TIN TỨC

Kim Quyên – Khát vọng sáng tạo và trái tim yêu thương

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2021-11-05 23:01:31
mail facebook google pos stwis
3800 lượt xem

Nhà văn Trầm Hương

(Vanchuongthanhphohochimin.vn) – Trước mặt tôi có hơn 10 quyển sách của nhà văn Kim Quyên (còn nhiều quyển đã xuất bản nhưng chị chọn đưa số sách này). Đó là Người dưng khác xứ (Tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Văn nghệ TP.HCM 2003), Ngã ba sông (Thơ, Nhà xuất bản Văn nghệ 2005); Sài Gòn hào hoa (Tản văn, Nhà xuất bản Trè 2011); Ước mơ xanh (Tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Văn hoá Văn nghệ 2018);  Quê ngoại (Tập truyện ký, Nhà xuất bản Hội Nhà văn 2013);  Đi biển một mình (tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Văn hoá – Văn nghệ 2015); Tình không biên giới (Tiểu thuyết, Nhà xuất bản Hội nhà văn 2017); Thành phố bên sông (Tiểu thuyết, Nhà xuất bản Văn hoá – Văn nghệ 2019); Mối tình đầu (Nhà xuất bản Công an nhân dân 2020); Bên dòng sông Bát Sắc  (Hồi ký, Nhà xuất bản Đà Nẵng 2021). Tác phẩm càng về sau càng dày dặn hơn tác phẩm trước. Tất cả đã lên tiếng một cách thuyết phục về sức viết, sự đam mê sáng tạo, sự nỗ lực  vượt qua sự trì níu với mưu sinh, cơm áo gạo tiền đời thường để được là mình, thăng hoa cùng con chữ.

Nhà văn Kim Quyên (áo xanh) cùng nhà văn Trầm Hương (áo tím) chụp ảnh lưu niệm cùng Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trong đại hội Nhà văn 2010. Mới 5 năm thôi mà, bao thay đổi…

 

Một phần sách chị viết trên nền quá khứ, như gốc tre bám rễ vào sông nước Cứu Long. Cô nữ sinh quê hương Mỹ Tho, thời chiến tranh đánh Mỹ đã từng vào vùng kháng chiến mở mang trường lớp và dạy học, tham gia phong trào Học sinh sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh, từng viết văn làm thơ đăng trên báo phản chiến Điện Tín, Tin Sáng từ những năm 1973 với bút danh Hoa Đồng Tháp. Sau ngày đất nước thanh bình, chị lấy chồng sinh con trong những ngày hậu chiến khó khăn, rồi hôn nhân đổ vỡ, một mình nuôi con… Cuộc đời chị ba chìm bảy nổi, vui ít buồn nhiều. May mà chị còn biết cách trút tâm sự cuộc đời mình qua những trang văn. Đọc quyển truyện ký “Quê ngoại”, tôi hiểu nhiều thêm về nhà văn Kim Quyên – một nhà văn có kiến thức về văn học, về ngoại ngữ, có vốn sống Nam bộ,  nghĩa khí, thủy chung… Nếm trải không ít đắng cay bất hạnh nhưng chị luôn nhận phần thiệt về mình. Đọc “Đi biển một mình”, tôi hiểu vì sao chị buồn và khao khát hạnh phúc đến như vậy.

Vài trang ngắn ngủi, tôi không thể khái quát hết tác phẩm của chị. Chị viết rất đa dạng: Tản văn, thơ, ký, truyện ngắn, tiều thuyết… Và sau này với tình yêu mãnh liệt âm nhạc dân tộc, chị mày mò học cải lương, học hát và sáng tác cổ nhạc. Rồi chị viết cả kịch bản sân khấu, kịch bản phim truyền hình, điện ảnh… Tôi có cảm giác chị là bông hoa muốn nở hết mình trong gió nắng, muốn thử sức với hết thảy các thể loại. Cũng sẽ có người không mặn mà việc ấy của một nhà văn nhưng tôi nghĩ tại sao con người ta cứ tự giới hạn mình. Cứ làm, cứ đi rồi sẽ đến một cái đích nào đó. Tôi nhận ra, cuối cùng văn chương vẫn là con đường thích hợp với chị nhất.

Một số tác phẩm của nhà văn Kim Quyên.

Tôi đặc biệt thích tập truyện ngắn “Đi biển một mình” của chị, có lẽ cùng là thân phận phụ nữ, nên thật dễ đồng cảm với nỗi niềm những người đàn bà trong truyện. Với 15 truyện ngắn nhỏ, xinh xinh cũng vừa đủ chuyển tải vẻ đẹp nữ tính, thân phận người phụ nữ, nỗi cô đơn dài dằng dặc của đời người, chất ngọc kết tinh từ lòng nhân hậu lắng đọng sau những đổ vỡ, bất hạnh. Hiểu cuộc đời chị Kim Quyên nên tôi biết những gì chị viết ra không thể khác được. Văn chị đôn hậu, chân chất, mộc mạc và giản dị như chính trải nghiệm cuộc đời mà  chị đã sống, đã thở. Có người nói chị Kim Quyên viết thật thà quá, hiền quá, tự nhiên quá. Tôi cho đó là một lợi thế của chị. Bởi hiền, thật thà mà văn tự nhiên đi vào trái tim con người, không qua cái ma mị, lắt léo, đánh đố của chữ nghĩa. Gu văn chương cũng như kiến trúc, mỹ thuật, tùy theo cảm nhận của mỗi người. Có người thích kiến trúc cổ điển, nhiều họa tiết, rườm rà, nhiều đường cong lượn, có người thích tối giản. Người thích những chiếc bình pha lê lấp lánh, men sứ bóng loáng, người thích đất nung thô mộc. Văn chương của chị Kim Quyên gợi tôi nhớ đến vẻ đẹp của chiếc bình đất nung cắm lô xô những bông hoa sọ nhái rực nắng gió phương Nam. Đọc nhà văn Kim Quyên, tôi càng thận trọng để nhận xét nhà văn này viết có văn hay không văn. Văn là gì? Đọc một tác phẩm của ai đó mà ta rung cảm, thấy thương yêu con người hơn, hướng thiện hơn, muốn được sống tốt hơn. Vậy đó có phải là văn không?. Đọc những trang viết cho ta sự hoang mang, sỗ sàng chữ nghĩa, lắt léo, đánh đố, không đầu không đũa, bí hiểm không biết tác giả nói gì thì đó là văn và cách tân hay sao?! Thiết nghỉ, người viết văn đạt đến độ trong sáng, giản dị, làm đẹp giàu thêm chữ nghĩa không phải là chuyện dễ. Đọc nhà  văn Kim Quyên, gấp sách lại, nước mắt tôi chảy ra vì thấy mình trong đó, đồng cảm với thân phận phụ nữ, những người đi biển một mình, người đi tìm hạnh phúc trong vô vọng, những người phụ nữ tận hiến thời thanh xuân để trở thành người thừa tuổi xế chiều, người con gái ở ngã ba sông không biết đâu là cái bến dành cho mình và những bông hoa cuối mùa tàn úa mà lòng vẫn đau đáu được yêu thương…

Đây là tấm lòng một người mẹ, người bà quyện trong tấm lòng một nhà văn dành cho đứa cháu vào lớp một, không thèm ngoáy lại nhìn bà:

“… Thôi, Vậy cũng tốt. Nó không bịn rịn người nhà như những đứa trẻ khác. Nó đã lớn rồi.

Nó lớn rồi nhưng những khi được ngủ trưa ở nhà, tôi vẫn hát ru, tôi muốn truyền vào tâm hồn nó một chút tình yêu gia đình, tình xóm làng, quê hương dù tiếng ru của tôi lạc lỏng trong buổi trưa oi nồng giữa chốn phồn hoa náo nhiệt…”

Làm sao chị em phụ nữ chúng tôi không mủi lòng trước thân phận một người vợ. Lúc mang thai, lẽ thường, phụ nữ cần chồng hay người thương yêu bên mình nhất, thì có biết bao người phụ nữ như Lụa, với một người chồng vô tâm, thất chí, lao vào rượu để quên đời:

“Lụa khuyên giải thế nào cũng không nghe, có hôm anh đi  về khuya, té nằm lăn trước cổng nhà, người một nơi, xe một nơi, không còn biết đất trời gì nữa. Lụa không dám nhờ tới lối xóm sợ họ biết chuyện, đành một mình với cái bụng bầu è ểnh dìu anh vào nhà…

Gần sanh, cô thèm chè mà không có tiền mua, vét một chút đường chảy còn sót dưới đáy keo, nhổ cây mì sau nhà, mài củ vắt lấy bột nấu chén chè ăn cho qua cơn thèm. Từ lúc lấy Thanh, Lụa chưa bao giờ thấy tiền lương của anh, lương lãnh về, anh bỏ trong rương khóa lại, hỏi tới thì anh bảo có bao nhiêu mà hạch sách. Từ đó, Lụa không bao giờ đề cập đến chuyện tiền bạc, hai mẹ con no đói gì mình cô biết…”.

Hiểu phần nào cuộc đời của chị, đồng cảm với cảnh bà mẹ đơn thân nuôi con, tôi thầm hỏi “Lụa là Kim Quyên hay Kim Quyên là Lụa?!”. Có lẽ cả hai, bởi không có những trải nghiệm đắng cay, nước mắt của người đàn bà đi biển một mình, làm sao chị có thể thấu hiểu được nỗi khổ của Lụa – nhân vật trong truyện “Bông lục bình” chìm nổi của chị. Nhưng rồi tình thương, trách nhiệm với những người thân yêu, chị vẫn phải neo cuộc đời mình trong cái bến đục với những ràng buộc đời thường. Rốt cuộc, chị vẫn là người đàn bà cô đơn, khao khát được yêu thương, khao khát hạnh phúc cháy lòng.

Nhà văn Kim Quyên cho phép mình được viễn du, mơ mộng với một người đàn ông với tên gọi Philippe Mitou:

“Anh là một Parisiens chính hiệu, một nhà nghiên cứu lịch sử”. Mối tình họ diễn ra trong cuộc chiến tranh khắc nghiệt. Anh gọi chị là Rose – một đóa hồng ngỡ như không thể thiếu vắng trong cuộc đời. Philippe yêu Rose, quyết tìm về quê hương của Rose cho bằng được, dù phải đối diện với khẩu AK của người du kích vùng giải phóng. Rồi anh tham gia kháng chiến, ra tận miền Bắc để tìm gặp chị nhưng chiến tranh khắc nghiệt, chị nào dám chấp nhận tình yêu của Philippe. Dù yêu cô, anh phải bị quân Giải phóng quản thúc rất lâu, bị đưa ra tòa án quân sự nước Pháp “vì tội theo Cộng sản”.  Philippe về nước, lấy vợ. Chị lấy chồng, đối mặt với những ngày hậu chiến khó khăn. Dòng đời ngỡ như đã đẩy họ về hai đối cực của hai đất nước xa xôi. Mối tình người đàn ông ngoại quốc trở thành một bí mật chị chôn giấu trong tim. Nào ngờ Philippe vẫn không quên mối tình xưa, tìm mọi cách trở về Việt Nam, quyết đi tìm lại chị. Họ gặp nhau, nước  mắt tuôn trào vì hạnh phúc. Anh chân thành kể “Anh cưới cô bạn học, có đứa con gái ba tuổi rồi ly hôn”. Chồng chị hy sinh vì chứng sốt rét ác tính khi cùng chị vượt Trường Sơn. Họ đến với nhau, như hai giọt nước lăn về một chiều của số phận, hòa lẫn vào nhau, không gì có thể cản ngăn, ràng buộc. Hai người cùng cảm nhận hạnh phúc muộn màng bên nhau:

“Người đàn ông mỉm cười, ánh mắt mơ màng, đầu tựa lên đôi vai bé nhỏ, lắng nghe tiếng chim hót đêm đâu đó trên tàng cây, tiếng thầm thì mơ hồ của khu vườn khuya, tiếng người phụ nữ khẽ khàng bên tai mà tưởng như mình đang lạc vào thế giới thần tiên nào…”. Một kết thúc có hậu. Một mối tình đẹp, khiến bao người ao ước. Đọc xong truyện, tôi gấp sách lại, gọi điện cho chị ngay, chân thành chúc mừng. Đầu giây bên kia, giọng chị ỉu xìu: “Ôi Trời, chị hư cấu đó mà. Chị có nghe bạn bè kể lại chuyện một anh giáo sư người Pháp đem lòng yêu cô nữ sinh Cộng sản. Thấy hay chị viết vậy thôi chớ có tình yêu tình iếc gì đâu…”.

Nào ngờ tôi tin thật, cứ ngỡ chị mình đã tìm được tình yêu đích thực, để nói lời chúc mừng chị. Lời chị nói khiến tôi ngỡ ngàng, xúc động, tự nhủ: “Vậy mà chị ấy viết như thật”. Có một sự thật mà tôi được biết dù  chấp nhận ly dị chồng, hôn nhân đổ vỡ, gần như một mình vừa đi dạy học, viết văn, nuôi dê…Làm nhiều nghề để nuôi con nhưng trái tim Kim Quyên vẫn dạt dào xúc cảm, khát khao hạnh phúc. Chị viết như thật về niềm hạnh phúc muộn màng, dù hạnh phúc  với chị là điều không có thật. Người đàn bà của chị trong “Cố nhân” bộc bạch:

“Mà sao, ngoài miệng nói vậy chớ nhiều lúc trong bụng chị vẫn thường tơ tưởng đến một người đàn ông. Người đàn ông đó phải tinh tế dịu dàng, phải mạnh dạn xốc vác, sức khỏe tương đối tốt để tựa nương lúc tuổi xế chiều. Nhiều lúc chị tự cười thầm, tuổi này mà còn mơ mộng chuyện viễn vông…”.

Chị đã nói thay khát vọng thầm kín của bao phụ nữ tuổi xế chiều, cứ mong được gặp cố nhân, gặp được người yêu thương mình chân thật. Dù gặp hay không, tôi vẫn cầu mong chị hạnh phúc vì chị xứng đáng được hưởng những điều tốt đẹp.

Năm 2017, bạn văn mừng cho chị vì tiểu thuyết “Tình không biên giới” – viết về mối tình trong sáng mà đậm sâu giữa cô giáo Việt Nam và chàng chiến sĩ Campuchia Sơn Bách trong giai đoạn ngắn ngủi 1968 -1969 với giằng xé, trái ngang được trao giải thưởng Mekong lần thứ 8. Thành công quyển tiếu thuyết chính ở tình người. Đọng lại sau những trang văn cũng chính ở cái tình của tác giả. Những kỷ niệm chan chứa yêu thương trong những ngày chị sống nơi biên giới ác liệt đã được ghi lại bằng con chữ, chọn tiểu thuyết làm phương cách thể hiện, như một nén tâm hương gởi những người đã mất, đã hy sinh trên hai miền đất xa xôi, đẩm máu một thời. Tình không biên giới cũng đã được trao giài thưởng Tôn vinh tác giả viết về biên giới, hải đảo từ năm 1975 đến 2020 của Hộị Nhà văn Việt Nam năm 2020.

Rồi tiếp theo tiểu thuyết “Thành phố bên sông” của chị được trao giải thưởng Học tập và làm theo tư tưởng, đạo dức, phong cách Hồ Chí Minh năm 2020, nội dung quyển tiểu thuyết viết về ký ức của một cô gái miền Tây sông nước gắn liền với những thăng trầm Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh suốt thời thiếu nữ cho đến mấy mươi năm là cư dân của một thành phố nghĩa tình. Làm sao nữ nhà văn không trân quý miền ký ức của một cô bé từ miệt Cai Lậy lần đầu lên thành phố, được ngồi xe xích lô đạp đi qua những con đường với biết bao cảm xúc, từ  thích thú, kinh ngạc, ngỡ ngàng, ngưỡng mộ đến bất an với những toà nhà cao tầng, hàm răng trắng nhỡn của anh chàng Hynos trong tấm biển quãng cáo, để rồi mấy năm sau, khi trở thành thiếu nữ, cô bé miệt vườn Cai Lậy ấy hoà mình vào phong trào học sinh sinh viên, cùng Sài gòn xuống đường đòi hoà bình, cùng gánh chịu những tang thương, mất mát cho những cuộc đấu tranh. Bản thân Kim Quyên đã góp tác phẩm của mình về thành phố thân thương này một màu sắc không trộn lẫn với bất kỳ thành phố nào, bởi mỗi cư dân từ những miền đất xa xôi đến với thành phố này mang theo tinh hoa, nhân nghĩa làm nên một Sài Gòn nhiều sắc thái.  Giá trị quyển tiểu thuyết kỳ lạ thay chính là sự chân thật, như lời bộc bạch của tác giả: “Tiểu thuyết là hư cấu, nhưng ở đây, dường như có đến 90% là sự thật”. Sự thật được nhà văn tái hiện để thế hệ trẻ sau này khi đọc Thành phố bên sông sẽ hiểu thêm vì sao tất cả mọi người đều tham gia để bảo vệ mảnh đất mình đang sống trước kẻ thù xâm lược. Chính vì yêu thành phố này một cách máu thịt mà suốt trong 4 tháng Sài Gòn bị phong toả vì Covid, chị gởi nhiều nỗi niềm, trăn trở trên facebook về một thành phố tang thương trong dịch bệnh. Chị đã sống ở thành phố này trong những ngày khó khăn nhất nhưng chưa bao giờ trải qua cơn dư chấn khốc liệt này. Chị gọi điện cho bạn văn, cho người quen, không khỏi lo lắng, bất an… rồi động viên mọi người nắm tay nhau đi qua khúc quanh khốc liệt này. Tôi nhìn thấy sức mạnh của chị trong một tâm hồn đa cảm. Vâng, đúng như những tự bạch của chị về nghề:

“Nghề văn là nghề cao quí nhất trong các nghề. Nghề yêu cầu người cầm viết phải có kiến thức uyên bác, có đức, có tài, có lòng dũng cảm và phong cách của một nhà văn chân chính, nhà văn là thơ ký trung thực của xã hội… Tôi mong sao những chữ, những câu văn của tôi góp được một chút gì tốt đẹp cho quê hương tôi”.

Vì là “ Thơ ký trung thực của xã hội” mà Kim Quyên trung thành với cả “Mối tình đầu” của mình, với những cảm xúc rất con người, không giấu diếm cả những hồn nhiên, dại khờ, ấu trĩ của mình. Mối tình đầu với những rung động đầu đời, đẹp như mơ mà xiết bao đau đớn vì chiến tranh huỷ hoại. Khi đất nước bị chiến tranh tàn phá, những mối tình cũng vì nước non mà lận đận… Tôi thổn thức với “Mối tình đầu” của chị trước số phận những người con gái, con trai trong sáng, khoẻ đẹp, đầy hoài bão, ước mơ bị ném vào lò lửa cuộc chiến tranh. Người hy sinh, người thương tật, người bị biến thái tâm hồn… Nhưng lòng nhân hậu đã dẫn ngòi bút chị đi, để vẫn còn lại một mối tình đẹp trong ký ức một cô gái thánh thiện, trong trắng…

Vì là “Thơ ký trung thực của xã hội” nên lằn ranh giữa hiện thực và hư cấu trong những tác phẩm của Kim Quyên gần như trộn lẫn. Tôi nhìn thấy mọi hư cấu trong các nhân vật tiểu thuyết, truyện, tản văn từ chính cuộc đời chị đã trải nghiệm. Tôi xin mượn lời cố nhà văn Nguyễn Quang Sáng – người đã phát hiện ra một Kim Quyên hồn hậu, toả sáng qua những trang văn kết tinh từ tinh chất những hạt phù sa đồng bằng, khi viết lời đề tựa cho tập truyện ngắn “Người dưng khác xứ”, đã viết những cảm nhận về chị.

“Ở mỗi truyện ngắn của nhà văn Kim Quyên đều có những tình tiết để lại dấu ấn trong lòng người đọc. Từ những chi tiết tưởng như vô tình, tác giả viết nên những câu chuyện khiến cho người đọc khó quên. Đọc truyện của tác giả là đọc tấm chân tình của người dân Nam bộ. Văn của Kim Quyên là một dòng trôi cảm xúc, như dòng nước Cửu Long xuôi giữa đôi bờ.”

Tôi mong những bạn văn, độc giả đọc Kim Quyên cũng bằng cái tình của một ly nước chưa đầy để cảm nhận…

T.H

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm