chất của Trúc Sơn mà hối hận, trở nên cảm tình, biết ơn những giúp đỡ vô tư của anh. Qua sóng gió càng thấy Trúc Sơn đa tài, đa tình, ứng xử giữa con người với con người rất nhân hậu. Những nét đẹp đó của Trúc Sơn ánh lên trong sự khám phá của Cẩm Châu.

Trong cuốn tiểu thuyết này còn có điểm sáng bởi yếu tố tâm linh. Hình ảnh Trúc Sơn hiện ra linh thiêng, qua chi tiết Cẩm Châu đang đọc lại những tác phẩm của thi sĩ thì bỗng  chìm vào giấc điệp, trong mơ cô gặp lại Trúc Sơn, hai người ôm nhau, nói những lời chan chứa yêu đương… Thi sĩ dặn, “Anh còn tập bản thảo có chừng mười bài thơ anh viết trong cuốn vở học trò, anh để quên trên nóc tủ sắt trên ở tầng 4 tòa soạn. Em nhắc anh Văn Thịnh lấy xuống. Kỷ niệm tặng em đó”. Cẩm Châu giật mình bừng tỉnh. Nhớ lại giấc mơ cô vội gặp Văn Thịnh kể lại câu chuyện. Mọi người lên tầng 4 tòa soạn, bắc ghế leo lên và đúng là có cuốn tập học trò bị phủ bụi, đúng chữ Trúc Sơn với mười bài thơ viết tặng Cẩm Châu. Trong truyện, thỉnh thoảng ta gặp những bài thơ, những câu thơ thi sĩ tặng Cẩm Châu nhờ giấc mơ mà cô tìm  được, những chi tiết đó càng làm cho tiểu thuyết trở nên huyền ảo, những câu thơ của Trúc Sơn bỗng linh thiêng ảo diệu.

Tuyến nhân vật tiêu cực, trong truyện có Bính Tuất, người luôn đố kỵ với Trúc Sơn, muốn thay thi sĩ vị trí biên tập thơ.  Bính Tuất được một số tờ báo đăng thơ vì cần yếu tố minh họa cho thời sự, tự ngộ nhận mình có tài. Nhân vật Văn Thịnh, trưởng cơ quan Tài Hoa Trẻ đã chỉ cho Bính Tuất  thấy thơ dở là như thế nào. Tránh viết những điều hiển nhiên như “ Con mèo con chó có lông”. Hình ảnh Bính Tuất làm thơ toàn nói những điều hiển nhiên giống như mảng đen để bên mảng trắng càng nổi bật lên bút pháp thơ Trúc Sơn với những tìm tòi mới mẻ. Theo nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm, trong thơ Trúc Sơn, cái phần “ khả tri” khá đậm nét, Trước hết là thơ ứng tác của anh. Biệt tài này cổ kim đông tây rất hiếm, mà phần lớn là giai thoại, trong khi Trúc Sơn là có thật. Nhiều khi anh làm thơ trong vô thức, những câu thơ tài hoa cứ hiện lên một cách tự nhiên. Phần “bất khả tri” này nếu phải phân tích cái hay cái đẹp rất khó, có khi cố tình mổ xẻ, phân tích lại làm câu thơ, bài thơ nông cạn, tầm thường đi. Đôi khi “bất khả tri” thì cứ để “ bất khả tri” mà thưởng thức cũng là cái thú! Những câu thơ, bài thơ như thế thường xuất hiện ở những giây phút thần khởi kỳ diệu của thi nhân một cách bí ẩn mà ta không lý giải được. Chính vì thế, trong tiểu thuyết này ta thấy Nguyễn Vũ Tiềm trích khá nhiều bài thơ của thi sĩ mà ít bình luận, ông dành phần “bất khả tri” cho độc giả đồng sáng tạo. Chi tiết nhà thơ Trúc Sơn bỏ cơ quan Tài Hoa Trẻ trốn đi biệt tăm vì không muốn phiền cho cơ quan, cho Văn Thịnh bằng những buổi buông câu trên sông Sài Gòn cũng là ẩn dụ nghệ thuật: Cái sân si ngoài đời ta đã cố tránh mà vẫn không thoát, nay ta đi buông câu, như buông bỏ cái ngã chấp để tiệm ngộ cõi trong xanh. Có thể nhà thơ tài hoa của chúng ta đã giật được bài thơ không chữ không lời từ dòng sông mà những người “trần mắt thịt” chưa thấy chăng? Qua đó càng dễ tạo nên thế giới “bất khả tri” trong thơ Trúc Sơn. Hàng ngày chúng ta gặp biết bao nhiêu người, nhưng nhà văn giữ lại trong lòng bạn đọc dù chỉ một nhân vật thôi đã khó lắm thay. Nhà văn dựng nên nhân vật, nhưng nếu viết tài, chính nhân vật lại làm nên tầm vóc nhà văn. Mừng thay qua tác phẩm này, Nguyễn Vũ Tiềm đã có có một Trúc Sơn vừa là bạn thật sự ngoài đời vừa là nhân vật văn học song hành cùng ông đi vào thế giới  nghệ thuật.

Cuốn tiểu thuyết, phần kết có hậu, nhân vật Cẩm Châu, sau mười ngày sống ngược dòng quá khứ của Trúc Sơn tại cơ quan Tài Hoa Trẻ đã khám phá ra những vẻ đẹp trong con người thi nhân, cô tự hào vì có một nhà thơ yêu cô, chọn cô làm đối tượng của thi ca để cảm hứng sáng tạo, giúp ích cho đời. Cô đã không nhầm khi chọn anh, yêu anh và được đền đáp bằng mối tình đẹp như thơ. Trước khi đi thăm mộ thi nhân cô đã vào chùa cầu nguyện, mặc áo nâu sồng, quyết ăn chạy niệm phật, tu tại gia để sớm tối tụng kinh gõ mõ nguyện cầu cho anh được an bình tịnh độ. Trong truyện ngắn hay tiểu thuyết, qua câu chuyện xảy ra, nhân vật thay đổi thái độ sống, dẫn đến hành động đột ngột trong lô gích chính là thành công của tác phẩm.

Nguyễn Vũ Tiềm là nhà thơ, văn xuôi giống như là tay trái, những vận động viên bóng bàn,  chơi tay trái đôi khi có những cú “giật” thần sầu làm đối phương choáng váng. Nguyễn Vũ Tiềm có cuốn tiểu thuyết lịch sử độc đáo “ Bắc phương hoàng hậu” viết về công chúa Ngọc Hân. Vẫn phát huy ưu thế rành chữ Hán, giỏi về thơ cổ, thơ mới khi bình luận dẫn dắt truyện. Cuốn tiểu thuyết “Người tài hoa dại khờ” viết về một nhà thơ, đúng là sở trường để tác giả tung hoành trên trang giấy, lôi cuốn người đọc vào thế giới nghệ thuật của mình và cả trong thế giới nghệ thuật của nhà thơ Trúc Sơn. Đó chính là nghệ thuật liên văn bản của văn học hậu hiện đại. Bởi thế cuốn tiểu thuyết bạn đang cầm trên tay quả là sách đáng đọc, không những có khả năng ôm trùm không khí thời đại, mà qua chuyện về nhà thơ còn giúp độc giả khám phá, rọi chiếu vào căn cốt của thơ.

Nguồn: Báo Văn nghệ số 9 (26/2/2022).

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm