TIN TỨC
  • Truyện
  • Lao xao xóm tre | Lê Ngọc Hạnh

Lao xao xóm tre | Lê Ngọc Hạnh

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-06-10 09:01:40
mail facebook google pos stwis
1780 lượt xem

CUỘC THI TRUYỆN NGẮN HAY 2022

LÊ NGỌC HẠNH

Chiều đó xóm tre xảy ra một vụ tai nạn. Thằng chạy chiếc Honda E-bờ-lách say xỉn, lạng vô lề đâm trúng người đàn ông và đứa trẻ 3 tuổi đang đi bộ, chết. Đứa 3 tuổi là bé Thỏ con Út Măng. Người đàn ông là Tư Tầm Vông, ba Út Măng. Vợ Út Măng mất con ngơ ngơ ngẩn ngẩn. Út Măng mất cha, mất con, mất luôn một… nửa hồn vợ! Cú tông xe của thằng say xỉn làm tan nát gia đình Út Măng…

*
Vợ Út Măng tên là Yên. Hai vợ chồng sinh được “cục vàng” là bé Thỏ. Ông Tư Tầm Vông cưng cháu nội như cưng cái trứng. Con nhỏ trắng bóc nên ông đặt tên Thỏ. Ông ưa bồng con bé ra đùng đưa võng ngoài vườn tre sau nhà. Tiếng võng kẽo cà kẽo kẹt, tiếng tre xào xạc, tiếng gió liu riu làm con nhỏ khoái cứ cười tít mắt, một chút thì ngủ ngon lành!

Đô thị hóa tràn về xóm tre. Tre dần thưa thớt nhường chỗ cho nhà cửa mọc. Xóm nhà nào còn bụi tre thì khoanh rào lại, có người còn nghĩ ra cách ghi một tấm bảng “Măng mới phun thuốc” đem cặm giữa lùm tre để trộm có muốn xắn cũng phải… suy nghĩ lại! Nhớ hồi xóm làng còn rợp bóng tre, mùa mưa măng nứt đất ngoi lên như nấm, dân xóm đi đồng về ngang bụi tre nào, thích cứ xắn mấy mục về làm bữa, thay rau.

Vườn tầm vông nhà Út Măng trồng mọc kiểu thuận theo tự nhiên. Mùa mưa cũng là mùa măng, mỗi năm đến mùa, vừa ăn, vừa cho, vừa bán, vừa để măng lớn thành tre. Tre già, ba Út Măng đốn, rồi lụi hụi đục, đẽo, cưa, gọt và kết quả là từ trong nhà ra đến sân, bàn, ghế, giường, tủ, hàng rào, cửa cổng toàn bằng tre hết.

“Tre là hồn cốt của cái xứ này. Mai mốt mà ba có trăm tuổi già, mày cũng đừng có bứng vườn tre này nghe, Út!”. “Bứng làm sao được mà bứng, mà bứng để làm chi, ba?”. Là Út Măng đang dự tính mở cái xưởng đóng bàn, ghế, giường, tủ và mấy vật dụng từ tre. Còn định lấy tên “Tư Tầm Vông” làm thương hiệu cho gần gũi thân thiện nữa kia mà!

Có một điều là nào giờ dân xóm tre không biết má Út Măng là ai? Chỉ biết hồi còn thanh niên, Tư Tầm Vông rời xóm tre đi bộ đội chiến trường Cam, xuất ngũ về làm công nhân Ty xây dựng ngoài thị xã. Bẵng một thời gian về lại xóm tre thì thấy dắt theo hai đứa nhỏ. Nghe đồn hồi sanh Út Măng xong, vợ Tư Tầm Vông bỏ đi. Chị Út Măng là Hai Trúc, làm nghề tráng bánh tráng. Bánh tráng xóm tre dẻo, ngon nức tiếng.

*
Những cơn lao xao cứ nổi lên không dứt, nên từ xóm đến chợ không ai thèm muốn măng của Út Măng nữa. Mấy bận chợ là mấy bận Út Măng lủi thủi xách măng về. “Thằng Út Măng nhìn mặt hiền từ vậy mà bất nhơn quá!”. “Tội nghiệp ông Tư Tầm Vông bị thằng con hành cho chết rồi, chết nữa…”. “Chị em thằng Măng chắc kiếm được bộn tiền…”. Một bữa xách măng qua nhà ông Bảy Tờn biếu, Út Măng bị ông già chửi tối tăm mày mặt: “Sao mày ác với ba mày quá vậy, Út? Tư Tầm Vông chết oan ức vậy mà mày còn cho người ta phanh thây nó ra nữa… Mày đem măng về ăn đi, tao biệt có thèm nữa…!”.

Kiểu nào thì ba cũng không thể sống lại. Bé Thỏ mới chào đời 3 mùa măng đã trở lại cõi vô hình. Yên vẫn mê mê, tỉnh tỉnh. Mất mát bấy nhiêu hình như cũng chưa đủ làm cho người ta thỏa mãn sự hiếu kỳ. Chắc là người ta muốn chị em Út Măng sống dở chết dở mới hả dạ! Có bữa chịu không thấu, Út Măng ra sau hè cuộn mình trong tấm võng mà ba hay đùng đưa bé Thỏ. Thanh âm tre xào xạc, lao xao, dễ chịu vậy mà, đâu có như tiếng người: “Thằng Út Măng bất nhơn!”. “Thằng Út Măng thất đức!”.

Miệng đời sao mà cay nghiệt quá!?

“Người ta chì chiết riết, Hai chịu hết xiết! Hay là Hai xuống nhà bác Ba một thời gian, vãng vãng Hai về, nhe Út?”. Một bữa, chị Hai than vãn với Út Măng vậy. Hai Trúc không trách cứ gì Út Măng, nhưng dân xóm cứ lao xao hoài, Út Măng sợ có bữa chị sẽ mê mê, tỉnh tỉnh, giống Yên, chắc Út Măng chết mất! Bác Ba có cơ sở may đồ gia công ở Bình Chánh. Mấy lúc đơn hàng nhiều, bác hay gọi chị xuống phụ năm bữa, nửa tháng. Út Măng nghe Hai Trúc tính vậy cũng xuôi tai.

Bữa chiều trời nhiều gió, Út Măng ra vườn phạch người trên chiếc giường tre, ngửa mặt nhìn trời qua mấy tán lá: “Ba linh thiêng về phù hộ cho chị em con, nghen ba?”. Gió tức thì cuộn lên, xô mấy tán tre nổi lên những cơn xào xạc. “Chắc ba nghe mình nói…”, Út Măng tự hỏi rồi lại tự an ủi mình vậy! Là bữa đó, lúc trời chưa hửng sáng, Út Măng đã đưa chị mình đi khỏi xóm tre.


Điều không thể mất – tranh sơn dầu – Nguyễn Lan Phương.

*
Người ta sẽ làm gì khi một người đàn bà chừng tuổi cha mẹ mình cầm một gói tiền to tướng đến nài nỉ để xin ký đơn bãi nại cho thằng con ngổ ngáo đã gây ra cái chết oan uổng cho những người thân họ bằng một cú tông xe bạt mạng? Mất mát quá lớn làm cho Út Măng thấy mình dường như cũng chai lì cảm xúc. Đến mức cảm giác căm hận thằng say xỉn đến thời điểm đó cũng không còn tồn tại. Út Măng hờ hững nhìn gói tiền, trong lòng chẳng nghe dấy lên một xúc cảm nào!

Út Măng đâu có ham tiền!

“Mình có vô cảm với bà ta quá không?”, Út Măng hay tự vấn lòng mình vậy mỗi khi nghĩ về người đàn bà phụ huynh thằng say xỉn. Từ ngày ba mất, Út Măng lại hay nghĩ về má. Người đàn bà làm Út Măng liên tưởng đến má.

Yên cứ lúc mê lúc tỉnh. Út Măng nghĩ ra cách mua một con búp bê, rồi mặc cho búp bê cái áo đầm màu hồng của bé Thỏ. Lúc Yên tỉnh, búp bê là búp bê. Lúc Yên lên cơn, búp bê là… “bé Thỏ”! Những lúc đó Út Măng cũng khóc, cười theo vợ.

Có ai thấu nỗi lòng của Út Măng chứ?

Ba Út Măng vốn kỹ tính, luôn đi đứng chậm rãi, cẩn thận. Bữa đó, ông dắt bé Thỏ đi quán mua gói bánh snack. Về sắp tới cổng nhà rồi, hai ông cháu bị thằng say xỉn tông cú bạt mạng từ phía sau, một phát, đập đầu xuống đường chấn thương sọ não. Bé Thỏ văng khỏi tay ông nội nằm lịm im trong đám cỏ ven đường.

Út Măng đang rong nhánh mấy bụi tre trước nhà, bỗng nghe tiếng rầm, rồi tiếng người xôn xao. Út Măng quăng rựa, chạy ra. Hai Trúc và Yên trong nhà cũng chạy ra. Yên nhào đến ôm bé Thỏ. Con bé đã mềm nhũn. Yên ngất! “Mẹ nó xỉu rồi! Đau lòng quá!”, tiếng ai đó nói. “Út, ráng lo cho ba nghen…”, lúc người ta sập cánh cửa xe cứu thương, Út Măng nghe tiếng chị mình với theo. Cố nhoài người nhìn lại, qua khung kính, Út Măng chỉ nhìn thấy những nhành hoa xuyến chi bên đường rung rinh, trắng ngát…

*
Đó cũng là lần đầu tiên Út Măng dám cãi lời bác Ba, tự mình quyết định một chuyện lớn. “Hai không dám… Út quyết đi!”. Bữa đó chị Hai cũng lưng chừng với Út Măng vậy. Đau lòng lắm, nhưng Út Măng thấy nên phải thế. Tâm trí Út Măng rối bời, muốn khóc mà không khóc được, nghe nước mắt cứ chảy ngược vào trong. Nghe có điều gì đó cứ thôi thúc, thôi thúc. Ý nghĩ xuất hiện vào cái lúc…

Út Măng không thể lý giải được!

“Người ta đụng ba mày chấn thương sọ não, đau nhiêu đó chưa đủ sao mày còn cho banh da xẻ thịt ổng thêm lần nữa mới chịu cho ổng “đi” ha, Út?”. Bữa đó, bác Ba giận, bỏ về ngay khi thấy Út Măng quyết định bước vào phòng ký giấy.

Liền sau đó, ba Út Măng được đưa lên bàn mổ…

Ranh giới giữa sự sống và cái chết tưởng xa mà gần quá. Vừa thấy đó đã mất đó. Chắc ba không giận Út Măng đâu. Ba từng kể Út Măng nghe nhiều về sự chết. Sự chết với ba nhẹ nhàng lắm. “Ba may mắn được sống trở về, chứ đồng đội ba bỏ xác lại chiến trường biên giới Tây Nam nhiều lắm!”. Bà nội thì hay nhìn ra xa xăm mỗi khi kể chuyện chiến tranh: “Xứ Tây Nam này hồi chiến tranh người ta chết bom, chết đạn không biết bao nhiêu mà kể xiết. Nhiều người chết không còn nguyên vẹn. Người mất đầu, kẻ mất tay, mất chân”. Bà nội kể hồi ông nội làm giao liên, bữa đó đang trên đường đưa công văn từ An Điền lên Rạch Bắp thì bị vướng trái. Ông nội chết cơ thể không lành lặn, người một nơi, cái chân văng một nẻo. Nhưng chuyện bà nội kể đi kể lại nhiều lần nhất mà cũng là chuyện Út Măng nhớ nhất là trận càn Xê-đa Phôn (Cedar Falls) hồi năm 1967. Cuộc san bằng bình địa 9 ngày đêm của quân xâm lược đã vùi lấp toàn bộ nhà cửa, mồ mả, vườn tược của người dân vùng “Tam giác sắt”, trong đó có mộ ông nội Út Măng. Đến sau giải phóng 20 năm, tận đến năm bà nội mất gia đình cũng chưa tìm mộ được để mà nhang khói.

*
Mới đó đã kỳ giỗ thứ tư. Những cơn lao xao ở xóm tre chưa dứt hẳn nhưng đã thưa. Cái hố bom bự chảng ngoài vườn tre sau hè hồi ba thả bèo, thả cá xuống đó nuôi; năm ba mất, một bữa sáng ra Út Măng thấy cá rủ nhau nằm phơi bụng kín mặt nước. Út Măng vớt cá gom lá đắp ủ làm phân, bơm hết nước dưới ao tưới vườn, rồi cặm mấy đoạn tre tàu xuống đó. Ngoảnh đi ngoảnh lại giờ măng, tre đã chen nhau chật kín.

Vừa cặm mấy nén nhang lên bàn thờ xong quay ra Út Măng nhìn thấy hai người khách lạ đứng nơi cửa. Một người phụ nữ chừng ngoài 50, vận áo trắng kín cổ, ôm một giỏ trái cây bọc giấy kính trong suốt. Người phụ nữ còn lại tóc ngắn, gương mặt tròn, vận áo sơ-mi đen, ôm giỏ hoa lan hai màu trắng, tím, thắt nơ rất đẹp. Hai vị khách đang đứng nhìn trân trân lên di ảnh ba Út Măng trên bàn thờ!

Yên ôm “bé Thỏ” đứng nơi góc phòng. Hôm nay Yên có vẻ tỉnh tuồng hơn mọi ngày. Hai Trúc từ nhà sau bưng lên thố cá kho đang bốc khói, sực mùi tiêu thơm ngát đặt vào giữa mâm cúng. Món cá kho mà hồi còn sống ba Út Măng rất thích. Bác Ba ngoài cửa đi vô gật đầu chào hai vị khách, đưa tay đón nhận giỏ trái cây của người phụ nữ áo trắng trịnh trọng đặt vào mâm cúng, xong lại quay ra đón nhận giỏ hoa của vị khách áo đen trang trọng đặt lên bàn thờ. Ngọn lửa từ chiếc đèn cầy đang cháy nhẹ bỗng rực lên một phát làm Út Măng giật mình!

Hai vị khách cùng giơ cao 3 nén nhang qua khỏi đầu. Mấy sợi khói mong manh lượn lờ thoảng mùi trầm hương làm cho gian phòng thêm phần ma mị. Bờ vai người phụ nữ áo đen bật bật run run lên từng hồi. Út Măng bỗng rùng mình, nghe cảm giác rờn rợn chạy dọc theo sống lưng. Lúc người phụ nữ áo đen cặm nhang xong quay ra, Út Măng thấy hai mắt bà đỏ hoe. Nhìn sang người phụ nữ áo trắng, Út Măng thấy bà cũng sụt sùi đưa một cánh tay lên chầm chậm nước mắt.

Út Măng lục lọi ký ức hôm đám tang ba. Hôm đó có vài khách lạ đến viếng mà Út Măng chưa từng biết mặt họ. Bỗng Út Măng nghe vỡ òa trong lòng. Một ý nghĩ vừa chợt xuất hiện trong đầu. Có khi nào một trong hai người phụ nữ này có một người là… má!? Út Măng vội xua đi cái suy nghĩ vừa chợt đến. Chẳng thể nào!?

*
Út Măng lớn lên đã không thấy má trong nhà. Chỉ có ba, bà nội và bác Ba. Năm Út Măng lên 15 tuổi thì bà nội mất. Bác Ba kể lúc má đẻ Út Măng chừng hơn tháng thì bỏ đi. Bên nhà ngoại chê ba là bộ đội nghèo, không cho má lấy ba. Bà ngoại ra điều kiện nếu má cãi lời bà ngoại sẽ tự vẫn. Bác Ba nói má cũng thương ba, nhưng sợ bà ngoại. Rồi má bỏ ba, bỏ hai chị em Út Măng đi biền biệt luôn…

Hồi còn bà nội, thi thoảng Út Măng cũng nghe bà nội nhắc mấy chuyện về má. Nội trách má tệ bạc, mấy chục năm không một lần tìm về thăm chồng, con. Nội thương Út Măng vì từ nhỏ tới lớn chưa biết mặt má. Có lần Út Măng nghe bác Ba nói chuyện với bà nội, có cô làm chung Ty xây dựng thương ba. Ba cũng thương cô đó, nhưng tính tới tính lui rồi ba ở vậy. Bác Ba nói chắc ba thương hai chị em Út Măng nhiều hơn nên không đi bước nữa. Cô đó chờ hoài không thấy ba ừ hử, buồn quá nên xin chuyển công tác. Những câu chuyện không đầu không cuối về má thi thoảng nghe người lớn nói chuyện làm Út Măng cứ không thôi suy nghĩ…

Hai vị khách vẫn không rời mắt khỏi bức di ảnh người quá cố trên bàn thờ. Bác Ba nhìn hai vị khách rồi nhìn Út Măng vẻ ngập ngừng… Yên đặt “bé Thỏ” lên ghế rồi lặng lẽ đến bàn thờ. Cô đưa tay sờ sờ lên di ảnh bé Thỏ một lát rồi từ từ rút mấy nén nhang…

Bác Ba bỗng cất tiếng:

- Mấy năm nay, cùng ngày này, cô Châu, cô Liên cũng cúng giỗ ba con…

Bất thình lình một con bướm từ ngoài cửa bay thẳng vào nhà. Út Măng rùng mình! Con bướm màu xám, chừng hơn nửa bàn tay. Bác Ba nhíu mày nhìn con bướm rồi nhìn lên bàn thờ. Con bướm lượn một vòng khắp gian phòng rồi đậu lên giỏ trái cây trên mâm cúng. Hai vị khách lật đật chắp tay xá xá. Chừng một phút thì con bướm lại bay lên, lượn thêm một vòng rồi bay lên bàn thờ, đậu lên nhành hoa lan màu tím.

“Là ba? Là hương hồn ba tác ý vào linh vật bướm?”. Út Măng không thuộc người duy tâm, nhưng từ ngày ba mất có nhiều chuyện xảy ra làm cho Út Măng cứ cảm giác như ba vẫn còn đang hiện hữu…

Yên tròn mắt nhìn con bướm đang nhấp nhấp đôi cánh trên nhành hoa, miệng cứ lắp ba lắp bắp: “Ba… ba… bé Thỏ… Thỏ…”. Út Măng vội bước đến ôm vợ, bóp nhẹ bờ vai đang run run của cô. Yên đang rất xúc động! Hình như cô cũng đang linh cảm điều gì đó…!

Út Măng quay ra nhìn hai người phụ nữ rồi lại nhìn lên con bướm trên bàn thờ. Mấy nén nhang hai vị khách vừa thắp cuốn tàn cong queo, Út Măng rùng mình! Thố cá kho giữa mâm cúng chỉ còn tỏa vài sợi khói mỏng yếu ớt. Đột nhiên bác Ba nhắc chuyện hôm ở bệnh viện… Đến cái đoạn Út Măng bước vào phòng ký giấy, bác Ba giận bỏ đi về thì… Trên bàn thờ con bướm đột nhiên bay lên, lượn 3 vòng khắp gian phòng rồi sà đậu lên vành thố cá kho lúc đó đã không còn tỏa khói. Út Măng lại rùng mình! Những cơn rùng mình cứ nổi lên liên tục mà Út Măng không thể nào ngăn được.

Út Măng đưa tay vỗ vỗ ngực đang thình thịch, thình thịch. Yên đứng ngây người quan sát sự di chuyển của con bướm xám. Út Măng chẳng bao giờ tin vào những điều thuộc về cõi vô hình nhưng sự xuất hiện của con bướm xám không thể làm cho Út Măng ngừng liên tưởng…

Người phụ nữ áo đen chợt lên tiếng:

- Suốt mấy năm nay, ngày nào tôi cũng cầu nguyện sẽ tìm được ân nhân. Mỗi hơi thở tôi đều nhớ đến ông ấy…

Bác Ba nhìn Út Măng định nói gì đó, nhưng lại thôi.

Bác Ba vẫn chưa giới thiệu rõ ràng danh tánh hai vị khách lạ!

*
Út Măng vỡ òa…

Tình cờ trong một buổi tiệc tất niên, một người phụ nữ đã từ chối lời mời rượu vì lý do vừa được ghép thận. Một người đàn ông cùng bàn nghe vậy hỏi thăm. Rằng, ông có người thân bị tai nạn, đã hiến tạng vào ngày… tháng… năm… Những thông tin tiếp tục được ráp lại, một cách rất trùng khớp.

Người đàn ông là bác Ba và người từ chối lời mời rượu là người phụ nữ áo trắng.

Út Măng xúc động quá!

Hai Trúc bưng mặt khóc!

Người phụ nữ áo trắng bước đến ôm Út Măng. Út Măng gục đầu lên bờ vai bà, nghe từng hơi thở, nghe từng nhịp tim đập. Út Măng cứ tưởng như ba đang ôm mình, nghe buồn vui cứ đan xen lẫn lộn. Lúc ngước lên Út Măng thấy bờ vai bà đẫm ướt, không hay nước mắt đã chảy tự khi nào!? Út Măng quay sang người phụ nữ áo đen, thấy bà đang vỗ về Yên. Yên đang khóc thút thít, thút thít…

Mới hiểu, sao lúc mới gặp Út Măng đã cảm giác hai vị khách thân quen, gần gụi lắm!

“Nhiều bệnh nhân đang sống trong sự chờ đợi… Sống từng ngày với hi vọng mong manh… Họ chờ đợi những nghĩa cử hiến tặng… từ thân nhân của những người sắp qua đời…!” – Út Măng nhớ lại lời vị bác sĩ ở Bệnh viện Chợ Rẫy hôm đó.

Con bướm màu xám nhấp nhấp đôi cánh 3 lần rồi vụt bay ra ngoài sân!

Có hai sự sống đã được hồi sinh sau mất mát lớn lao trong đời Út Măng. Hai vị khách này từng là bệnh nhân mắc chứng bệnh suy thận mãn, cách 4 năm trước đã được đưa lên bàn mổ cùng lúc với ba Út Măng để được ghép thận. Hai người phụ nữ đang mang trong mình một phần sự sống còn lại của ba Út Măng. Chiều đó, lúc Út Măng trên đường đưa ba “về” xóm tre, cũng là lúc hai người họ đang được “hồi sinh”!

Lúc đồng ý ký đơn hiến tạng ba, Út Măng chưa từng nghĩ sẽ bị miệng đời cay nghiệt. Càng không nghĩ sẽ có cuộc trùng phùng đầy cảm xúc diễn ra như thế này…

Có điều gì đó đang diễn ra thật thiêng liêng!

Út Măng nhìn ra ngoài sân. Con bướm xám đang lượn lờ quanh mấy bụi trúc ngoài rào.

Chiều đó, xóm tre lại nổi lên những cơn lao xao. Những cơn lao xao về một cuộc trùng phùng vừa xảy ra. Rất lạ!

Nguồn: Tạp Chí Văn Nghệ TP.HCM số 26.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mùa hoa gạo đỏ - Truyện ngắn Đặng Thị Phúc Hải
Tháng Ba ở làng Ngái không chỉ đơn thuần là một mùa đi qua. Đó là khoảng thời gian đất trời chạm vào nhau trong một vẻ đẹp hư ảo, khi dòng Kiến Giang trầm mặc như dải lụa xanh rêu, lặng lẽ ôm ấp linh hồn mảnh đất này trong vòng tay bao dung và miên viễn. Trong cái tiết trời giêng hai lất phất mưa phùn ấy, làng Ngái hiện ra như một bức họa thủy mặc đang chuyển mình tỉnh thức, nơi mùi hương nồng nàn của hoa xoan rắc tím những lối nhỏ ngoằn ngoèo, hòa quyện với hơi thở của đất ẩm và tiếng thở dài của những mùa cũ. Từ phía đình Ngái, nơi hai cây gạo già đã đứng đó qua bao mùa mưa nắng, sắc đỏ của những bông hoa gạo bắt đầu thắp lên giữa vòm trời, như những đốm lửa nhỏ âm thầm cháy trong ký ức của cả một làng quê. Ở làng Ngái, mỗi mùa tháng Ba về đều mang theo một nỗi bâng khuâng khó gọi thành tên. Dòng Kiến Giang vẫn chảy chậm rãi như thuở nào, mang theo những câu chuyện của đất, của người, và của những linh hồn từng rời đi nhưng chưa bao giờ thật sự rời khỏi miền ký ức này.
Xem thêm
Thương câu hát cũ – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
“Có những điều không còn ở lại giữa đời, nhưng câu hát cũ thì vẫn ở lại trong lòng người.”Dưới bến phà cũ của một thị trấn ven sông Hậu, người ta quen nhìn thấy con nhỏ Hai Thương ôm cây đờn kìm đi qua mỗi buổi tối. Nó không phải nghệ sĩ nổi tiếng gì, chỉ là đào trẻ của một đoàn cải lương tỉnh lẻ, vậy mà bước chân lúc nào cũng ngay ngắn, như thể sàn đất quê mình chính là sân khấu lớn. Hai Thương sinh ra trong một gia đình có truyền thống ca tài tử. Ngoại nó từng ca vọng cổ trong những đêm cúng đình, giọng trong và cao vút. Má nó theo đoàn hát mấy năm tuổi trẻ, sau lấy chồng rồi nghỉ. Ba nó làm nghề vá lưới, ít nói, nhưng mỗi lần nghe ai mở bản Dạ Cổ Hoài Lang là ngồi im lặng rất lâu. Trong căn nhà lợp tôn nóng hầm hập buổi trưa, tiếng đờn và tiếng ca là thứ âm thanh quen thuộc như tiếng gà gáy sáng.
Xem thêm
Câu cua – Truyện ngắn Lê Văn Tám
Sơn bơi xuồng về, nó ấm ức lắm vì ông Giáo keo kiệt không cho anh em nó mượn cái bình, bình ac quy Đồng Nai nhà nó hết điện đem đi sạc hôm qua, nhanh thì cũng phải hai hôm nữa mơi đủ điện lấy về. Tức lắm, sau này đi học điện, kéo điện về sài cho đã, mua cái tivi màu 50 in coi cho thấy cả cỏ trên sân, thấy cả lông chân cầu thủ, khỏi tivi trắng đen, nạp bình chi cho mệt người. Nó làu nhàu nói với Thành.
Xem thêm
Cát lư hương - Truyện ngắn Lệ Hằng
“Ba, ba… ơ kìa ba!”. Cánh cổng bị chiếc xe va trúng kêu xoảng lên một tiếng khó chịu vô cùng. Tôi nhìn người đàn ông lưng khòm gầy guộc quẩy chiếc nón đội lên đầu rồi dứt khoát đẩy xe cát ra khỏi sân mà chới với gọi theo.
Xem thêm
Đi qua mình truyện ngắn Chu Phương Thảo
Căn nhà nhỏ chìm trong một thứ im lặng quen thuộc đến mức không còn ai đủ sức gọi tên. Không tiếng cãi vã, không lời trách móc, cũng chẳng có một câu xin lỗi hay chia tay nào để khép lại những điều đã nứt vỡ từ rất lâu. Chỉ có hai con người, mỗi người ngồi trong phần tối của riêng mình, lặng lẽ chịu đựng một nỗi đau khác biệt, như thể sự im lặng này đã trở thành cách duy nhất để họ còn có thể ở lại bên nhau.
Xem thêm
Trở lại Phong Điền - Truyện ngắn Kim Quyên
Xe đang qua cầu Cần Thơ. Cây cầu thế kỷ lừng lững soi bóng trên dòng nước bạc mênh mang, những chiếc dây giăng khổng lồ nối từ nóc xuống thân cầu khiến ta không thể hình dung được khối óc và bàn tay con người đã làm nên những chiếc cầu đẹp, hiện đại mang tầm cỡ thế giới. Ban đêm, chiếc cầu mới khoe hết những nét rực rỡ của nó, đèn hoa giăng quanh cầu nhấp nháy khiến khi ngồi trên xe ta có cảm giác đang trôi trên dãy ngân hà của thời hồng hoang nào đó. Phía dưới là dòng sông mênh mông sóng vỗ, những cụm lục bình trôi mãi về nơi chân trời xa tít…
Xem thêm
Cố nhân - Truyện ngắn Cao Duy Sơn
Trở về Cô Sầu, anh đã đi qua hai mươi ba năm, ba tháng, hai mươi ba ngày. Đuôi các con số kết bằng con số ba trùng hợp thật ngẫu nhiên. Bước qua phố nhỏ, mái ngói tuềnh toàng gợi bao ký ức. Thời gian làm con người đổi thay nhưng phố xưa vẫn phố xưa đây.
Xem thêm
Rừng Thiêng - Truyện ngắn Võ Đào Phương Trâm
Rừng mang linh hồn từ máu và nước mắt, những lời nguyền kỳ bí không ít lần vận lên ngôi mộ của những gã ngông nghênh, hằn sâu ấn tích cho những ai vắt cuộc đời mình bằng nghề lộc gỗ mà không hiểu được nguyên tắc từ nơi rừng thiêng nước độc...
Xem thêm
Linh hồn bị giam cầm – Truyện ngắn Angela Kosta
Angela Kosta sinh ra tại Elbasan (Albania) và sống tại Ý từ năm 1995. Bà là Giám đốc điều hành của các Tạp chí: MIRIADE, NUANCES ON THE PANORAMIC CANVAS, BRIDGES OF LITERATURE, biên tập viên, nhà viết tiểu luận, nhà báo, nhà phê bình văn học, nhà xuất bản và nhà quảng bá văn học. Bà đã xuất bản 25 cuốn sách: tiểu thuyết, thơ và truyện cổ tích bằng tiếng Albania, tiếng Ý, tiếng Ả Rập, tiếng Pháp, tiếng Hàn, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh. Tác phẩm của Angela Kosta đã được dịch và xuất bản ở 40 ngôn ngữ nước ngoài và quốc gia. Năm 2023, tạp chí OBELISK tuyên bố bà là dịch giả xuất sắc nhất với bản dịch của nhà thơ đoạt giải Nobel Giosuè Alessandro Giuseppe Carducci.
Xem thêm
Genki và chiếc nắng trước hiên – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
Chiều ấy, nắng chạm rất khẽ vào lưng Genki. Cái bóng của nó in xuống nền gạch. Hơi méo, hơi lệch nhưng rất rõ một cái bóng đủ đầy. Tôi chợt hiểu: con người ta, cả đời đi tìm hai chữ “hoàn hảo”. Nhưng có lẽ, điều đáng quý hơn là “toàn vẹn”. Toàn vẹn trong chính hình dạng của mình. Toàn vẹn trong những gì mình có, chứ không phải trong những gì mình thiếu. Genki không dạy tôi cách trở nên mạnh mẽ, nó dạy tôi cách trở nên dịu dàng với chính mình.
Xem thêm
Như xuân tìm xứ – Truyện ngắn của Tống Phước Bảo
Thằng Ấu nhất quyết chỉ có cha già xuôi ghe từ Cái Rơn xuống chợ đèn dầu mỗi cuối tuần mới biết. Chứ hỏi khắp cái chợ thì ai cũng lắc đầu nguầy nguậy. Đám bán chợ này sinh sau đẻ muộn, khi mà trái sáng đã thôi rơi ngoài phía rạch, hỏa châu thôi làm đèn soi đêm khu bốn.
Xem thêm
Tôi viết truyện ngắn Tết - Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều
Một buổi chiều khi chị đang tha thẩn trong vườn bên những khóm hoa hồng thì Giêm bước đến và nói gì đó nhưng chị không hiểu. Chị vô cùng lúng túng và khó chịu. Chị muốn bỏ vào nhà. Nhưng thấy Giêm vẫn hào hứng nói chị không lỡ bỏ đi. Đang lúc chị không biết làm cách nào thì chàng nhà văn trẻ xuất hiện. “Cậu làm gì mà mất mặt cả chiều thế. Cậu có nhiệm vụ làm phiên dịch cho chúng tôi đấy’’. Chị gắt một cách vô lý. Hình như Giêm cũng rất mừng khi chàng nhà văn trẻ xuất hiện. Giêm nói một tràng dài. Chị muốn biết Giêm nói gì nhưng không giục chàng nhà văn trẻ dịch. “Tôi cũng không có nhu cầu nghe’’. Chị nói thầm. “Anh ấy bảo nhà anh ấy cũng có một khu vườn nhỏ và đầy hoa hồng – Chàng nhà văn trẻ dịch – Một năm sau khi từ chiến trường Việt Nam trở về, anh ấy bị trầm cảm.
Xem thêm
Người giỏi Sán Trá - Bút ký của Thế Quynh
Vượt dốc Bản Công, chiếc xe Honda Win 100 chạy ì ì, tiếng máy gằn lên nặng nhọc. Ngồi sau tay lái Hờ A Xà - nguyên cán bộ văn hóa xã Bản Công (nay là xã Hạnh Phúc) mà lòng tôi cứ thấp thỏm mỗi lúc vào cua. Hơn chục km, phân nửa thuộc thôn Bản Công đã bê tông hóa, còn lại vẫn là đường đất.
Xem thêm
Con Ngọ và tôi - Truyện ngắn Kim Quyên
Năm đó, con Ngọ 16 tuổi, còn tôi hơn nó 2 tuổi. Nó con ông cậu, em ruột của má tôi nên nó kêu tôi bằng chị. Gia đình bên ngoại nó không có dì cậu nào hết nên nó xem tôi như người chị ruột. Hai chị em gặp nhau là tíu tít không rời.
Xem thêm
Người cận vệ của vua Hàm Nghi - Truyện ngắn của Trần Thúc Hà
Một người ở xuôi thường lên xuống các bản làng dân tộc thiểu số bán muối và mua các sản vật của rừng. Người ấy cũng đã có vài lần đến bản ông, một bản làng tận rừng sâu heo hút trên dãy Trường Sơn, nơi thượng nguồn sông Long Đại, sông Nhật Lệ, sát biên giới với nước Lào.
Xem thêm
Mây trắng Tràng An – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Từng dải dài lững lờ như tơ trời vắt qua bầu không gian xám nhạt. Có cụm mây xốp như gấm, có mảng mây mỏng như làn khói, có vệt rời rạc như hơi thở cuối cùng của một người hấp hối. Tất cả trôi, không âm thanh, không phương hướng. Trôi như đã trôi ngàn năm trên trời đất Tràng An này.
Xem thêm
Hoa vẫn nở - Truyện ngắn của Nguyễn Thị Minh Phương
Hoa vẫn nở của Nguyễn Thị Minh Phương là một truyện ngắn thấm đẫm không khí miền núi, nơi bi kịch gia đình, thân phận người đàn bà và sự mù quáng của lòng ghen được kể lại bằng giọng văn chậm, sâu và nhân ái.
Xem thêm
Khai khẩu - Truyện ngắn của Nguyễn Trường
Lúc đó khoảng 9 giờ sáng, một người lính tìm gặp Diệu Thúy, trao cho cô lá thư, nói là của ngài Trung tá tỉnh trưởng Kiến Hòa.Diệu Thúy hồi hộp mở thư ra đọc: “Gửi cô Diệu Thúy. Việc cô nhờ tôi đã có kết quả, đúng 11 giờ trưa nay, cô đưa cậu Hai đến dinh tỉnh trưởng, phải đúng giờ”. Bức thư làm Diệu Thúy hiểu và bắt đầu lo. Bởi vì, kể ra cô cũng liều thật, bây giờ ngài trung tá tỉnh trưởng làm được theo lời khẩn cầu của cô, nghĩa là cô phải đáp đền những đề nghị của ngài, mà cái đề nghị đó mới oái oăm làm sao.
Xem thêm