TIN TỨC

Làm người là khó… – Tiểu luận của Bùi Việt Thắng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-12-05 19:48:58
mail facebook google pos stwis
1045 lượt xem

Có một điều dường như rất giản dị, nhưng lại khó hơn người ta tưởng: “làm người”. Nhà phê bình Bùi Việt Thắng, qua tiểu luận "Làm người là khó…", khai mở ánh nhìn về thân phận con người trong những biến động lịch sử, khi nhân cách, danh dự và lẽ sống bị thử thách dữ dội. Bài viết không chỉ là một khảo sát văn học, mà còn là tiếng nói thức tỉnh, mời mỗi chúng ta nhìn lại chính mình, trước khi trông mong người khác hiểu mình. Văn chương TP.HCM trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

BÙI VIỆT THẮNG

Đọc xong Đường sáng của nhà văn Nguyễn Văn Mạnh, tỉnh trí ra, tôi nhận thấy trong đó có cả hoa, có cả nụ. Tôi tin nhiều người cùng nghĩ như thế.
 

Nhà phê bình Bùi Việt Thắng

“Đường sáng”, vì sao

Nhà văn Nguyễn Văn Mạnh (Trưởng ban Biên tập Tạp chí Diễn đàn văn nghệ Việt Nam) gửi tôi bản thảo tiểu thuyết phi hư cấu Món nợ danh dự, nhờ đọc và viết Lời tựa.

Về lý thuyết cũng như thực tiễn văn học, đang bảo chứng cho một khuynh hướng tạm gọi là dòng tiểu thuyết có yếu tố tự thuật, nhà văn Ma Văn Kháng thì xác định là “tiểu thuyết cái tôi”. Cách nay vài năm Tiến sỹ Đỗ Hải Ninh (công tác ở Viện Văn học, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam) đã ra sách chuyên khảo Tiểu thuyết có yếu tố tự thuật trong văn học Việt Nam đương đại. Những cuốn tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Thượng đế thì cười của Nguyễn Khải, Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng, Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn, Gia đình bé mọn của Dạ Ngân, Chuyện ngõ nghèo của Nguyễn Xuân Khánh,… đều đọc hấp dẫn vì tác phẩm có yếu tố tự thuật, dường như nhà văn tự kể chuyện mình, nên chân thật, chân thành. Con người/ người đọc thời nào cũng khao khát sự thật. Nên mới có câu được nhập tâm với người cầm bút “Nửa cái bánh mì là nửa cái bánh mì. Nửa sự thật là giả dối”. Nói hình tượng thì, nhà văn chân chính luôn có cái ý nguyện “nhúng bút vào sự thật”, khi viết. Đó là biểu hiện của khát vọng được thành thật.

Đọc trọn vẹn sáu chương bản thảo tiểu thuyết phi hư cấu Món nợ danh dự, khi được tác giả tin tưởng ủy quyền cho nhà phê bình đặt tên (nhan đề) cho “đứa con tinh thần” của mình, tôi nung nấu một cái tên gọn ghẽ chỉ hai chữ ĐƯỜNG SÁNG. Vì sao? Vì, con người ta sinh ra là có số phận, có đường đời (đường đi nước bước); người thì ba chìm, bảy nổi chín lênh đênh (“Bắt phong trần phải phong trần/ Cho thanh cao mới được phần thanh cao” – Nguyễn Du), người thì may mắn đường đời rải hoa hồng, người thì được “thánh nhân đãi khù khờ”,… Rốt cuộc, rồi ai cũng qua kiếp phong trần, lặn ngụp trong bể dâu, can qua. Tóm lại, ai ai rồi cũng phải trải qua “con đường đau khổ” (khổ nạn đích lịch trình). Từ nay Món nợ danh dự có tên khai sinh mới Đường sáng. Nhất quyết nó không phải là tự truyện hay hồi ký. Nó là tiểu thuyết phi hư cấu, như cách tác giả ghi danh thể loại, hay “tiểu thuyết có yếu tố tự thuật”, như giới nghiên cứu xác định, hoặc giả là “tiểu thuyết cái tôi”, thuộc kiểu gì cũng đều trúng và đúng. Nhưng thể loại, dẫu sao cũng chỉ là “xiêm áo”, quan trọng hơn cả là chính cái sinh thể được khoác lên xiêm áo bất kỳ – tác phẩm ấy với nội dung tư tưởng và nghệ thuật đặc sắc có neo lại được trong ký ức độc giả, có tạo nên những ám ảnh nghệ thuật sâu sắc và lâu bền, có gửi gắm được thông điệp nhân văn nào mới mẻ hay không. Cuối cùng đọc có hấp dẫn hay không?!

Làm người là khó (nhân chi nan)

Món nợ danh dự, nếu theo cách đặt tên tác phẩm ban đầu của tác giả, xét đến cùng cũng có cái lý, cái tình thâm hậu của nó. Nhưng sau khi trao đi đổi lại, tác giả và người viết phê bình thống nhất với cái tên mới Đường sáng, bởi nó khái quát hơn, tính biểu tượng cao hơn. Hạnh – nhân vật chính (xuất hiện từ chương 1 đến chương 6 – kết thúc tiểu thuyết) dung chứa chủ đề tư tưởng của tác phẩm – làm người là khó. Dẫu trong hoàn cảnh nào anh cũng phải sống, phải vượt lên, trưởng thành, lập công không phải để chuộc tội mà để chứng minh nhân cách, phẩm giá của mình.

Đại thi hào Đức thế kỷ XIX Goethe có nói, đại ý, con người ta có thể chết vì đói rét, vì cô đơn, song con người ta cũng có thể chết vì oan khuất. Nó là một nỗi đau dai dẳng và khốc liệt nhất cho đến khi hồn lìa khỏi xác vẫn chưa kết thúc. Mới mười tuổi, Hạnh còn là một cậu bé ham chơi hơn hết nhưng đã phải gánh trên vai nỗi oan khuất tựa thái sơn khi gia đình bị quy kết (sai) là địa chủ bóc lột, sau 2 năm thì được gột rửa thành “địa chủ kháng chiến”?! Mười tuổi thì mới chỉ là “Trẻ em như búp trên cành/ Biết ăn ngủ biết học hành là ngoan”. Vậy nhưng Hạnh sớm chịu trận, sớm thấm thía “Vừa cay đắng vừa kiêu hãnh mong muốn chứng minh rằng, mình không là kẻ hèn yếu”. Một mình mẹ một nách ba con nhỏ khi bố sớm khuất bóng. Người ta nói “thời thế tạo anh hùng” cũng có cái lý sâu xa của nó, trong khi chúng ta cứ đinh ninh “anh hùng tạo thời thế”?! Gia cảnh ấy khiến Hạnh sớm giác ngộ về cuộc đời và xã hội, sớm tự lập, tự chủ trong cuộc sống vốn không ưu ái với gia đình và bản thân.

Đọc đến trường đoạn này tự nhiên mắt cũng cay cay, là bởi hoàn cảnh gia đình tôi vào độ có cơn đại hồng thủy 1954-1956, cũng na ná hoàn cảnh của gia đình Hạnh. Mẹ tôi mất sớm vào đúng cái năm hòa bình đến (1954). Bố tôi và gia đình tôi cũng bị cơn cuồng phong lịch sử thời kỳ ấy quăng quật, thiếu chút nữa là nghiền nát. Là một đảng viên từ thời kỳ khởi nghĩa 1945, bố tôi khi bị oan sai, oan khuất, cho đến khi được chiêu tuyết, rồi lâm chung ở tuổi bảy mươi, vẫn nhắc nhở anh em tôi, rằng nỗi đau đó không của riêng ai, là do lịch sử đung đưa, chệnh choạng khỏi quỹ đạo chân lý, đã động chạm và làm tổn thương đến nhiều người dân lương thiện nhưng chẳng may sa cơ lỡ vận. Nhưng bản thân mình sống tốt, có đức hạnh thì Trời Phật có mắt?! Sau này bảy anh em chúng tôi trưởng thành, đi trên con đường sáng, trở nên người tử tế và hữu ích càng tri ân bố mẹ đã giữ niềm tin vào chân – thiện – mỹ. Xét đến cùng, mỗi người như nhân vật Hạnh (suy rộng ra như thế hệ chúng tôi) đều là những thân phận khác nhau trong số phận lớn của nhân dân đông đảo, tử tế, vĩ đại, làm nên các giá trị thiện lành của cuộc đời này.

Học hành dang dở, chưa tốt nghiệp phổ thông (hệ mười năm), Hạnh xung phong đi bộ đội. Vì sức khỏe kém, lúc đầu không đủ tiêu chuẩn thực hiện nghĩa vụ quân sự, Hạnh đã viết đơn bằng máu và cả “gian lận” trong khám tuyển, cuối cùng anh cũng thỏa nguyện vọng khoác lên người bộ quân phục trở thành anh bộ đội Cụ Hồ. Với Hạnh lúc này “Chỉ có con đường vào bộ đội, vào Nam chiến đấu mới làm rạng danh gia tộc”, dẫu biết “Con đường phía trước là con đường máu lửa, nhưng cũng là con đường danh dự mà anh đã chọn”. Đây là sự dấn thân và lựa chọn của tuổi trẻ với tâm thế “Người ra đi đầu không ngoảnh lại/ Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy” (Đất nước – Nguyễn Đình Thi).

Tôi tham vấn tác giả đặt nhan đề tác phẩm là Đường sáng hẳn có ngụ ý sâu xa của nó. Cuộc đời lính trận của Hạnh (trọn chương 3) sặc mùi khói lửa, đạn bom, hy sinh được viết như những phóng sự đầy chất sống. Tuy nhiên, tâm lý độc giả là muốn đọc nhanh như những thước phim tài liệu chiến tranh. Họ muốn biết nhân vật Hạnh đã trải qua lửa đỏ và nước lạnh như thế nào, thép đã được tôi luyện như thế nào. Tác giả có vẻ như đã chia đều chất liệu và cảm hứng khi viết về cuộc sống trực chỉ nơi chiến trường của người lính chiến thực thụ – nhân vật văn học đáng yêu có tên Hạnh. Vì nhan đề tác phẩm là Đường sáng, nên con đường mà Hạnh đã chọn, đã trải qua chắc còn dài rộng, gian nan, đúng như một “con đường đau khổ” (khổ nạn đích lịch trình). Và bằng kinh nghiệm đọc văn học, độc giả biết (linh cảm thấy) Hạnh không thể hy sinh sớm, để lại nỗi thương tiếc khôn nguôi. Anh phải sống để đi đến đích cuối cùng trên con đường sáng mình đã tự nguyện chọn lựa.

Đường đời – những nỗi đoạn trường…

Năm 1980, Hạnh ra quân với quân hàm thiếu úy, khoác áo dân sự làm báo Minh Hải (Cà Mau). Ai đó nói có lý, nghề báo là nghề gian nan vất vả, đã đành, nhưng là nghề nguy hiểm, thực tế đã kiểm nghiệm, vì “lời nói đọi máu”. Rời bỏ khẩu súng, nay cầm bút cũng là một khẩu súng chữ, viết như một cuộc chiến đầu vì sự thật, công lý. Hạnh tâm niệm “Phải viết, phải nói thay tiếng nói của những con người thầm lặng kia để không ai còn bị lãng quên giữa vùng đất đầy bùn và gió”, “Viết để sống cùng dân, để soi sáng những nơi tối tăm nhất. Chỉ vậy thôi”. Cuối năm 1982, Hạnh được điều chuyển công tác sang Tòa án nhân dân tỉnh, vì ở báo Hạnh “viết thật quá”, nên động chạm những nơi, những người, những việc nhạy cảm?!

Từ chương 4-5, những đoạn trường của Hạnh thực sự là trọng tâm, trọng lực của tác phẩm. Chất đời dồn nén tối đa, xung đột tinh thần tập trung đỉnh điểm, nội tâm phân thân, cuộc đấu tranh với bản thân gay gắt và sâu sắc, đã khiến cho tiểu thuyết Đường sáng có cái nền móng, hơi thở văn hóa nên đã tôn tạo, kê cao, khắc sâu các vấn đề nhân sinh – đạo lý – thân phận con người trong một xã hội đang trở dạ. Vì suy cho cùng “Văn hóa là cách ứng xử” (cách sống cùng nhau). Làm báo nay làm luật, Hạnh đều trung thành với nguyên tắc “Luật chỉ là con đường. Nhưng người đi trên con đường ấy cần có trái tim”. Với bản tính trung thực, nên Hạnh đã nhận vào mình không ít khó khăn, hệ lụy. Nhưng dường như là định mệnh với anh “Thuyền cầu bão táp mưa sa/ Dường như giông bão mới là bình yên” (Con thuyền – Lermontov).

Bước ngoặt của đời Hạnh với “Những cánh cửa không đóng” (từ chương 5-6), khi anh chuyển sang viết về văn hóa, văn học nghệ thuật “Ở đó, không còn tiếng súng, tiếng dọa dẫm, mà là tiếng im lặng của nội tâm – thứ khó đối diện hơn cả hiểm nguy”. Từ nay gặt hái đầu ngọn bút của anh là những “mùa của chữ và lửa”, “Từ đó Hạnh bước sang một thế giới khác – thế giới chữ, nơi con người không bị vạch tội, mà được thấu hiểu”. Những truyện ngắn, bài thơ của anh nay chan chứa vị đời, lung linh và thấm đẫm niềm tin vào thiện lương ở con người, cuộc đời. Viết, bây giờ với Hạnh, như một cách thế tồn tại, như một sự phóng chiếu, thăng hoa. Hạnh đã thực sự hành đạo trên con đường sáng mà mình lựa chọn và dấn thân.

Vĩ thanh

Không thể nói đơn giản, nhân vật Hạnh chính là tác giả Nguyễn Văn Mạnh, “cha đẻ tinh thần” của nhân vật trung tâm với ý nghĩa là nguyên mẫu, hay là một “phiên bản văn nhân”, là nhà báo – nhà văn từng trải đời, trải nghề (năm 2024, Nguyễn Văn Mạnh được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam). Nhà văn có được cái uy quyền của người sáng tạo nên thế giới hiện thực ở tầng thứ hai. Tác phẩm Đường sáng được ghi thể loại là “Tiểu thuyết phi hư cấu”. Nhưng bất kỳ sự tưởng tượng, hư cấu nào (nếu có) cũng phải tựa vững trên nền hiện thực đời sống và con người. Vì ghi như thế nên người đọc hay so đo, căn chỉnh xem trường đoạn này, chi tiết kia có hiện thực hay không. Giá như, tôi nghĩ, tác giả cứ mạnh bạo ghi là tiểu thuyết như cách nhà văn Lê Lựu viết Thời xa vắng. Thì đã sao, ai dám bắt bẻ, vặn vẹo đâu là thật, đâu là bịa (vì “tiểu thuyết là một câu chuyện bịa y như thật”).

Dường như tác giả đã tự “biên tập” mình, khi viết, trước khi được biên tập?! Tác giả, cũng như người viết Lời tựa, là sản phẩm của thời bao cấp, nên cái căn tính ấy ám vào văn chương. Vì thế, nên cách viết cũng bao cấp tư tưởng – nói cho tận cùng ngõ ngách sáng rõ, cho tường minh chuyện cuộc đời vốn lắt léo, mù mờ, đôi khi tưởng đâu là mê lộ, mê cung. Một lần, tôi ngẫu nhiên đọc cuốn Lý thuyết tập mờ trong toán học, mới ngộ ra rằng, trong một ngành khoa học chính xác tuyệt đối đến từng centimet như toán học, mà còn có những vùng mờ (tập mờ) thì há trong văn chương không còn chỗ cho những vùng mờ?! Tuy nhiên, nói như thế không có ý phê bình tiểu thuyết Đường sáng của nhà văn Nguyễn Văn Mạnh tỏ tường, sáng rõ, quang minh chính đại quá, như dưới thanh thiên bạch nhật. Nên không còn khoảng lặng (tập mờ) cho độc giả tiếp tục đồng sáng tạo?! Ấy là nói từ phương diện lý tưởng. Tuy vậy, như cổ nhân nói “có hoa mừng hoa, có nụ mừng nụ”. Đọc xong Đường sáng của nhà văn Nguyễn Văn Mạnh, tỉnh trí ra, tôi nhận thấy trong đó có cả hoa, có cả nụ. Tôi tin nhiều người cùng nghĩ như thế.

Mọi lời bình dù có thấu đáo đến đâu cũng không thể thay thế được việc đọc trực tiếp tác phẩm. Vì thế, tôi tin tưởng sâu sắc vào việc đón nhận một văn bản nghệ thuật thành công từ mỗi độc giả thông minh, cũng có thể khó tính và cầu toàn, trên từng trang văn của Đường sáng.

Hà Nội, tháng 11.2025

B.V.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm