TIN TỨC

Kim Quyên – Khát vọng sáng tạo và trái tim yêu thương

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2021-11-05 23:01:31
mail facebook google pos stwis
3500 lượt xem

Nhà văn Trầm Hương

(Vanchuongthanhphohochimin.vn) – Trước mặt tôi có hơn 10 quyển sách của nhà văn Kim Quyên (còn nhiều quyển đã xuất bản nhưng chị chọn đưa số sách này). Đó là Người dưng khác xứ (Tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Văn nghệ TP.HCM 2003), Ngã ba sông (Thơ, Nhà xuất bản Văn nghệ 2005); Sài Gòn hào hoa (Tản văn, Nhà xuất bản Trè 2011); Ước mơ xanh (Tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Văn hoá Văn nghệ 2018);  Quê ngoại (Tập truyện ký, Nhà xuất bản Hội Nhà văn 2013);  Đi biển một mình (tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Văn hoá – Văn nghệ 2015); Tình không biên giới (Tiểu thuyết, Nhà xuất bản Hội nhà văn 2017); Thành phố bên sông (Tiểu thuyết, Nhà xuất bản Văn hoá – Văn nghệ 2019); Mối tình đầu (Nhà xuất bản Công an nhân dân 2020); Bên dòng sông Bát Sắc  (Hồi ký, Nhà xuất bản Đà Nẵng 2021). Tác phẩm càng về sau càng dày dặn hơn tác phẩm trước. Tất cả đã lên tiếng một cách thuyết phục về sức viết, sự đam mê sáng tạo, sự nỗ lực  vượt qua sự trì níu với mưu sinh, cơm áo gạo tiền đời thường để được là mình, thăng hoa cùng con chữ.

Nhà văn Kim Quyên (áo xanh) cùng nhà văn Trầm Hương (áo tím) chụp ảnh lưu niệm cùng Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trong đại hội Nhà văn 2010. Mới 5 năm thôi mà, bao thay đổi…

 

Một phần sách chị viết trên nền quá khứ, như gốc tre bám rễ vào sông nước Cứu Long. Cô nữ sinh quê hương Mỹ Tho, thời chiến tranh đánh Mỹ đã từng vào vùng kháng chiến mở mang trường lớp và dạy học, tham gia phong trào Học sinh sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh, từng viết văn làm thơ đăng trên báo phản chiến Điện Tín, Tin Sáng từ những năm 1973 với bút danh Hoa Đồng Tháp. Sau ngày đất nước thanh bình, chị lấy chồng sinh con trong những ngày hậu chiến khó khăn, rồi hôn nhân đổ vỡ, một mình nuôi con… Cuộc đời chị ba chìm bảy nổi, vui ít buồn nhiều. May mà chị còn biết cách trút tâm sự cuộc đời mình qua những trang văn. Đọc quyển truyện ký “Quê ngoại”, tôi hiểu nhiều thêm về nhà văn Kim Quyên – một nhà văn có kiến thức về văn học, về ngoại ngữ, có vốn sống Nam bộ,  nghĩa khí, thủy chung… Nếm trải không ít đắng cay bất hạnh nhưng chị luôn nhận phần thiệt về mình. Đọc “Đi biển một mình”, tôi hiểu vì sao chị buồn và khao khát hạnh phúc đến như vậy.

Vài trang ngắn ngủi, tôi không thể khái quát hết tác phẩm của chị. Chị viết rất đa dạng: Tản văn, thơ, ký, truyện ngắn, tiều thuyết… Và sau này với tình yêu mãnh liệt âm nhạc dân tộc, chị mày mò học cải lương, học hát và sáng tác cổ nhạc. Rồi chị viết cả kịch bản sân khấu, kịch bản phim truyền hình, điện ảnh… Tôi có cảm giác chị là bông hoa muốn nở hết mình trong gió nắng, muốn thử sức với hết thảy các thể loại. Cũng sẽ có người không mặn mà việc ấy của một nhà văn nhưng tôi nghĩ tại sao con người ta cứ tự giới hạn mình. Cứ làm, cứ đi rồi sẽ đến một cái đích nào đó. Tôi nhận ra, cuối cùng văn chương vẫn là con đường thích hợp với chị nhất.

Một số tác phẩm của nhà văn Kim Quyên.

Tôi đặc biệt thích tập truyện ngắn “Đi biển một mình” của chị, có lẽ cùng là thân phận phụ nữ, nên thật dễ đồng cảm với nỗi niềm những người đàn bà trong truyện. Với 15 truyện ngắn nhỏ, xinh xinh cũng vừa đủ chuyển tải vẻ đẹp nữ tính, thân phận người phụ nữ, nỗi cô đơn dài dằng dặc của đời người, chất ngọc kết tinh từ lòng nhân hậu lắng đọng sau những đổ vỡ, bất hạnh. Hiểu cuộc đời chị Kim Quyên nên tôi biết những gì chị viết ra không thể khác được. Văn chị đôn hậu, chân chất, mộc mạc và giản dị như chính trải nghiệm cuộc đời mà  chị đã sống, đã thở. Có người nói chị Kim Quyên viết thật thà quá, hiền quá, tự nhiên quá. Tôi cho đó là một lợi thế của chị. Bởi hiền, thật thà mà văn tự nhiên đi vào trái tim con người, không qua cái ma mị, lắt léo, đánh đố của chữ nghĩa. Gu văn chương cũng như kiến trúc, mỹ thuật, tùy theo cảm nhận của mỗi người. Có người thích kiến trúc cổ điển, nhiều họa tiết, rườm rà, nhiều đường cong lượn, có người thích tối giản. Người thích những chiếc bình pha lê lấp lánh, men sứ bóng loáng, người thích đất nung thô mộc. Văn chương của chị Kim Quyên gợi tôi nhớ đến vẻ đẹp của chiếc bình đất nung cắm lô xô những bông hoa sọ nhái rực nắng gió phương Nam. Đọc nhà văn Kim Quyên, tôi càng thận trọng để nhận xét nhà văn này viết có văn hay không văn. Văn là gì? Đọc một tác phẩm của ai đó mà ta rung cảm, thấy thương yêu con người hơn, hướng thiện hơn, muốn được sống tốt hơn. Vậy đó có phải là văn không?. Đọc những trang viết cho ta sự hoang mang, sỗ sàng chữ nghĩa, lắt léo, đánh đố, không đầu không đũa, bí hiểm không biết tác giả nói gì thì đó là văn và cách tân hay sao?! Thiết nghỉ, người viết văn đạt đến độ trong sáng, giản dị, làm đẹp giàu thêm chữ nghĩa không phải là chuyện dễ. Đọc nhà  văn Kim Quyên, gấp sách lại, nước mắt tôi chảy ra vì thấy mình trong đó, đồng cảm với thân phận phụ nữ, những người đi biển một mình, người đi tìm hạnh phúc trong vô vọng, những người phụ nữ tận hiến thời thanh xuân để trở thành người thừa tuổi xế chiều, người con gái ở ngã ba sông không biết đâu là cái bến dành cho mình và những bông hoa cuối mùa tàn úa mà lòng vẫn đau đáu được yêu thương…

Đây là tấm lòng một người mẹ, người bà quyện trong tấm lòng một nhà văn dành cho đứa cháu vào lớp một, không thèm ngoáy lại nhìn bà:

“… Thôi, Vậy cũng tốt. Nó không bịn rịn người nhà như những đứa trẻ khác. Nó đã lớn rồi.

Nó lớn rồi nhưng những khi được ngủ trưa ở nhà, tôi vẫn hát ru, tôi muốn truyền vào tâm hồn nó một chút tình yêu gia đình, tình xóm làng, quê hương dù tiếng ru của tôi lạc lỏng trong buổi trưa oi nồng giữa chốn phồn hoa náo nhiệt…”

Làm sao chị em phụ nữ chúng tôi không mủi lòng trước thân phận một người vợ. Lúc mang thai, lẽ thường, phụ nữ cần chồng hay người thương yêu bên mình nhất, thì có biết bao người phụ nữ như Lụa, với một người chồng vô tâm, thất chí, lao vào rượu để quên đời:

“Lụa khuyên giải thế nào cũng không nghe, có hôm anh đi  về khuya, té nằm lăn trước cổng nhà, người một nơi, xe một nơi, không còn biết đất trời gì nữa. Lụa không dám nhờ tới lối xóm sợ họ biết chuyện, đành một mình với cái bụng bầu è ểnh dìu anh vào nhà…

Gần sanh, cô thèm chè mà không có tiền mua, vét một chút đường chảy còn sót dưới đáy keo, nhổ cây mì sau nhà, mài củ vắt lấy bột nấu chén chè ăn cho qua cơn thèm. Từ lúc lấy Thanh, Lụa chưa bao giờ thấy tiền lương của anh, lương lãnh về, anh bỏ trong rương khóa lại, hỏi tới thì anh bảo có bao nhiêu mà hạch sách. Từ đó, Lụa không bao giờ đề cập đến chuyện tiền bạc, hai mẹ con no đói gì mình cô biết…”.

Hiểu phần nào cuộc đời của chị, đồng cảm với cảnh bà mẹ đơn thân nuôi con, tôi thầm hỏi “Lụa là Kim Quyên hay Kim Quyên là Lụa?!”. Có lẽ cả hai, bởi không có những trải nghiệm đắng cay, nước mắt của người đàn bà đi biển một mình, làm sao chị có thể thấu hiểu được nỗi khổ của Lụa – nhân vật trong truyện “Bông lục bình” chìm nổi của chị. Nhưng rồi tình thương, trách nhiệm với những người thân yêu, chị vẫn phải neo cuộc đời mình trong cái bến đục với những ràng buộc đời thường. Rốt cuộc, chị vẫn là người đàn bà cô đơn, khao khát được yêu thương, khao khát hạnh phúc cháy lòng.

Nhà văn Kim Quyên cho phép mình được viễn du, mơ mộng với một người đàn ông với tên gọi Philippe Mitou:

“Anh là một Parisiens chính hiệu, một nhà nghiên cứu lịch sử”. Mối tình họ diễn ra trong cuộc chiến tranh khắc nghiệt. Anh gọi chị là Rose – một đóa hồng ngỡ như không thể thiếu vắng trong cuộc đời. Philippe yêu Rose, quyết tìm về quê hương của Rose cho bằng được, dù phải đối diện với khẩu AK của người du kích vùng giải phóng. Rồi anh tham gia kháng chiến, ra tận miền Bắc để tìm gặp chị nhưng chiến tranh khắc nghiệt, chị nào dám chấp nhận tình yêu của Philippe. Dù yêu cô, anh phải bị quân Giải phóng quản thúc rất lâu, bị đưa ra tòa án quân sự nước Pháp “vì tội theo Cộng sản”.  Philippe về nước, lấy vợ. Chị lấy chồng, đối mặt với những ngày hậu chiến khó khăn. Dòng đời ngỡ như đã đẩy họ về hai đối cực của hai đất nước xa xôi. Mối tình người đàn ông ngoại quốc trở thành một bí mật chị chôn giấu trong tim. Nào ngờ Philippe vẫn không quên mối tình xưa, tìm mọi cách trở về Việt Nam, quyết đi tìm lại chị. Họ gặp nhau, nước  mắt tuôn trào vì hạnh phúc. Anh chân thành kể “Anh cưới cô bạn học, có đứa con gái ba tuổi rồi ly hôn”. Chồng chị hy sinh vì chứng sốt rét ác tính khi cùng chị vượt Trường Sơn. Họ đến với nhau, như hai giọt nước lăn về một chiều của số phận, hòa lẫn vào nhau, không gì có thể cản ngăn, ràng buộc. Hai người cùng cảm nhận hạnh phúc muộn màng bên nhau:

“Người đàn ông mỉm cười, ánh mắt mơ màng, đầu tựa lên đôi vai bé nhỏ, lắng nghe tiếng chim hót đêm đâu đó trên tàng cây, tiếng thầm thì mơ hồ của khu vườn khuya, tiếng người phụ nữ khẽ khàng bên tai mà tưởng như mình đang lạc vào thế giới thần tiên nào…”. Một kết thúc có hậu. Một mối tình đẹp, khiến bao người ao ước. Đọc xong truyện, tôi gấp sách lại, gọi điện cho chị ngay, chân thành chúc mừng. Đầu giây bên kia, giọng chị ỉu xìu: “Ôi Trời, chị hư cấu đó mà. Chị có nghe bạn bè kể lại chuyện một anh giáo sư người Pháp đem lòng yêu cô nữ sinh Cộng sản. Thấy hay chị viết vậy thôi chớ có tình yêu tình iếc gì đâu…”.

Nào ngờ tôi tin thật, cứ ngỡ chị mình đã tìm được tình yêu đích thực, để nói lời chúc mừng chị. Lời chị nói khiến tôi ngỡ ngàng, xúc động, tự nhủ: “Vậy mà chị ấy viết như thật”. Có một sự thật mà tôi được biết dù  chấp nhận ly dị chồng, hôn nhân đổ vỡ, gần như một mình vừa đi dạy học, viết văn, nuôi dê…Làm nhiều nghề để nuôi con nhưng trái tim Kim Quyên vẫn dạt dào xúc cảm, khát khao hạnh phúc. Chị viết như thật về niềm hạnh phúc muộn màng, dù hạnh phúc  với chị là điều không có thật. Người đàn bà của chị trong “Cố nhân” bộc bạch:

“Mà sao, ngoài miệng nói vậy chớ nhiều lúc trong bụng chị vẫn thường tơ tưởng đến một người đàn ông. Người đàn ông đó phải tinh tế dịu dàng, phải mạnh dạn xốc vác, sức khỏe tương đối tốt để tựa nương lúc tuổi xế chiều. Nhiều lúc chị tự cười thầm, tuổi này mà còn mơ mộng chuyện viễn vông…”.

Chị đã nói thay khát vọng thầm kín của bao phụ nữ tuổi xế chiều, cứ mong được gặp cố nhân, gặp được người yêu thương mình chân thật. Dù gặp hay không, tôi vẫn cầu mong chị hạnh phúc vì chị xứng đáng được hưởng những điều tốt đẹp.

Năm 2017, bạn văn mừng cho chị vì tiểu thuyết “Tình không biên giới” – viết về mối tình trong sáng mà đậm sâu giữa cô giáo Việt Nam và chàng chiến sĩ Campuchia Sơn Bách trong giai đoạn ngắn ngủi 1968 -1969 với giằng xé, trái ngang được trao giải thưởng Mekong lần thứ 8. Thành công quyển tiếu thuyết chính ở tình người. Đọng lại sau những trang văn cũng chính ở cái tình của tác giả. Những kỷ niệm chan chứa yêu thương trong những ngày chị sống nơi biên giới ác liệt đã được ghi lại bằng con chữ, chọn tiểu thuyết làm phương cách thể hiện, như một nén tâm hương gởi những người đã mất, đã hy sinh trên hai miền đất xa xôi, đẩm máu một thời. Tình không biên giới cũng đã được trao giài thưởng Tôn vinh tác giả viết về biên giới, hải đảo từ năm 1975 đến 2020 của Hộị Nhà văn Việt Nam năm 2020.

Rồi tiếp theo tiểu thuyết “Thành phố bên sông” của chị được trao giải thưởng Học tập và làm theo tư tưởng, đạo dức, phong cách Hồ Chí Minh năm 2020, nội dung quyển tiểu thuyết viết về ký ức của một cô gái miền Tây sông nước gắn liền với những thăng trầm Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh suốt thời thiếu nữ cho đến mấy mươi năm là cư dân của một thành phố nghĩa tình. Làm sao nữ nhà văn không trân quý miền ký ức của một cô bé từ miệt Cai Lậy lần đầu lên thành phố, được ngồi xe xích lô đạp đi qua những con đường với biết bao cảm xúc, từ  thích thú, kinh ngạc, ngỡ ngàng, ngưỡng mộ đến bất an với những toà nhà cao tầng, hàm răng trắng nhỡn của anh chàng Hynos trong tấm biển quãng cáo, để rồi mấy năm sau, khi trở thành thiếu nữ, cô bé miệt vườn Cai Lậy ấy hoà mình vào phong trào học sinh sinh viên, cùng Sài gòn xuống đường đòi hoà bình, cùng gánh chịu những tang thương, mất mát cho những cuộc đấu tranh. Bản thân Kim Quyên đã góp tác phẩm của mình về thành phố thân thương này một màu sắc không trộn lẫn với bất kỳ thành phố nào, bởi mỗi cư dân từ những miền đất xa xôi đến với thành phố này mang theo tinh hoa, nhân nghĩa làm nên một Sài Gòn nhiều sắc thái.  Giá trị quyển tiểu thuyết kỳ lạ thay chính là sự chân thật, như lời bộc bạch của tác giả: “Tiểu thuyết là hư cấu, nhưng ở đây, dường như có đến 90% là sự thật”. Sự thật được nhà văn tái hiện để thế hệ trẻ sau này khi đọc Thành phố bên sông sẽ hiểu thêm vì sao tất cả mọi người đều tham gia để bảo vệ mảnh đất mình đang sống trước kẻ thù xâm lược. Chính vì yêu thành phố này một cách máu thịt mà suốt trong 4 tháng Sài Gòn bị phong toả vì Covid, chị gởi nhiều nỗi niềm, trăn trở trên facebook về một thành phố tang thương trong dịch bệnh. Chị đã sống ở thành phố này trong những ngày khó khăn nhất nhưng chưa bao giờ trải qua cơn dư chấn khốc liệt này. Chị gọi điện cho bạn văn, cho người quen, không khỏi lo lắng, bất an… rồi động viên mọi người nắm tay nhau đi qua khúc quanh khốc liệt này. Tôi nhìn thấy sức mạnh của chị trong một tâm hồn đa cảm. Vâng, đúng như những tự bạch của chị về nghề:

“Nghề văn là nghề cao quí nhất trong các nghề. Nghề yêu cầu người cầm viết phải có kiến thức uyên bác, có đức, có tài, có lòng dũng cảm và phong cách của một nhà văn chân chính, nhà văn là thơ ký trung thực của xã hội… Tôi mong sao những chữ, những câu văn của tôi góp được một chút gì tốt đẹp cho quê hương tôi”.

Vì là “ Thơ ký trung thực của xã hội” mà Kim Quyên trung thành với cả “Mối tình đầu” của mình, với những cảm xúc rất con người, không giấu diếm cả những hồn nhiên, dại khờ, ấu trĩ của mình. Mối tình đầu với những rung động đầu đời, đẹp như mơ mà xiết bao đau đớn vì chiến tranh huỷ hoại. Khi đất nước bị chiến tranh tàn phá, những mối tình cũng vì nước non mà lận đận… Tôi thổn thức với “Mối tình đầu” của chị trước số phận những người con gái, con trai trong sáng, khoẻ đẹp, đầy hoài bão, ước mơ bị ném vào lò lửa cuộc chiến tranh. Người hy sinh, người thương tật, người bị biến thái tâm hồn… Nhưng lòng nhân hậu đã dẫn ngòi bút chị đi, để vẫn còn lại một mối tình đẹp trong ký ức một cô gái thánh thiện, trong trắng…

Vì là “Thơ ký trung thực của xã hội” nên lằn ranh giữa hiện thực và hư cấu trong những tác phẩm của Kim Quyên gần như trộn lẫn. Tôi nhìn thấy mọi hư cấu trong các nhân vật tiểu thuyết, truyện, tản văn từ chính cuộc đời chị đã trải nghiệm. Tôi xin mượn lời cố nhà văn Nguyễn Quang Sáng – người đã phát hiện ra một Kim Quyên hồn hậu, toả sáng qua những trang văn kết tinh từ tinh chất những hạt phù sa đồng bằng, khi viết lời đề tựa cho tập truyện ngắn “Người dưng khác xứ”, đã viết những cảm nhận về chị.

“Ở mỗi truyện ngắn của nhà văn Kim Quyên đều có những tình tiết để lại dấu ấn trong lòng người đọc. Từ những chi tiết tưởng như vô tình, tác giả viết nên những câu chuyện khiến cho người đọc khó quên. Đọc truyện của tác giả là đọc tấm chân tình của người dân Nam bộ. Văn của Kim Quyên là một dòng trôi cảm xúc, như dòng nước Cửu Long xuôi giữa đôi bờ.”

Tôi mong những bạn văn, độc giả đọc Kim Quyên cũng bằng cái tình của một ly nước chưa đầy để cảm nhận…

T.H

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm