TIN TỨC

Làm người là khó… – Tiểu luận của Bùi Việt Thắng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-12-05 19:48:58
mail facebook google pos stwis
470 lượt xem

Có một điều dường như rất giản dị, nhưng lại khó hơn người ta tưởng: “làm người”. Nhà phê bình Bùi Việt Thắng, qua tiểu luận "Làm người là khó…", khai mở ánh nhìn về thân phận con người trong những biến động lịch sử, khi nhân cách, danh dự và lẽ sống bị thử thách dữ dội. Bài viết không chỉ là một khảo sát văn học, mà còn là tiếng nói thức tỉnh, mời mỗi chúng ta nhìn lại chính mình, trước khi trông mong người khác hiểu mình. Văn chương TP.HCM trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

BÙI VIỆT THẮNG

Đọc xong Đường sáng của nhà văn Nguyễn Văn Mạnh, tỉnh trí ra, tôi nhận thấy trong đó có cả hoa, có cả nụ. Tôi tin nhiều người cùng nghĩ như thế.
 

Nhà phê bình Bùi Việt Thắng

“Đường sáng”, vì sao

Nhà văn Nguyễn Văn Mạnh (Trưởng ban Biên tập Tạp chí Diễn đàn văn nghệ Việt Nam) gửi tôi bản thảo tiểu thuyết phi hư cấu Món nợ danh dự, nhờ đọc và viết Lời tựa.

Về lý thuyết cũng như thực tiễn văn học, đang bảo chứng cho một khuynh hướng tạm gọi là dòng tiểu thuyết có yếu tố tự thuật, nhà văn Ma Văn Kháng thì xác định là “tiểu thuyết cái tôi”. Cách nay vài năm Tiến sỹ Đỗ Hải Ninh (công tác ở Viện Văn học, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam) đã ra sách chuyên khảo Tiểu thuyết có yếu tố tự thuật trong văn học Việt Nam đương đại. Những cuốn tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Thượng đế thì cười của Nguyễn Khải, Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng, Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn, Gia đình bé mọn của Dạ Ngân, Chuyện ngõ nghèo của Nguyễn Xuân Khánh,… đều đọc hấp dẫn vì tác phẩm có yếu tố tự thuật, dường như nhà văn tự kể chuyện mình, nên chân thật, chân thành. Con người/ người đọc thời nào cũng khao khát sự thật. Nên mới có câu được nhập tâm với người cầm bút “Nửa cái bánh mì là nửa cái bánh mì. Nửa sự thật là giả dối”. Nói hình tượng thì, nhà văn chân chính luôn có cái ý nguyện “nhúng bút vào sự thật”, khi viết. Đó là biểu hiện của khát vọng được thành thật.

Đọc trọn vẹn sáu chương bản thảo tiểu thuyết phi hư cấu Món nợ danh dự, khi được tác giả tin tưởng ủy quyền cho nhà phê bình đặt tên (nhan đề) cho “đứa con tinh thần” của mình, tôi nung nấu một cái tên gọn ghẽ chỉ hai chữ ĐƯỜNG SÁNG. Vì sao? Vì, con người ta sinh ra là có số phận, có đường đời (đường đi nước bước); người thì ba chìm, bảy nổi chín lênh đênh (“Bắt phong trần phải phong trần/ Cho thanh cao mới được phần thanh cao” – Nguyễn Du), người thì may mắn đường đời rải hoa hồng, người thì được “thánh nhân đãi khù khờ”,… Rốt cuộc, rồi ai cũng qua kiếp phong trần, lặn ngụp trong bể dâu, can qua. Tóm lại, ai ai rồi cũng phải trải qua “con đường đau khổ” (khổ nạn đích lịch trình). Từ nay Món nợ danh dự có tên khai sinh mới Đường sáng. Nhất quyết nó không phải là tự truyện hay hồi ký. Nó là tiểu thuyết phi hư cấu, như cách tác giả ghi danh thể loại, hay “tiểu thuyết có yếu tố tự thuật”, như giới nghiên cứu xác định, hoặc giả là “tiểu thuyết cái tôi”, thuộc kiểu gì cũng đều trúng và đúng. Nhưng thể loại, dẫu sao cũng chỉ là “xiêm áo”, quan trọng hơn cả là chính cái sinh thể được khoác lên xiêm áo bất kỳ – tác phẩm ấy với nội dung tư tưởng và nghệ thuật đặc sắc có neo lại được trong ký ức độc giả, có tạo nên những ám ảnh nghệ thuật sâu sắc và lâu bền, có gửi gắm được thông điệp nhân văn nào mới mẻ hay không. Cuối cùng đọc có hấp dẫn hay không?!

Làm người là khó (nhân chi nan)

Món nợ danh dự, nếu theo cách đặt tên tác phẩm ban đầu của tác giả, xét đến cùng cũng có cái lý, cái tình thâm hậu của nó. Nhưng sau khi trao đi đổi lại, tác giả và người viết phê bình thống nhất với cái tên mới Đường sáng, bởi nó khái quát hơn, tính biểu tượng cao hơn. Hạnh nhân vật chính (xuất hiện từ chương 1 đến chương 6 – kết thúc tiểu thuyết) dung chứa chủ đề tư tưởng của tác phẩm – làm người là khó. Dẫu trong hoàn cảnh nào anh cũng phải sống, phải vượt lên, trưởng thành, lập công không phải để chuộc tội mà để chứng minh nhân cách, phẩm giá của mình.

Đại thi hào Đức thế kỷ XIX Goethe có nói, đại ý, con người ta có thể chết vì đói rét, vì cô đơn, song con người ta cũng có thể chết vì oan khuất. Nó là một nỗi đau dai dẳng và khốc liệt nhất cho đến khi hồn lìa khỏi xác vẫn chưa kết thúc. Mới mười tuổi, Hạnh còn là một cậu bé ham chơi hơn hết nhưng đã phải gánh trên vai nỗi oan khuất tựa thái sơn khi gia đình bị quy kết (sai) là địa chủ bóc lột, sau 2 năm thì được gột rửa thành “địa chủ kháng chiến”?! Mười tuổi thì mới chỉ là “Trẻ em như búp trên cành/ Biết ăn ngủ biết học hành là ngoan”. Vậy nhưng Hạnh sớm chịu trận, sớm thấm thía “Vừa cay đắng vừa kiêu hãnh mong muốn chứng minh rằng, mình không là kẻ hèn yếu”. Một mình mẹ một nách ba con nhỏ khi bố sớm khuất bóng. Người ta nói “thời thế tạo anh hùng” cũng có cái lý sâu xa của nó, trong khi chúng ta cứ đinh ninh “anh hùng tạo thời thế”?! Gia cảnh ấy khiến Hạnh sớm giác ngộ về cuộc đời và xã hội, sớm tự lập, tự chủ trong cuộc sống vốn không ưu ái với gia đình và bản thân.

Đọc đến trường đoạn này tự nhiên mắt cũng cay cay, là bởi hoàn cảnh gia đình tôi vào độ có cơn đại hồng thủy 1954-1956, cũng na ná hoàn cảnh của gia đình Hạnh. Mẹ tôi mất sớm vào đúng cái năm hòa bình đến (1954). Bố tôi và gia đình tôi cũng bị cơn cuồng phong lịch sử thời kỳ ấy quăng quật, thiếu chút nữa là nghiền nát. Là một đảng viên từ thời kỳ khởi nghĩa 1945, bố tôi khi bị oan sai, oan khuất, cho đến khi được chiêu tuyết, rồi lâm chung ở tuổi bảy mươi, vẫn nhắc nhở anh em tôi, rằng nỗi đau đó không của riêng ai, là do lịch sử đung đưa, chệnh choạng khỏi quỹ đạo chân lý, đã động chạm và làm tổn thương đến nhiều người dân lương thiện nhưng chẳng may sa cơ lỡ vận. Nhưng bản thân mình sống tốt, có đức hạnh thì Trời Phật có mắt?! Sau này bảy anh em chúng tôi trưởng thành, đi trên con đường sáng, trở nên người tử tế và hữu ích càng tri ân bố mẹ đã giữ niềm tin vào chân – thiện – mỹ. Xét đến cùng, mỗi người như nhân vật Hạnh (suy rộng ra như thế hệ chúng tôi) đều là những thân phận khác nhau trong số phận lớn của nhân dân đông đảo, tử tế, vĩ đại, làm nên các giá trị thiện lành của cuộc đời này.

Học hành dang dở, chưa tốt nghiệp phổ thông (hệ mười năm), Hạnh xung phong đi bộ đội. Vì sức khỏe kém, lúc đầu không đủ tiêu chuẩn thực hiện nghĩa vụ quân sự, Hạnh đã viết đơn bằng máu và cả “gian lận” trong khám tuyển, cuối cùng anh cũng thỏa nguyện vọng khoác lên người bộ quân phục trở thành anh bộ đội Cụ Hồ. Với Hạnh lúc này “Chỉ có con đường vào bộ đội, vào Nam chiến đấu mới làm rạng danh gia tộc”, dẫu biết “Con đường phía trước là con đường máu lửa, nhưng cũng là con đường danh dự mà anh đã chọn”. Đây là sự dấn thân và lựa chọn của tuổi trẻ với tâm thế “Người ra đi đầu không ngoảnh lại/ Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy” (Đất nước – Nguyễn Đình Thi).

Tôi tham vấn tác giả đặt nhan đề tác phẩm là Đường sáng hẳn có ngụ ý sâu xa của nó. Cuộc đời lính trận của Hạnh (trọn chương 3) sặc mùi khói lửa, đạn bom, hy sinh được viết như những phóng sự đầy chất sống. Tuy nhiên, tâm lý độc giả là muốn đọc nhanh như những thước phim tài liệu chiến tranh. Họ muốn biết nhân vật Hạnh đã trải qua lửa đỏ và nước lạnh như thế nào, thép đã được tôi luyện như thế nào. Tác giả có vẻ như đã chia đều chất liệu và cảm hứng khi viết về cuộc sống trực chỉ nơi chiến trường của người lính chiến thực thụ – nhân vật văn học đáng yêu có tên Hạnh. Vì nhan đề tác phẩm là Đường sáng, nên con đường mà Hạnh đã chọn, đã trải qua chắc còn dài rộng, gian nan, đúng như một “con đường đau khổ” (khổ nạn đích lịch trình). Và bằng kinh nghiệm đọc văn học, độc giả biết (linh cảm thấy) Hạnh không thể hy sinh sớm, để lại nỗi thương tiếc khôn nguôi. Anh phải sống để đi đến đích cuối cùng trên con đường sáng mình đã tự nguyện chọn lựa.

Đường đời – những nỗi đoạn trường…

Năm 1980, Hạnh ra quân với quân hàm thiếu úy, khoác áo dân sự làm báo Minh Hải (Cà Mau). Ai đó nói có lý, nghề báo là nghề gian nan vất vả, đã đành, nhưng là nghề nguy hiểm, thực tế đã kiểm nghiệm, vì “lời nói đọi máu”. Rời bỏ khẩu súng, nay cầm bút cũng là một khẩu súng chữ, viết như một cuộc chiến đầu vì sự thật, công lý. Hạnh tâm niệm “Phải viết, phải nói thay tiếng nói của những con người thầm lặng kia để không ai còn bị lãng quên giữa vùng đất đầy bùn và gió”, “Viết để sống cùng dân, để soi sáng những nơi tối tăm nhất. Chỉ vậy thôi”. Cuối năm 1982, Hạnh được điều chuyển công tác sang Tòa án nhân dân tỉnh, vì ở báo Hạnh “viết thật quá”, nên động chạm những nơi, những người, những việc nhạy cảm?!

Từ chương 4-5, những đoạn trường của Hạnh thực sự là trọng tâm, trọng lực của tác phẩm. Chất đời dồn nén tối đa, xung đột tinh thần tập trung đỉnh điểm, nội tâm phân thân, cuộc đấu tranh với bản thân gay gắt và sâu sắc, đã khiến cho tiểu thuyết Đường sáng có cái nền móng, hơi thở văn hóa nên đã tôn tạo, kê cao, khắc sâu các vấn đề nhân sinh – đạo lý – thân phận con người trong một xã hội đang trở dạ. Vì suy cho cùng “Văn hóa là cách ứng xử” (cách sống cùng nhau). Làm báo nay làm luật, Hạnh đều trung thành với nguyên tắc “Luật chỉ là con đường. Nhưng người đi trên con đường ấy cần có trái tim”. Với bản tính trung thực, nên Hạnh đã nhận vào mình không ít khó khăn, hệ lụy. Nhưng dường như là định mệnh với anh “Thuyền cầu bão táp mưa sa/ Dường như giông bão mới là bình yên” (Con thuyền – Lermontov).

Bước ngoặt của đời Hạnh với “Những cánh cửa không đóng” (từ chương 5-6), khi anh chuyển sang viết về văn hóa, văn học nghệ thuật “Ở đó, không còn tiếng súng, tiếng dọa dẫm, mà là tiếng im lặng của nội tâm – thứ khó đối diện hơn cả hiểm nguy”. Từ nay gặt hái đầu ngọn bút của anh là những “mùa của chữ và lửa”, “Từ đó Hạnh bước sang một thế giới khác – thế giới chữ, nơi con người không bị vạch tội, mà được thấu hiểu”. Những truyện ngắn, bài thơ của anh nay chan chứa vị đời, lung linh và thấm đẫm niềm tin vào thiện lương ở con người, cuộc đời. Viết, bây giờ với Hạnh, như một cách thế tồn tại, như một sự phóng chiếu, thăng hoa. Hạnh đã thực sự hành đạo trên con đường sáng mà mình lựa chọn và dấn thân.

Vĩ thanh

Không thể nói đơn giản, nhân vật Hạnh chính là tác giả Nguyễn Văn Mạnh, “cha đẻ tinh thần” của nhân vật trung tâm với ý nghĩa là nguyên mẫu, hay là một “phiên bản văn nhân”, là nhà báo – nhà văn từng trải đời, trải nghề (năm 2024, Nguyễn Văn Mạnh được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam). Nhà văn có được cái uy quyền của người sáng tạo nên thế giới hiện thực ở tầng thứ hai. Tác phẩm Đường sáng được ghi thể loại là “Tiểu thuyết phi hư cấu”. Nhưng bất kỳ sự tưởng tượng, hư cấu nào (nếu có) cũng phải tựa vững trên nền hiện thực đời sống và con người. Vì ghi như thế nên người đọc hay so đo, căn chỉnh xem trường đoạn này, chi tiết kia có hiện thực hay không. Giá như, tôi nghĩ, tác giả cứ mạnh bạo ghi là tiểu thuyết như cách nhà văn Lê Lựu viết Thời xa vắng. Thì đã sao, ai dám bắt bẻ, vặn vẹo đâu là thật, đâu là bịa (vì “tiểu thuyết là một câu chuyện bịa y như thật”).

Dường như tác giả đã tự “biên tập” mình, khi viết, trước khi được biên tập?! Tác giả, cũng như người viết Lời tựa, là sản phẩm của thời bao cấp, nên cái căn tính ấy ám vào văn chương. Vì thế, nên cách viết cũng bao cấp tư tưởng – nói cho tận cùng ngõ ngách sáng rõ, cho tường minh chuyện cuộc đời vốn lắt léo, mù mờ, đôi khi tưởng đâu là mê lộ, mê cung. Một lần, tôi ngẫu nhiên đọc cuốn Lý thuyết tập mờ trong toán học, mới ngộ ra rằng, trong một ngành khoa học chính xác tuyệt đối đến từng centimet như toán học, mà còn có những vùng mờ (tập mờ) thì há trong văn chương không còn chỗ cho những vùng mờ?! Tuy nhiên, nói như thế không có ý phê bình tiểu thuyết Đường sáng của nhà văn Nguyễn Văn Mạnh tỏ tường, sáng rõ, quang minh chính đại quá, như dưới thanh thiên bạch nhật. Nên không còn khoảng lặng (tập mờ) cho độc giả tiếp tục đồng sáng tạo?! Ấy là nói từ phương diện lý tưởng. Tuy vậy, như cổ nhân nói “có hoa mừng hoa, có nụ mừng nụ”. Đọc xong Đường sáng của nhà văn Nguyễn Văn Mạnh, tỉnh trí ra, tôi nhận thấy trong đó có cả hoa, có cả nụ. Tôi tin nhiều người cùng nghĩ như thế.

Mọi lời bình dù có thấu đáo đến đâu cũng không thể thay thế được việc đọc trực tiếp tác phẩm. Vì thế, tôi tin tưởng sâu sắc vào việc đón nhận một văn bản nghệ thuật thành công từ mỗi độc giả thông minh, cũng có thể khó tính và cầu toàn, trên từng trang văn của Đường sáng.

Hà Nội, tháng 11.2025

B.V.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm