TIN TỨC

Kim Quyên – Khát vọng sáng tạo và trái tim yêu thương

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2021-11-05 23:01:31
mail facebook google pos stwis
3675 lượt xem

Nhà văn Trầm Hương

(Vanchuongthanhphohochimin.vn) – Trước mặt tôi có hơn 10 quyển sách của nhà văn Kim Quyên (còn nhiều quyển đã xuất bản nhưng chị chọn đưa số sách này). Đó là Người dưng khác xứ (Tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Văn nghệ TP.HCM 2003), Ngã ba sông (Thơ, Nhà xuất bản Văn nghệ 2005); Sài Gòn hào hoa (Tản văn, Nhà xuất bản Trè 2011); Ước mơ xanh (Tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Văn hoá Văn nghệ 2018);  Quê ngoại (Tập truyện ký, Nhà xuất bản Hội Nhà văn 2013);  Đi biển một mình (tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Văn hoá – Văn nghệ 2015); Tình không biên giới (Tiểu thuyết, Nhà xuất bản Hội nhà văn 2017); Thành phố bên sông (Tiểu thuyết, Nhà xuất bản Văn hoá – Văn nghệ 2019); Mối tình đầu (Nhà xuất bản Công an nhân dân 2020); Bên dòng sông Bát Sắc  (Hồi ký, Nhà xuất bản Đà Nẵng 2021). Tác phẩm càng về sau càng dày dặn hơn tác phẩm trước. Tất cả đã lên tiếng một cách thuyết phục về sức viết, sự đam mê sáng tạo, sự nỗ lực  vượt qua sự trì níu với mưu sinh, cơm áo gạo tiền đời thường để được là mình, thăng hoa cùng con chữ.

Nhà văn Kim Quyên (áo xanh) cùng nhà văn Trầm Hương (áo tím) chụp ảnh lưu niệm cùng Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trong đại hội Nhà văn 2010. Mới 5 năm thôi mà, bao thay đổi…

 

Một phần sách chị viết trên nền quá khứ, như gốc tre bám rễ vào sông nước Cứu Long. Cô nữ sinh quê hương Mỹ Tho, thời chiến tranh đánh Mỹ đã từng vào vùng kháng chiến mở mang trường lớp và dạy học, tham gia phong trào Học sinh sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh, từng viết văn làm thơ đăng trên báo phản chiến Điện Tín, Tin Sáng từ những năm 1973 với bút danh Hoa Đồng Tháp. Sau ngày đất nước thanh bình, chị lấy chồng sinh con trong những ngày hậu chiến khó khăn, rồi hôn nhân đổ vỡ, một mình nuôi con… Cuộc đời chị ba chìm bảy nổi, vui ít buồn nhiều. May mà chị còn biết cách trút tâm sự cuộc đời mình qua những trang văn. Đọc quyển truyện ký “Quê ngoại”, tôi hiểu nhiều thêm về nhà văn Kim Quyên – một nhà văn có kiến thức về văn học, về ngoại ngữ, có vốn sống Nam bộ,  nghĩa khí, thủy chung… Nếm trải không ít đắng cay bất hạnh nhưng chị luôn nhận phần thiệt về mình. Đọc “Đi biển một mình”, tôi hiểu vì sao chị buồn và khao khát hạnh phúc đến như vậy.

Vài trang ngắn ngủi, tôi không thể khái quát hết tác phẩm của chị. Chị viết rất đa dạng: Tản văn, thơ, ký, truyện ngắn, tiều thuyết… Và sau này với tình yêu mãnh liệt âm nhạc dân tộc, chị mày mò học cải lương, học hát và sáng tác cổ nhạc. Rồi chị viết cả kịch bản sân khấu, kịch bản phim truyền hình, điện ảnh… Tôi có cảm giác chị là bông hoa muốn nở hết mình trong gió nắng, muốn thử sức với hết thảy các thể loại. Cũng sẽ có người không mặn mà việc ấy của một nhà văn nhưng tôi nghĩ tại sao con người ta cứ tự giới hạn mình. Cứ làm, cứ đi rồi sẽ đến một cái đích nào đó. Tôi nhận ra, cuối cùng văn chương vẫn là con đường thích hợp với chị nhất.

Một số tác phẩm của nhà văn Kim Quyên.

Tôi đặc biệt thích tập truyện ngắn “Đi biển một mình” của chị, có lẽ cùng là thân phận phụ nữ, nên thật dễ đồng cảm với nỗi niềm những người đàn bà trong truyện. Với 15 truyện ngắn nhỏ, xinh xinh cũng vừa đủ chuyển tải vẻ đẹp nữ tính, thân phận người phụ nữ, nỗi cô đơn dài dằng dặc của đời người, chất ngọc kết tinh từ lòng nhân hậu lắng đọng sau những đổ vỡ, bất hạnh. Hiểu cuộc đời chị Kim Quyên nên tôi biết những gì chị viết ra không thể khác được. Văn chị đôn hậu, chân chất, mộc mạc và giản dị như chính trải nghiệm cuộc đời mà  chị đã sống, đã thở. Có người nói chị Kim Quyên viết thật thà quá, hiền quá, tự nhiên quá. Tôi cho đó là một lợi thế của chị. Bởi hiền, thật thà mà văn tự nhiên đi vào trái tim con người, không qua cái ma mị, lắt léo, đánh đố của chữ nghĩa. Gu văn chương cũng như kiến trúc, mỹ thuật, tùy theo cảm nhận của mỗi người. Có người thích kiến trúc cổ điển, nhiều họa tiết, rườm rà, nhiều đường cong lượn, có người thích tối giản. Người thích những chiếc bình pha lê lấp lánh, men sứ bóng loáng, người thích đất nung thô mộc. Văn chương của chị Kim Quyên gợi tôi nhớ đến vẻ đẹp của chiếc bình đất nung cắm lô xô những bông hoa sọ nhái rực nắng gió phương Nam. Đọc nhà văn Kim Quyên, tôi càng thận trọng để nhận xét nhà văn này viết có văn hay không văn. Văn là gì? Đọc một tác phẩm của ai đó mà ta rung cảm, thấy thương yêu con người hơn, hướng thiện hơn, muốn được sống tốt hơn. Vậy đó có phải là văn không?. Đọc những trang viết cho ta sự hoang mang, sỗ sàng chữ nghĩa, lắt léo, đánh đố, không đầu không đũa, bí hiểm không biết tác giả nói gì thì đó là văn và cách tân hay sao?! Thiết nghỉ, người viết văn đạt đến độ trong sáng, giản dị, làm đẹp giàu thêm chữ nghĩa không phải là chuyện dễ. Đọc nhà  văn Kim Quyên, gấp sách lại, nước mắt tôi chảy ra vì thấy mình trong đó, đồng cảm với thân phận phụ nữ, những người đi biển một mình, người đi tìm hạnh phúc trong vô vọng, những người phụ nữ tận hiến thời thanh xuân để trở thành người thừa tuổi xế chiều, người con gái ở ngã ba sông không biết đâu là cái bến dành cho mình và những bông hoa cuối mùa tàn úa mà lòng vẫn đau đáu được yêu thương…

Đây là tấm lòng một người mẹ, người bà quyện trong tấm lòng một nhà văn dành cho đứa cháu vào lớp một, không thèm ngoáy lại nhìn bà:

“… Thôi, Vậy cũng tốt. Nó không bịn rịn người nhà như những đứa trẻ khác. Nó đã lớn rồi.

Nó lớn rồi nhưng những khi được ngủ trưa ở nhà, tôi vẫn hát ru, tôi muốn truyền vào tâm hồn nó một chút tình yêu gia đình, tình xóm làng, quê hương dù tiếng ru của tôi lạc lỏng trong buổi trưa oi nồng giữa chốn phồn hoa náo nhiệt…”

Làm sao chị em phụ nữ chúng tôi không mủi lòng trước thân phận một người vợ. Lúc mang thai, lẽ thường, phụ nữ cần chồng hay người thương yêu bên mình nhất, thì có biết bao người phụ nữ như Lụa, với một người chồng vô tâm, thất chí, lao vào rượu để quên đời:

“Lụa khuyên giải thế nào cũng không nghe, có hôm anh đi  về khuya, té nằm lăn trước cổng nhà, người một nơi, xe một nơi, không còn biết đất trời gì nữa. Lụa không dám nhờ tới lối xóm sợ họ biết chuyện, đành một mình với cái bụng bầu è ểnh dìu anh vào nhà…

Gần sanh, cô thèm chè mà không có tiền mua, vét một chút đường chảy còn sót dưới đáy keo, nhổ cây mì sau nhà, mài củ vắt lấy bột nấu chén chè ăn cho qua cơn thèm. Từ lúc lấy Thanh, Lụa chưa bao giờ thấy tiền lương của anh, lương lãnh về, anh bỏ trong rương khóa lại, hỏi tới thì anh bảo có bao nhiêu mà hạch sách. Từ đó, Lụa không bao giờ đề cập đến chuyện tiền bạc, hai mẹ con no đói gì mình cô biết…”.

Hiểu phần nào cuộc đời của chị, đồng cảm với cảnh bà mẹ đơn thân nuôi con, tôi thầm hỏi “Lụa là Kim Quyên hay Kim Quyên là Lụa?!”. Có lẽ cả hai, bởi không có những trải nghiệm đắng cay, nước mắt của người đàn bà đi biển một mình, làm sao chị có thể thấu hiểu được nỗi khổ của Lụa – nhân vật trong truyện “Bông lục bình” chìm nổi của chị. Nhưng rồi tình thương, trách nhiệm với những người thân yêu, chị vẫn phải neo cuộc đời mình trong cái bến đục với những ràng buộc đời thường. Rốt cuộc, chị vẫn là người đàn bà cô đơn, khao khát được yêu thương, khao khát hạnh phúc cháy lòng.

Nhà văn Kim Quyên cho phép mình được viễn du, mơ mộng với một người đàn ông với tên gọi Philippe Mitou:

“Anh là một Parisiens chính hiệu, một nhà nghiên cứu lịch sử”. Mối tình họ diễn ra trong cuộc chiến tranh khắc nghiệt. Anh gọi chị là Rose – một đóa hồng ngỡ như không thể thiếu vắng trong cuộc đời. Philippe yêu Rose, quyết tìm về quê hương của Rose cho bằng được, dù phải đối diện với khẩu AK của người du kích vùng giải phóng. Rồi anh tham gia kháng chiến, ra tận miền Bắc để tìm gặp chị nhưng chiến tranh khắc nghiệt, chị nào dám chấp nhận tình yêu của Philippe. Dù yêu cô, anh phải bị quân Giải phóng quản thúc rất lâu, bị đưa ra tòa án quân sự nước Pháp “vì tội theo Cộng sản”.  Philippe về nước, lấy vợ. Chị lấy chồng, đối mặt với những ngày hậu chiến khó khăn. Dòng đời ngỡ như đã đẩy họ về hai đối cực của hai đất nước xa xôi. Mối tình người đàn ông ngoại quốc trở thành một bí mật chị chôn giấu trong tim. Nào ngờ Philippe vẫn không quên mối tình xưa, tìm mọi cách trở về Việt Nam, quyết đi tìm lại chị. Họ gặp nhau, nước  mắt tuôn trào vì hạnh phúc. Anh chân thành kể “Anh cưới cô bạn học, có đứa con gái ba tuổi rồi ly hôn”. Chồng chị hy sinh vì chứng sốt rét ác tính khi cùng chị vượt Trường Sơn. Họ đến với nhau, như hai giọt nước lăn về một chiều của số phận, hòa lẫn vào nhau, không gì có thể cản ngăn, ràng buộc. Hai người cùng cảm nhận hạnh phúc muộn màng bên nhau:

“Người đàn ông mỉm cười, ánh mắt mơ màng, đầu tựa lên đôi vai bé nhỏ, lắng nghe tiếng chim hót đêm đâu đó trên tàng cây, tiếng thầm thì mơ hồ của khu vườn khuya, tiếng người phụ nữ khẽ khàng bên tai mà tưởng như mình đang lạc vào thế giới thần tiên nào…”. Một kết thúc có hậu. Một mối tình đẹp, khiến bao người ao ước. Đọc xong truyện, tôi gấp sách lại, gọi điện cho chị ngay, chân thành chúc mừng. Đầu giây bên kia, giọng chị ỉu xìu: “Ôi Trời, chị hư cấu đó mà. Chị có nghe bạn bè kể lại chuyện một anh giáo sư người Pháp đem lòng yêu cô nữ sinh Cộng sản. Thấy hay chị viết vậy thôi chớ có tình yêu tình iếc gì đâu…”.

Nào ngờ tôi tin thật, cứ ngỡ chị mình đã tìm được tình yêu đích thực, để nói lời chúc mừng chị. Lời chị nói khiến tôi ngỡ ngàng, xúc động, tự nhủ: “Vậy mà chị ấy viết như thật”. Có một sự thật mà tôi được biết dù  chấp nhận ly dị chồng, hôn nhân đổ vỡ, gần như một mình vừa đi dạy học, viết văn, nuôi dê…Làm nhiều nghề để nuôi con nhưng trái tim Kim Quyên vẫn dạt dào xúc cảm, khát khao hạnh phúc. Chị viết như thật về niềm hạnh phúc muộn màng, dù hạnh phúc  với chị là điều không có thật. Người đàn bà của chị trong “Cố nhân” bộc bạch:

“Mà sao, ngoài miệng nói vậy chớ nhiều lúc trong bụng chị vẫn thường tơ tưởng đến một người đàn ông. Người đàn ông đó phải tinh tế dịu dàng, phải mạnh dạn xốc vác, sức khỏe tương đối tốt để tựa nương lúc tuổi xế chiều. Nhiều lúc chị tự cười thầm, tuổi này mà còn mơ mộng chuyện viễn vông…”.

Chị đã nói thay khát vọng thầm kín của bao phụ nữ tuổi xế chiều, cứ mong được gặp cố nhân, gặp được người yêu thương mình chân thật. Dù gặp hay không, tôi vẫn cầu mong chị hạnh phúc vì chị xứng đáng được hưởng những điều tốt đẹp.

Năm 2017, bạn văn mừng cho chị vì tiểu thuyết “Tình không biên giới” – viết về mối tình trong sáng mà đậm sâu giữa cô giáo Việt Nam và chàng chiến sĩ Campuchia Sơn Bách trong giai đoạn ngắn ngủi 1968 -1969 với giằng xé, trái ngang được trao giải thưởng Mekong lần thứ 8. Thành công quyển tiếu thuyết chính ở tình người. Đọng lại sau những trang văn cũng chính ở cái tình của tác giả. Những kỷ niệm chan chứa yêu thương trong những ngày chị sống nơi biên giới ác liệt đã được ghi lại bằng con chữ, chọn tiểu thuyết làm phương cách thể hiện, như một nén tâm hương gởi những người đã mất, đã hy sinh trên hai miền đất xa xôi, đẩm máu một thời. Tình không biên giới cũng đã được trao giài thưởng Tôn vinh tác giả viết về biên giới, hải đảo từ năm 1975 đến 2020 của Hộị Nhà văn Việt Nam năm 2020.

Rồi tiếp theo tiểu thuyết “Thành phố bên sông” của chị được trao giải thưởng Học tập và làm theo tư tưởng, đạo dức, phong cách Hồ Chí Minh năm 2020, nội dung quyển tiểu thuyết viết về ký ức của một cô gái miền Tây sông nước gắn liền với những thăng trầm Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh suốt thời thiếu nữ cho đến mấy mươi năm là cư dân của một thành phố nghĩa tình. Làm sao nữ nhà văn không trân quý miền ký ức của một cô bé từ miệt Cai Lậy lần đầu lên thành phố, được ngồi xe xích lô đạp đi qua những con đường với biết bao cảm xúc, từ  thích thú, kinh ngạc, ngỡ ngàng, ngưỡng mộ đến bất an với những toà nhà cao tầng, hàm răng trắng nhỡn của anh chàng Hynos trong tấm biển quãng cáo, để rồi mấy năm sau, khi trở thành thiếu nữ, cô bé miệt vườn Cai Lậy ấy hoà mình vào phong trào học sinh sinh viên, cùng Sài gòn xuống đường đòi hoà bình, cùng gánh chịu những tang thương, mất mát cho những cuộc đấu tranh. Bản thân Kim Quyên đã góp tác phẩm của mình về thành phố thân thương này một màu sắc không trộn lẫn với bất kỳ thành phố nào, bởi mỗi cư dân từ những miền đất xa xôi đến với thành phố này mang theo tinh hoa, nhân nghĩa làm nên một Sài Gòn nhiều sắc thái.  Giá trị quyển tiểu thuyết kỳ lạ thay chính là sự chân thật, như lời bộc bạch của tác giả: “Tiểu thuyết là hư cấu, nhưng ở đây, dường như có đến 90% là sự thật”. Sự thật được nhà văn tái hiện để thế hệ trẻ sau này khi đọc Thành phố bên sông sẽ hiểu thêm vì sao tất cả mọi người đều tham gia để bảo vệ mảnh đất mình đang sống trước kẻ thù xâm lược. Chính vì yêu thành phố này một cách máu thịt mà suốt trong 4 tháng Sài Gòn bị phong toả vì Covid, chị gởi nhiều nỗi niềm, trăn trở trên facebook về một thành phố tang thương trong dịch bệnh. Chị đã sống ở thành phố này trong những ngày khó khăn nhất nhưng chưa bao giờ trải qua cơn dư chấn khốc liệt này. Chị gọi điện cho bạn văn, cho người quen, không khỏi lo lắng, bất an… rồi động viên mọi người nắm tay nhau đi qua khúc quanh khốc liệt này. Tôi nhìn thấy sức mạnh của chị trong một tâm hồn đa cảm. Vâng, đúng như những tự bạch của chị về nghề:

“Nghề văn là nghề cao quí nhất trong các nghề. Nghề yêu cầu người cầm viết phải có kiến thức uyên bác, có đức, có tài, có lòng dũng cảm và phong cách của một nhà văn chân chính, nhà văn là thơ ký trung thực của xã hội… Tôi mong sao những chữ, những câu văn của tôi góp được một chút gì tốt đẹp cho quê hương tôi”.

Vì là “ Thơ ký trung thực của xã hội” mà Kim Quyên trung thành với cả “Mối tình đầu” của mình, với những cảm xúc rất con người, không giấu diếm cả những hồn nhiên, dại khờ, ấu trĩ của mình. Mối tình đầu với những rung động đầu đời, đẹp như mơ mà xiết bao đau đớn vì chiến tranh huỷ hoại. Khi đất nước bị chiến tranh tàn phá, những mối tình cũng vì nước non mà lận đận… Tôi thổn thức với “Mối tình đầu” của chị trước số phận những người con gái, con trai trong sáng, khoẻ đẹp, đầy hoài bão, ước mơ bị ném vào lò lửa cuộc chiến tranh. Người hy sinh, người thương tật, người bị biến thái tâm hồn… Nhưng lòng nhân hậu đã dẫn ngòi bút chị đi, để vẫn còn lại một mối tình đẹp trong ký ức một cô gái thánh thiện, trong trắng…

Vì là “Thơ ký trung thực của xã hội” nên lằn ranh giữa hiện thực và hư cấu trong những tác phẩm của Kim Quyên gần như trộn lẫn. Tôi nhìn thấy mọi hư cấu trong các nhân vật tiểu thuyết, truyện, tản văn từ chính cuộc đời chị đã trải nghiệm. Tôi xin mượn lời cố nhà văn Nguyễn Quang Sáng – người đã phát hiện ra một Kim Quyên hồn hậu, toả sáng qua những trang văn kết tinh từ tinh chất những hạt phù sa đồng bằng, khi viết lời đề tựa cho tập truyện ngắn “Người dưng khác xứ”, đã viết những cảm nhận về chị.

“Ở mỗi truyện ngắn của nhà văn Kim Quyên đều có những tình tiết để lại dấu ấn trong lòng người đọc. Từ những chi tiết tưởng như vô tình, tác giả viết nên những câu chuyện khiến cho người đọc khó quên. Đọc truyện của tác giả là đọc tấm chân tình của người dân Nam bộ. Văn của Kim Quyên là một dòng trôi cảm xúc, như dòng nước Cửu Long xuôi giữa đôi bờ.”

Tôi mong những bạn văn, độc giả đọc Kim Quyên cũng bằng cái tình của một ly nước chưa đầy để cảm nhận…

T.H

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm