TIN TỨC

Làm người là khó… – Tiểu luận của Bùi Việt Thắng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-12-05 19:48:58
mail facebook google pos stwis
571 lượt xem

Có một điều dường như rất giản dị, nhưng lại khó hơn người ta tưởng: “làm người”. Nhà phê bình Bùi Việt Thắng, qua tiểu luận "Làm người là khó…", khai mở ánh nhìn về thân phận con người trong những biến động lịch sử, khi nhân cách, danh dự và lẽ sống bị thử thách dữ dội. Bài viết không chỉ là một khảo sát văn học, mà còn là tiếng nói thức tỉnh, mời mỗi chúng ta nhìn lại chính mình, trước khi trông mong người khác hiểu mình. Văn chương TP.HCM trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

BÙI VIỆT THẮNG

Đọc xong Đường sáng của nhà văn Nguyễn Văn Mạnh, tỉnh trí ra, tôi nhận thấy trong đó có cả hoa, có cả nụ. Tôi tin nhiều người cùng nghĩ như thế.
 

Nhà phê bình Bùi Việt Thắng

“Đường sáng”, vì sao

Nhà văn Nguyễn Văn Mạnh (Trưởng ban Biên tập Tạp chí Diễn đàn văn nghệ Việt Nam) gửi tôi bản thảo tiểu thuyết phi hư cấu Món nợ danh dự, nhờ đọc và viết Lời tựa.

Về lý thuyết cũng như thực tiễn văn học, đang bảo chứng cho một khuynh hướng tạm gọi là dòng tiểu thuyết có yếu tố tự thuật, nhà văn Ma Văn Kháng thì xác định là “tiểu thuyết cái tôi”. Cách nay vài năm Tiến sỹ Đỗ Hải Ninh (công tác ở Viện Văn học, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam) đã ra sách chuyên khảo Tiểu thuyết có yếu tố tự thuật trong văn học Việt Nam đương đại. Những cuốn tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Thượng đế thì cười của Nguyễn Khải, Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng, Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn, Gia đình bé mọn của Dạ Ngân, Chuyện ngõ nghèo của Nguyễn Xuân Khánh,… đều đọc hấp dẫn vì tác phẩm có yếu tố tự thuật, dường như nhà văn tự kể chuyện mình, nên chân thật, chân thành. Con người/ người đọc thời nào cũng khao khát sự thật. Nên mới có câu được nhập tâm với người cầm bút “Nửa cái bánh mì là nửa cái bánh mì. Nửa sự thật là giả dối”. Nói hình tượng thì, nhà văn chân chính luôn có cái ý nguyện “nhúng bút vào sự thật”, khi viết. Đó là biểu hiện của khát vọng được thành thật.

Đọc trọn vẹn sáu chương bản thảo tiểu thuyết phi hư cấu Món nợ danh dự, khi được tác giả tin tưởng ủy quyền cho nhà phê bình đặt tên (nhan đề) cho “đứa con tinh thần” của mình, tôi nung nấu một cái tên gọn ghẽ chỉ hai chữ ĐƯỜNG SÁNG. Vì sao? Vì, con người ta sinh ra là có số phận, có đường đời (đường đi nước bước); người thì ba chìm, bảy nổi chín lênh đênh (“Bắt phong trần phải phong trần/ Cho thanh cao mới được phần thanh cao” – Nguyễn Du), người thì may mắn đường đời rải hoa hồng, người thì được “thánh nhân đãi khù khờ”,… Rốt cuộc, rồi ai cũng qua kiếp phong trần, lặn ngụp trong bể dâu, can qua. Tóm lại, ai ai rồi cũng phải trải qua “con đường đau khổ” (khổ nạn đích lịch trình). Từ nay Món nợ danh dự có tên khai sinh mới Đường sáng. Nhất quyết nó không phải là tự truyện hay hồi ký. Nó là tiểu thuyết phi hư cấu, như cách tác giả ghi danh thể loại, hay “tiểu thuyết có yếu tố tự thuật”, như giới nghiên cứu xác định, hoặc giả là “tiểu thuyết cái tôi”, thuộc kiểu gì cũng đều trúng và đúng. Nhưng thể loại, dẫu sao cũng chỉ là “xiêm áo”, quan trọng hơn cả là chính cái sinh thể được khoác lên xiêm áo bất kỳ – tác phẩm ấy với nội dung tư tưởng và nghệ thuật đặc sắc có neo lại được trong ký ức độc giả, có tạo nên những ám ảnh nghệ thuật sâu sắc và lâu bền, có gửi gắm được thông điệp nhân văn nào mới mẻ hay không. Cuối cùng đọc có hấp dẫn hay không?!

Làm người là khó (nhân chi nan)

Món nợ danh dự, nếu theo cách đặt tên tác phẩm ban đầu của tác giả, xét đến cùng cũng có cái lý, cái tình thâm hậu của nó. Nhưng sau khi trao đi đổi lại, tác giả và người viết phê bình thống nhất với cái tên mới Đường sáng, bởi nó khái quát hơn, tính biểu tượng cao hơn. Hạnh nhân vật chính (xuất hiện từ chương 1 đến chương 6 – kết thúc tiểu thuyết) dung chứa chủ đề tư tưởng của tác phẩm – làm người là khó. Dẫu trong hoàn cảnh nào anh cũng phải sống, phải vượt lên, trưởng thành, lập công không phải để chuộc tội mà để chứng minh nhân cách, phẩm giá của mình.

Đại thi hào Đức thế kỷ XIX Goethe có nói, đại ý, con người ta có thể chết vì đói rét, vì cô đơn, song con người ta cũng có thể chết vì oan khuất. Nó là một nỗi đau dai dẳng và khốc liệt nhất cho đến khi hồn lìa khỏi xác vẫn chưa kết thúc. Mới mười tuổi, Hạnh còn là một cậu bé ham chơi hơn hết nhưng đã phải gánh trên vai nỗi oan khuất tựa thái sơn khi gia đình bị quy kết (sai) là địa chủ bóc lột, sau 2 năm thì được gột rửa thành “địa chủ kháng chiến”?! Mười tuổi thì mới chỉ là “Trẻ em như búp trên cành/ Biết ăn ngủ biết học hành là ngoan”. Vậy nhưng Hạnh sớm chịu trận, sớm thấm thía “Vừa cay đắng vừa kiêu hãnh mong muốn chứng minh rằng, mình không là kẻ hèn yếu”. Một mình mẹ một nách ba con nhỏ khi bố sớm khuất bóng. Người ta nói “thời thế tạo anh hùng” cũng có cái lý sâu xa của nó, trong khi chúng ta cứ đinh ninh “anh hùng tạo thời thế”?! Gia cảnh ấy khiến Hạnh sớm giác ngộ về cuộc đời và xã hội, sớm tự lập, tự chủ trong cuộc sống vốn không ưu ái với gia đình và bản thân.

Đọc đến trường đoạn này tự nhiên mắt cũng cay cay, là bởi hoàn cảnh gia đình tôi vào độ có cơn đại hồng thủy 1954-1956, cũng na ná hoàn cảnh của gia đình Hạnh. Mẹ tôi mất sớm vào đúng cái năm hòa bình đến (1954). Bố tôi và gia đình tôi cũng bị cơn cuồng phong lịch sử thời kỳ ấy quăng quật, thiếu chút nữa là nghiền nát. Là một đảng viên từ thời kỳ khởi nghĩa 1945, bố tôi khi bị oan sai, oan khuất, cho đến khi được chiêu tuyết, rồi lâm chung ở tuổi bảy mươi, vẫn nhắc nhở anh em tôi, rằng nỗi đau đó không của riêng ai, là do lịch sử đung đưa, chệnh choạng khỏi quỹ đạo chân lý, đã động chạm và làm tổn thương đến nhiều người dân lương thiện nhưng chẳng may sa cơ lỡ vận. Nhưng bản thân mình sống tốt, có đức hạnh thì Trời Phật có mắt?! Sau này bảy anh em chúng tôi trưởng thành, đi trên con đường sáng, trở nên người tử tế và hữu ích càng tri ân bố mẹ đã giữ niềm tin vào chân – thiện – mỹ. Xét đến cùng, mỗi người như nhân vật Hạnh (suy rộng ra như thế hệ chúng tôi) đều là những thân phận khác nhau trong số phận lớn của nhân dân đông đảo, tử tế, vĩ đại, làm nên các giá trị thiện lành của cuộc đời này.

Học hành dang dở, chưa tốt nghiệp phổ thông (hệ mười năm), Hạnh xung phong đi bộ đội. Vì sức khỏe kém, lúc đầu không đủ tiêu chuẩn thực hiện nghĩa vụ quân sự, Hạnh đã viết đơn bằng máu và cả “gian lận” trong khám tuyển, cuối cùng anh cũng thỏa nguyện vọng khoác lên người bộ quân phục trở thành anh bộ đội Cụ Hồ. Với Hạnh lúc này “Chỉ có con đường vào bộ đội, vào Nam chiến đấu mới làm rạng danh gia tộc”, dẫu biết “Con đường phía trước là con đường máu lửa, nhưng cũng là con đường danh dự mà anh đã chọn”. Đây là sự dấn thân và lựa chọn của tuổi trẻ với tâm thế “Người ra đi đầu không ngoảnh lại/ Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy” (Đất nước – Nguyễn Đình Thi).

Tôi tham vấn tác giả đặt nhan đề tác phẩm là Đường sáng hẳn có ngụ ý sâu xa của nó. Cuộc đời lính trận của Hạnh (trọn chương 3) sặc mùi khói lửa, đạn bom, hy sinh được viết như những phóng sự đầy chất sống. Tuy nhiên, tâm lý độc giả là muốn đọc nhanh như những thước phim tài liệu chiến tranh. Họ muốn biết nhân vật Hạnh đã trải qua lửa đỏ và nước lạnh như thế nào, thép đã được tôi luyện như thế nào. Tác giả có vẻ như đã chia đều chất liệu và cảm hứng khi viết về cuộc sống trực chỉ nơi chiến trường của người lính chiến thực thụ – nhân vật văn học đáng yêu có tên Hạnh. Vì nhan đề tác phẩm là Đường sáng, nên con đường mà Hạnh đã chọn, đã trải qua chắc còn dài rộng, gian nan, đúng như một “con đường đau khổ” (khổ nạn đích lịch trình). Và bằng kinh nghiệm đọc văn học, độc giả biết (linh cảm thấy) Hạnh không thể hy sinh sớm, để lại nỗi thương tiếc khôn nguôi. Anh phải sống để đi đến đích cuối cùng trên con đường sáng mình đã tự nguyện chọn lựa.

Đường đời – những nỗi đoạn trường…

Năm 1980, Hạnh ra quân với quân hàm thiếu úy, khoác áo dân sự làm báo Minh Hải (Cà Mau). Ai đó nói có lý, nghề báo là nghề gian nan vất vả, đã đành, nhưng là nghề nguy hiểm, thực tế đã kiểm nghiệm, vì “lời nói đọi máu”. Rời bỏ khẩu súng, nay cầm bút cũng là một khẩu súng chữ, viết như một cuộc chiến đầu vì sự thật, công lý. Hạnh tâm niệm “Phải viết, phải nói thay tiếng nói của những con người thầm lặng kia để không ai còn bị lãng quên giữa vùng đất đầy bùn và gió”, “Viết để sống cùng dân, để soi sáng những nơi tối tăm nhất. Chỉ vậy thôi”. Cuối năm 1982, Hạnh được điều chuyển công tác sang Tòa án nhân dân tỉnh, vì ở báo Hạnh “viết thật quá”, nên động chạm những nơi, những người, những việc nhạy cảm?!

Từ chương 4-5, những đoạn trường của Hạnh thực sự là trọng tâm, trọng lực của tác phẩm. Chất đời dồn nén tối đa, xung đột tinh thần tập trung đỉnh điểm, nội tâm phân thân, cuộc đấu tranh với bản thân gay gắt và sâu sắc, đã khiến cho tiểu thuyết Đường sáng có cái nền móng, hơi thở văn hóa nên đã tôn tạo, kê cao, khắc sâu các vấn đề nhân sinh – đạo lý – thân phận con người trong một xã hội đang trở dạ. Vì suy cho cùng “Văn hóa là cách ứng xử” (cách sống cùng nhau). Làm báo nay làm luật, Hạnh đều trung thành với nguyên tắc “Luật chỉ là con đường. Nhưng người đi trên con đường ấy cần có trái tim”. Với bản tính trung thực, nên Hạnh đã nhận vào mình không ít khó khăn, hệ lụy. Nhưng dường như là định mệnh với anh “Thuyền cầu bão táp mưa sa/ Dường như giông bão mới là bình yên” (Con thuyền – Lermontov).

Bước ngoặt của đời Hạnh với “Những cánh cửa không đóng” (từ chương 5-6), khi anh chuyển sang viết về văn hóa, văn học nghệ thuật “Ở đó, không còn tiếng súng, tiếng dọa dẫm, mà là tiếng im lặng của nội tâm – thứ khó đối diện hơn cả hiểm nguy”. Từ nay gặt hái đầu ngọn bút của anh là những “mùa của chữ và lửa”, “Từ đó Hạnh bước sang một thế giới khác – thế giới chữ, nơi con người không bị vạch tội, mà được thấu hiểu”. Những truyện ngắn, bài thơ của anh nay chan chứa vị đời, lung linh và thấm đẫm niềm tin vào thiện lương ở con người, cuộc đời. Viết, bây giờ với Hạnh, như một cách thế tồn tại, như một sự phóng chiếu, thăng hoa. Hạnh đã thực sự hành đạo trên con đường sáng mà mình lựa chọn và dấn thân.

Vĩ thanh

Không thể nói đơn giản, nhân vật Hạnh chính là tác giả Nguyễn Văn Mạnh, “cha đẻ tinh thần” của nhân vật trung tâm với ý nghĩa là nguyên mẫu, hay là một “phiên bản văn nhân”, là nhà báo – nhà văn từng trải đời, trải nghề (năm 2024, Nguyễn Văn Mạnh được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam). Nhà văn có được cái uy quyền của người sáng tạo nên thế giới hiện thực ở tầng thứ hai. Tác phẩm Đường sáng được ghi thể loại là “Tiểu thuyết phi hư cấu”. Nhưng bất kỳ sự tưởng tượng, hư cấu nào (nếu có) cũng phải tựa vững trên nền hiện thực đời sống và con người. Vì ghi như thế nên người đọc hay so đo, căn chỉnh xem trường đoạn này, chi tiết kia có hiện thực hay không. Giá như, tôi nghĩ, tác giả cứ mạnh bạo ghi là tiểu thuyết như cách nhà văn Lê Lựu viết Thời xa vắng. Thì đã sao, ai dám bắt bẻ, vặn vẹo đâu là thật, đâu là bịa (vì “tiểu thuyết là một câu chuyện bịa y như thật”).

Dường như tác giả đã tự “biên tập” mình, khi viết, trước khi được biên tập?! Tác giả, cũng như người viết Lời tựa, là sản phẩm của thời bao cấp, nên cái căn tính ấy ám vào văn chương. Vì thế, nên cách viết cũng bao cấp tư tưởng – nói cho tận cùng ngõ ngách sáng rõ, cho tường minh chuyện cuộc đời vốn lắt léo, mù mờ, đôi khi tưởng đâu là mê lộ, mê cung. Một lần, tôi ngẫu nhiên đọc cuốn Lý thuyết tập mờ trong toán học, mới ngộ ra rằng, trong một ngành khoa học chính xác tuyệt đối đến từng centimet như toán học, mà còn có những vùng mờ (tập mờ) thì há trong văn chương không còn chỗ cho những vùng mờ?! Tuy nhiên, nói như thế không có ý phê bình tiểu thuyết Đường sáng của nhà văn Nguyễn Văn Mạnh tỏ tường, sáng rõ, quang minh chính đại quá, như dưới thanh thiên bạch nhật. Nên không còn khoảng lặng (tập mờ) cho độc giả tiếp tục đồng sáng tạo?! Ấy là nói từ phương diện lý tưởng. Tuy vậy, như cổ nhân nói “có hoa mừng hoa, có nụ mừng nụ”. Đọc xong Đường sáng của nhà văn Nguyễn Văn Mạnh, tỉnh trí ra, tôi nhận thấy trong đó có cả hoa, có cả nụ. Tôi tin nhiều người cùng nghĩ như thế.

Mọi lời bình dù có thấu đáo đến đâu cũng không thể thay thế được việc đọc trực tiếp tác phẩm. Vì thế, tôi tin tưởng sâu sắc vào việc đón nhận một văn bản nghệ thuật thành công từ mỗi độc giả thông minh, cũng có thể khó tính và cầu toàn, trên từng trang văn của Đường sáng.

Hà Nội, tháng 11.2025

B.V.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm