TIN TỨC

“Lửa từ bi” trên hành trình thơ của Vũ Hoàng Chương

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-11-03 00:25:57
mail facebook google pos stwis
2390 lượt xem

(Kỷ niệm 90 năm Phong trào Thơ mới, 1932-2022)

Vũ Hoàng Chương xuất hiện trên thi đàn sau khi những tên tuổi lớn của Phong trào Thơ mới như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Xuân Diệu… đã đi qua thời đỉnh cao. Ông xuất hiện với một giọng thơ lạ: vừa cổ kính xưa cũ vừa hiện đại đến táo bạo; vừa thanh cao phiêu dật vừa nhục thể đến trần trụi rã rời…

Ông tự nhận và cũng được không ít người xưng tụng là “Ông hoàng thơ ca”, bậc “Thi vương” (Hoàng Chương), “Thi bá”… Trước 1945 ông có Thơ say (1940), Mây (1943). Trong kháng chiến ông có Thơ lửa (1948), Rừng phong (1954). Sau 1954 ông có Hoa đăng (1959), Trời một phương (1962), Lửa từ bi (1963), Ánh trăng đạo lý (1966), Bút nở hoa đàm (1967), Cành mai trắng mộng (1968), Ngồi quán (1971), Chúng ta mất hết chỉ còn nhau (1973)…

Dõi theo hành trình thơ của Vũ Hoàng Chương ta thấy có nhiều thay đổi, trong đó có khúc quanh quan trọng là việc cho ra đời tập thơ Lửa từ bi – một tập thơ được viết ra từ ánh sáng ngọn lửa tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức trong cuộc đấu tranh vì tự do, hòa bình, vì Phật pháp và vì dân tộc.

Nhà thơ Vũ Hoàng Chương

 

  • VŨ HOÀNG CHƯƠNG TỪ “THƠ SAY” ĐẾN “LỬA TỪ BI”

Từ Say (Thơ say) đến Mộng (Mây)

Vũ Hoàng Chương xuất hiện với những vần thơ say – có cái say từ thiên cổ theo kiểu “túy hậu cuồng ngâm”, say để phát lộ tính tình, nhưng cũng có cái say của thời hiện đại, ở những đô thị mới mẻ, náo nhiệt mà cũng không thiếu trụy lạc của thời thực dân. Bài thơ Say đi em mở đầu tập Thơ say là bài thơ mang nhịp điệu mới mẻ ấy. Người thơ say nhạc, say khiêu vũ, say rượu và say với giai nhân:

   Khúc nhạc hồng êm ái

     Điệu kèn biếc quay cuồng.

     Một trời phấn hương

     Đôi người gió sương

(…) Âm ba gờn gợn nhỏ,

     Ánh sáng phai phai dần…

     Bốn tường gương điên đảo bóng giai nhân,

     Lui đôi vai, tiến đôi chân:

     Riết đôi tay, ngả đôi thân,

     Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió,

     Không biết nữa màu xanh hay sắc đỏ,

     Hãy thêm say, còn đó rượu chờ ta!

Say để quên đi mối Sầu – một mối Sầu nào đó người thơ không nói rõ, nhưng cơ hồ lớn lắm, như bức thành sừng sững mà cái say rã rời cũng không làm cho nó sụp đổ được:

   Say đi em! Say đi em!

     Say cho lơi lả ánh đèn,

     Cho cung bực ngả nghiêng, điên rồ xác thịt

     Rượu, rượu nữa và quên, quên hết!

(…) Chân rã rời

     Quay cuồng chi được nữa,

     Gối mỏi gân rơi!

     Trong men cháy giác quan vừa bén lửa.

     Say không còn biết cho đời,

     Nhưng em ơi,

     Đất trời nghiêng ngửa

     Mà trước mắt thành Sầu chưa sụp đổ

     Đất trời nghiêng ngửa,

     Thành Sầu không sụp đổ, em ơi!(1)

Bài Say đi em mở đầu tập thơ mà như bài tựa, nó gồm thâu hết cái say trong cả tập thơ. Ẩn chứa sau cái say ấy là mối sầu vạn cổ như trong thơ xưa, mà cũng pha chút đắng cay thân phận của một người dân thuộc địa.

Người thơ sẽ nói rõ hơn, thảm hại hơn về cái thân phận ấy ở nhiều bài thơ sau, mà ấn tượng nhất là bài Phương xa:

     Lũ chúng ta lạc loài năm bảy đứa,

     Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh,

     Bể vô tận xá gì phương hướng nữa,

     Thuyền ơi thuyền! theo gió hãy lênh đênh.

 

     Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ.

     Một đôi người u uất nỗi bơ vơ,

     Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị,

     Thuyền ơi thuyền! xin ghé bến hoang sơ.

Thế nhưng nhổ thuyền đi đâu, trốn ở bến bờ nào được? Người trốn vào ái tình bẽ bàng với những cô gái môi nâu vì thuốc phiện:

     Hãy buông lại gần đây làn tóc biếc,

     Sát gần đây, gần nữa cặp môi nâu

     (…) Hãy buông lại gần đây làn tóc rối

     Sát gần đây, gần nữa cặp môi điên,

     Rồi em sẽ dìu anh trên cánh khói,

     Đưa hồn say về tận cuối trời Quên.

Quên (Thơ Say)

Trong những cơn say rượu và thuốc phiện, người thơ mơ trốn lên Thiên Thai, Đào Nguyên… nhưng động xưa đã khép, “Đào Nguyên lạc lối” không tìm được nữa! Người tìm vào những mối tình học trò với những U tình, Cánh buồm trắng, Vườn tâm sự, Em là công chúa… Nhưng tình học trò dù có thiết tha đến mấy dường như cũng quá nhạt với người! Người tìm vào những giấc mộng tình yêu với hồ ly, gái liêu trai… với phức cảm vừa rùng rợn lại vừa đắm say:

    Gạn giấc chiêm bao với mảnh hình

     Tóc xòa buông rủ mái tròn xinh.

     Hoa mai thêu trắng nền xiêm lụa,

     Đôi mắt ngời sao miệng đẫm tình.

 

     Lòng cháy yêu đương tự bấy giờ,

     Sá chi người thực với trong mơ!

     … Đêm đêm ảo ảnh thơm chăn gối,

     Tình hướng về Đông, dạ lắng chờ.

                      Tình Liêu Trai (Mây)

Thế nhưng Tình Liêu Trai cũng chỉ Mộng. Đôi khi người sực tỉnh, một niềm xót xa thân phận và một niềm khao khát hành động lại ùa về:

  Ôi! Lòng ta sao buồn không nguôi?

     Niềm u uất dâng cao hề tháng ngày trôi xuôi.

     Há vì cơm áo chẳng no lành?

     Há vì đời không ai mắt xanh?

 

     Nhớ thuở xưa chưa có ta hề đường đi thênh thênh

     Kịp tới khi có ta hề chông gai mông mênh.

     Cuồng vọng cả mà thôi, bốn phương hề vướng mắc.

     Ba mươi năm trên vai hề trống không bình sinh…

                                                           Túy hậu cuồng ngâm

Bài thơ Túy hậu cuồng ngâm cuối tập thơ Mây có một giọng khác lạ so với những bài thơ trước, nhưng theo tôi nó vẫn là một phần máu thịt trong hồn thơ Vũ Hoàng Chương. Bài thơ như một sự tỉnh mộng, nhưng từ một góc nhìn khác lại cũng là chìm vào giấc mộng: giấc mộng hành động, giấc mộng anh hùng!

Từ Mộng đến với Hành động và Sân hận

Từ Vũ Hoàng Chương của Túy hậu cuồng ngâm đến Vũ Hoàng Chương của Thơ lửa do Hội Văn hóa Liên khu 3 ấn hành 1948 thì gần lắm rồi, chỉ một bước chân qua bên kia là “Vùng tự do” (vùng kháng chiến) là tới. Như chính Vũ Hoàng Chương bộc bạch: “Tự biết mình là một người dân vong quốc, tôi rất kính trọng Kháng chiến và cảm phục Cách mạng. Sự cảm phục và kính trọng này đã khiến cho tôi giác ngộ được phần nào, và tự hứa sẽ tích cực tham dự công cuộc chung của nhân dân do Hồ Chủ tịch lãnh đạo”(2).

Tập thơ “Lửa từ bi” của Vũ Hoàng Chương

Trong kháng chiến, Vũ Hoàng Chương chuyển hướng thành một nhà thơ ái quốc nhiệt thành và say mê hành động, như chính trong văn bản trên, ông đã kể về những hoạt động của mình:

“- đã viết được vở kịch thơ Hồn Cách mạng, diễn tại Nhà Hát Lớn Hà Nội (1946)

– đã được giải thưởng thứ 3 về thơ Toàn quốc kháng chiến, do đích thân Hồ Chủ tịch làm chủ khảo (1947)

– đã được hội Văn hóa Liên khu 3 ấn hành cho tập thơ kháng chiến nhan đề Thơ lửa (1948)

– đã viết đều ở báo Công Dân tại tỉnh Nam Định (1947, 48)…

– đã được bầu làm trưởng nhánh Văn chương Báo chí của hội Văn nghệ chi nhánh Liên khu 3 (1948)…”(3).

Vì thế chúng ta không hề ngạc nhiên khi đọc bài thơ Nhớ về Hà Nội vàng son của ông viết năm 1947 – bài thơ có một giọng điệu trong sáng, hào hứng hiếm có. Theo tôi, đây là một trong những bài thơ hay nhất viết về Cách mạng tháng Tám:

Ôi ngày mười chín, ngày oanh liệt!

Sóng đỏ hoa vàng khắp bốn phương

Hà Nội tiếng reo hò bất tuyệt

Vang sang bờ nọ Thái Bình Dương.

Ba mươi sáu phố, ngày hôm ấy

Là những nhành sông đỏ sóng cờ

Chói lọi sao vàng, hoa vĩ đại

Năm cánh hoa xoè trên năm cửa ô (…) 

 

Chen tiếng hoan hô, này khẩu hiệu

Muôn năm Chủ tịch Hồ Chí Minh!

Muôn năm người lính già tiêu biểu

Vì giang sơn quyết bỏ gia đình.

 

Ôi ngày mười chín, ngày sung sướng!

Vạn ước mong dồn một ước mong!

Ôi mùa thi ấy, mùa tin tưởng!

Một tấm lòng mang vạn tấm lòng (…) 

Thế nhưng rồi Vũ Hoàng Chương lại đi đến một khúc quanh khác: năm 1950, ông bỏ về Hà Nội, rồi từ Hà Nội ông di cư vào Nam năm 1954. Thơ Vũ Hoàng Chương từ sau 1954 là nỗi hoài niệm về Hà Nội, về quê hương miền Bắc. Được chiều chuộng trong không gian văn nghệ bên kia bờ Hiền Lương, ông trượt đi trong nghịch cảnh. Với những tập Hoa đăng (1959), Trời một phương (1962)… thơ ông mang nặng nỗi niềm u uất và cả sân hận… Đọc những bài thơ như Bài ca Bình Bắc, Nhớ Thăng Long, Từ đây, Nhớ Bắc… người ta thấy rất nhiều ảo tưởng, rất nhiều hoang tưởng và nhất là rất nhiều sân hận. Nhưng mà thôi, với thi sĩ thì nói đến sân hận làm gì! Nguyễn Du chẳng đã từng nhắc chúng ta: “Thân tàn gạn đục khơi trong/ Là nhờ quân tử khác lòng người ta”?…

  • ĐẾN VỚI TỈNH THỨC, TÌNH YÊU TRONG “LỬA TỪ BI”

Chế độ Ngô Đình Diệm đã không đem lại tự do, hòa bình, thống nhất như có thời Vũ Hoàng Chương từng ảo tưởng. Chế độ ấy thi hành chính sách kỳ thị tôn giáo, cấm đoán Phật giáo – một tôn giáo thân thiết gắn bó với dân tộc hơn nghìn năm nay. Chế độ ấy mở cửa đất nước cho quân đội ngoại bang vào dày xéo quê hương. Hòa bình, thống nhất trở nên xa vời, thảm họa của cuộc chiến tranh tàn khốc nhất trong lịch sử dân tộc đang đến rất gần… Ngày 11 tháng 6 năm 1963, Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu. Hòa thượng bình thản ngồi trong khối lửa, nhưng cả thế giới thì rúng động trước sức nóng của khối lửa ấy.

Trong bối cảnh ấy, Vũ Hoàng Chương đã nhận ra bộ mặt thật của chế độ và nghịch cảnh của dân tộc, nhà thơ đã đi đến một khúc quanh mới: ông từ bỏ những vọng tưởng và sân hận mà thức tỉnh đi đến với Tình yêu – tình yêu Tự do, Hòa bình, tình Anh em và tình Nhân loại. Bài thơ Lửa từ bi và cả tập thơ cùng tên là minh chứng cho khúc quanh đó.

Vũ Hoàng Chương cũng xác quyết về khúc quanh này trong Lời tựa tập Lửa từ bi: “Những bài thơ trong tập này nhằm ghi lại một nguồn cảm hứng mới của tác giả, khơi dậy trong lòng cuộc tranh đấu của Phật giáo đồ Việt Nam, khoảng năm 2.507 Phật lịch (từ 15 tháng Tư đến 15 tháng Chín), tức là năm 1963 d.l.”(4).

Trong không khí đàn áp Phật giáo khốc liệt của năm 1963, bài thơ Lửa từ bi đã ra đời một cách khó khăn. Lúc đầu bài thơ bị tòa báo từ chối, sau nó được in dạng quay ronéo như truyền đơn, và sau đó mới được xuất bản trong tập thơ Lửa từ bi cùng 14 bài thơ khác. Tác giả kể: “Bài Lửa từ bi gửi đăng nhật báo Tự do Saigon ngày 28/7/63 bị kiểm duyệt bỏ trọn, đã được văn phòng Chùa Xá Lợi, ngay sau đó, quay thành những bản “Ronéo” và phổ biến nhân ngày Chung thất của Bồ Tát Quảng Đức. Bài Người với người được đăng trên nhật báo Tự do ngày 18/8/63 chỉ bị kiểm duyệt bỏ 10 chữ. Sau đấy, Chùa Xá Lợi bị cường quyền xâm phạm, nhật báo Tự do cũng bị đình bản, tác giả không còn phương tiện nào khác để phổ biến thơ của mình ngoài cách truyền tay trong số các bạn thân tín”(5).

Tập thơ được xuất bản, nhưng không phải bởi một nhà xuất bản có uy tín nào, mà do Đoàn Thanh niên tăng ni – một tổ chức đấu tranh cho Phật giáo đứng ra in. Giấy in xấu, bìa vẽ vội, xuất bản rất nhanh – chỉ 3 tháng sau khi Hòa thượng chịu pháp nạn: tháng 9 năm 1963. Thế nhưng tập thơ này lại trở thành tập thơ hay nhất của Vũ Hoàng Chương sau Thơ say.

Bài thơ bắt đầu bằng cảnh tượng Hòa Thượng Thích Quảng Đức tọa thiền trong tòa sen lửa. Ngọn lửa thì ngùn ngụt bốc lên, còn chúng sinh với xác phàm và tâm trần khổ đau thì quỳ xuống. Ngọn lửa của Hòa thượng cháy lên thành một mặt trời thứ hai:

Lửa! lửa cháy ngất tòa sen!

tám chín phương nhục thể trần tâm

hiện thành THƠ, quỳ cả xuống.

Hai Vầng – Sáng rưng rưng

Đông Tây nhoà lệ ngọc

chắp tay đón một Mặt-trời-mới-mọc,

ánh Đạo – Vàng phơi phới

đang bừng lên, dâng lên(6)

Hòa thượng thiêu mình không phải bằng cái tâm sân hận, mà Người tận hiến cuộc sống của mình từ tình thương và lòng từ bi:

Thương chúng sinh trầm luân bể khổ,

NGƯỜI rẽ phăng đêm tối đất dày

bước ra, ngồi nhập định, hướng về Tây;

gọi hết lửa vào xương da bỏ ngỏ,

Phật – pháp chẳng rời tay.

Sáu ngả Luân – hồi đâu đó

mang mang cùng nín thở,

tiếng nấc lên ngừng nhịp Bánh – xe – quay.

Ngọn lửa từ nhục thân của Hòa thượng ngùn ngụt cháy, nhưng ngọn lửa ấy không phải lan ra thành bão lửa, mà ngọn lửa đưa Hòa thượng lên Niết bàn và để lại bóng mát cho chúng sinh:

Không khí vặn mình theo

khóc oà lên nổi gió;

NGƯỜI siêu thăng

giông bão lắng từ đây.

Bóng NGƯỜI vượt chín tầng mây,

nhân gian mát rợi bóng cây Bồ – đề.

Hòa thượng trở thành bất tử – bất tử mà không cần ngọc đá để tạc tượng, không cần lụa tre của người viết sử làm thơ:

Ngọc hay đá, tượng chẳng cần ai tạc;

lụa hay tre, nào khiến bút ai ghi;  

chỗ NGƯỜI ngồi: một thiên – thu – tuyệt – tác

trong vô hình sáng chói nét Từ – Bi.

Vì ngọc đá lụa tre của trần gian vẫn có ngày mục nát, nhưng trái tim yêu thương của Hòa thượng thì vĩnh cửu, tỏa ánh sáng từ bi xuống tận tầng đáy sâu nhất của hỏa ngục – nơi con người bị đọa đày:

Rồi đây, rồi mai sau, còn chi ?

ngọc đá cũng thành tro

lụa tre dần mục nát

với Thời – gian lê vết máu qua đi.

Còn mãi chứ! còn Trái – Tim – Bồ – Tát

gội hào quang xuống tận ngục A – tỳ.

Trước ngọn lửa từ bi ấy, nhà thơ đại ngộ: từ vô minh mà đến tỉnh thức. Những kiêu căng, ngông nghênh của một “thi vương”, “thi bá” trần hoàn cũng hết, nhà thơ chỉ coi thơ là rơm rác trước ánh lửa kia, và rồi lại mong thơ mình là rơm rạ để cháy lên theo lời kinh:

Ôi Ngọn – lửa – huyền – vi!

thế giới ba nghìn phút giây ngơ ngác

từ cõi Vô – minh

hướng về Cực – lạc;  

vần điệu của Thi – nhân chỉ còn là rơm rác

và chỉ nguyện được là rơm rác,

THƠ cháy lên theo với lời Kinh

tụng cho Nhân – loại hoà bình

trước sau bền vững tình Huynh – đệ này.

Thơ Vũ Hoàng Chương cháy lên từ đó, cháy lên để soi đường đi đến với Tình yêu – tình yêu Tự do, Hòa bình, tình Anh em và tình Nhân loại:

Thổn thức nghe lòng trái Đất

mong thành quả Phúc về cây;

nam mô Bổn – Sư Thích – Ca – Mâu – Ni – Phật;

đồng loại chúng con

nắm tay nhau tràn nước mắt,

tình thương hiện Tháp – Chín – Tầng xây.

Bài thơ có sức truyền cảm mạnh mẽ. Ngay sau đó nó được truyền ra nước ngoài. Với uy tín của mình, Vũ Hoàng Chương đã kêu gọi giới trí thức quốc tế chú ý đến cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam. Tác giả kể:

“Riêng 2 bài Lửa từ bi và Người với người đã gửi sang Âu châu ngay sau lúc sáng tác nên nữ thi sĩ Bỉ quốc Simone Kuhnen de la Cœuillerie đã dịch Pháp ngữ để kịp thời đệ trình lên Hội nghị thi ca quốc tế họp tại Knokke từ 5 đến 9 tháng 9/63. Tác giả cũng đích thân gửi thư yêu cầu Hội nghị chú trọng đến cuộc tranh đấu của Phật giáo đồ tại Việt Nam. Thi sĩ Pierre – Louis Flouquet, nhân danh Phó chủ tịch, đã thỏa mãn lời yêu cầu này. Hai bản dịch (Feu de Sacrifice và D’homme à homme) đã được giới thiệu với các đại biểu của 50 quốc gia. Một đoạn trong bài thứ nhất được ngâm lên giữa Hội nghị, đó là đoạn:

Rồi đây, rồi mai sau, còn chi?

Ngọc đá cũng thành tro, lụa tre dần mục nát

Với Thời-gian lê vết máu qua đi.

Còn mãi chứ! còn TRÁI TIM BỒ TÁT

Gội hào quang xuống tận ngục A – Tỳ”(7)

Từ sau tập Lửa từ bi, trong thơ Vũ Hoàng Chương những chán chường, khổ đau, mộng mị như trong Thơ Say và Mây cũng hết; những ảo tưởng, hoang tưởng và sân hận trong Hoa đăng, Trời một phương cũng không còn, thơ ông như đến với một cảnh giới khác: tràn đầy yêu thương, tràn đầy tình huynh đệ, tràn đầy hỉ xả, và cả lạc quan. Đọc tên các tập thơ sau Lửa từ bi cũng thấy được phần nào: Ánh trăng đạo lý (1966), Bút nở hoa đàm (1967), Cành mai trắng mộng (1968), v.v… Ông bắt đầu cách ly mình với chính quyền thân Mỹ. Năm 1966 khi đang làm chủ tịch Hội văn bút(8), ông đã từ chối tham gia hội nghị về thơ tổ chức ở New York để phản đối Mỹ và chính quyền bù nhìn – như ông viết: “Năm 1966, hội nghị ở Mỹ (New York) nhưng tôi không đi, và đã cử Tổng thư ký đi thay làm trưởng phái đoàn. Vì tôi ghét bọn Mỹ Thiệu và Kỳ lúc đó đang đàn áp Phật giáo ở Đà Nẵng, Sài Gòn”(9).

Con đường thơ của Vũ Hoàng Chương trải qua những tháng ngày buồn tủi, khốc liệt nhất của dân tộc. Vũ Hoàng Chương là một thiên tài thơ Việt Nam hiện đại, một thiên tài thơ chịu lắm thăng trầm. Dường như chúng ta vẫn nhìn ông với con mắt định kiến mà không biết ông đã trải qua một hành trình gian khổ từ Thơ Say, Mây đến Thơ lửa; rồi từ Hoa đăng, Trời một phương đến với Lửa từ bi… một hành trình tự lột xác mình. Chúng ta chưa đánh giá hết bước chuyển mình của Vũ Hoàng Chương từ tập Lửa từ bi cũng như chưa đánh giá hết vị trí lịch sử của tập thơ này với văn học Việt Nam hiện đại. Tôi xin trích một đoạn đánh giá về tập thơ này trong Lời giới thiệu của Nhà xuất bản Rừng Trúc khi ấn hành thơ Vũ Hoàng Chương ở Paris:

“Phải nhận rằng ngàn-chín-trăm-sáu-ba đánh dấu sự chuyển mình lớn của văn học Việt Nam trong giai đoạn mới của sử tính. Dường như chúng ta vừa trở về tổ ấm, vừa nắm bắt vũ khí sở trường chôn lâu trong hoen rỉ và lãng quên để trang bị tri thức và tâm linh mình. Không có vũ khí tinh thần này, chúng ta chẳng còn là ta nữa.

Bài Lửa từ bi của Vũ Hoàng Chương đã thực đánh dấu cho sự chuyển mình đó. Nó bộc lộ đủ một phong triều văn học mới, dựng trên Bao dung và Trí tuệ. Bởi nó ánh được Ngọn lửa tỉnh thức. Bởi nó đã dùng lời Việt nói ra sự chấn động ầm ầm của lương tâm quốc tế”(10).

Bài thơ là một khúc quanh của một nhà thơ, đánh dấu một khúc quanh của một nền văn học(11). Nó thực sự cần có một chỗ đứng xứng đáng hơn trong các tuyển tập, trong các bộ lịch sử văn học Việt Nam hiện đại. Và tác giả của bài thơ cũng vậy.

ĐOÀN LÊ GIANG/VANVN

__________________________

(1) Vũ Hoàng Chương: Say đi em, in trong Thơ say, Mây. Nxb. Hội Nhà văn, H., 1996. Các bài dưới đây đều theo sách này.

(2) Di cảo viết tay của Vũ Hoàng Chương.

(3) Di cảo viết tay của Vũ Hoàng Chương.

(4) Lửa từ bi, Đoàn Thanh niên tăng ni xb, Sài Gòn, 1963.

(5) Bài tựa tập Lửa từ bi, Sđd.

(6) Theo bản in Lửa từ bi trong tập thơ Chúng ta mất hết chỉ còn nhau, thơ Vũ Hoàng Chương, Rừng Trúc xuất bản, Paris, 1974.

(7) Bài tựa tập Lửa từ bi, Sđd.

(8) Vũ Hoàng Chương làm Chủ tịch Hội Văn bút (Pen club) từ 1964-1968.

(9) Di cảo viết tay của Vũ Hoàng Chương.

(10) Lời tựa tập Chúng ta mất hết chỉ còn nhau. Rừng Trúc xuất bản, Paris, 1974.

(11) Các tập thơ của Vũ Hoàng Chương: Thơ Say (tác giả xuất bản, 1940; Nxb. Hội Nhà văn tái bản, 1995), Mây (Đời Nay xb, 1943, Nxb. Hội Nhà văn tái bản, 1995), Kịch thơ Trương Chi (tập kịch thơ, gồm 3 vở: Trương Chi, Vân Muội, Hồng Diệp, 1944, bản viết tay của tác giả), Cô gái ma (kịch thơ, 1944, bản viết tay của tác giả), Rừng phong (P.Văn Tươi xb, Sài Gòn, 1954), Hoa đăng (Văn hữu Á châu xb, Sài Gòn, 1959), Tâm sự kẻ sang Tần (kịch thơ, công diễn lần đầu ở H., 1951, 1961, bản chép tay của tác giả), Trời một phương (tác giả xuất bản, 1962), Lửa từ bi (Đoàn Thanh niên tăng ni xb, SG, 1963), Poèmes Choisis (thi tuyển, Versions Francaises de Simone Kuhnen de la Coeuillerie; Préface de André Guimbretiere; Editions Nguyen Khang, Sai Gon, 1963), Ánh trăng đạo lý (Nha Tuyên úy Phật giáo ấn hành, 1966), Cành mai trắng mộng (1968), Ngồi quán (Lửa thiêng xb, Sài Gòn, 1971), Đời vắng em rồi say với ai (1971), Chúng ta mất hết chỉ còn nhau (Rừng Trúc xuất bản, Paris, 1974), Ta đã làm chi đời ta (hồi ký, 1974) và một số di cảo viết tay của Vũ Hoàng Chương.

– Xin xem: Hoài Thanh – Hoài Chân: Thi nhân Việt Nam, tái bản. Nxb. Văn học, H., 1998.

– Nhiều tác giả: Từ điển văn học (bộ mới). Nxb. Thế giới, H., 2004.

PHỤ LỤC

 

Lửa từ bi

Kính dâng lên Bồ-tát Quảng-Đức

 

Lửa! lửa cháy ngất tòa sen!

tám chín phương nhục thể trần tâm

hiện thành THƠ, quỳ cả xuống.

Hai Vầng-Sáng rưng rưng

Đông Tây nhoà lệ ngọc

chắp tay đón một Mặt-trời-mới-mọc,

ánh Đạo-Vàng phơi phới

đang bừng lên, dâng lên

*

Ôi, đích thực hôm nay trời có mặt;

giờ là giờ Hoàng-đạo nguy nga!

Muôn vạn khối sân si vừa mở mắt

nhìn nhau: tình Huynh-đệ bao la.

Nam mô Đức-Phật-Di-Đà,

Sông Hằng kia bởi đâu mà cát bay?

*

Thương chúng sinh trầm luân bể khổ,

NGƯỜI rẽ phăng đêm tối đất dày

bước ra, ngồi nhập định, hướng về Tây;

gọi hết lửa vào xương da bỏ ngỏ,

Phật-pháp chẳng rời tay.

Sáu ngả Luân-hồi đâu đó

mang mang cùng nín thở,

tiếng nấc lên ngừng nhịp Bánh-xe-quay.

Không khí vặn mình theo

khóc oà lên nổi gió;

NGƯỜI siêu thăng

giông bão lắng từ đây.

Bóng NGƯỜI vượt chín tầng mây,

nhân gian mát rợi bóng cây Bồ-đề.

*

Ngọc hay đá, tượng chẳng cần ai tạc;

lụa hay tre, nào khiến bút ai ghi;

chỗ NGƯỜI ngồi: một thiên-thu-tuyệt-tác

trong vô hình sáng chói nét Từ-Bi.

*

Rồi đây, rồi mai sau, còn chi ?

ngọc đá cũng thành tro

lụa tre dần mục nát

với Thời-gian lê vết máu qua đi.

Còn mãi chứ! còn Trái-Tim-Bồ-Tát

gội hào quang xuống tận ngục A-tỳ.

*

Ôi Ngọn-lửa-huyền-vi!

thế giới ba nghìn phút giây ngơ ngác

từ cõi Vô-minh

hướng về Cực-lạc;

vần điệu của Thi-nhân chỉ còn là rơm rác

và chỉ nguyện được là rơm rác,

THƠ cháy lên theo với lời Kinh

tụng cho Nhân-loại hoà bình

trước sau bền vững tình Huynh-đệ này.

*

Thổn thức nghe lòng trái Đất

mong thành quả Phúc về cây;

nam mô Bổn-Sư Thích-Ca-Mâu-Ni-Phật(1);

đồng loại chúng con

nắm tay nhau tràn nước mắt,

tình thương hiện Tháp-Chín-Tầng xây.

Saigon tháng 5, P.l. 2507

(T.l. tháng 6, 1963)(2)

Vũ Hoàng Chương

(Chép lại chính xác theo tập thơ Chúng ta mất hết chỉ còn nhau, thơ Vũ Hoàng Chương, Rừng Trúc xuất bản, Paris, 1974)

______________

(1) Bản trong tập Lửa từ bi, Đoàn Thanh niên tăng ni xuất bản, Saigon, 1963 viết là “Nam mô Thích-Ca-Mầu-Ni-Phật” (không có “Bổn-sư” và không phải “Mâu-Ni”)

(2) Bản trong tập Lửa từ bi, Đoàn Thanh niên tăng ni xuất bản, Saigon, 1963 viết là: “Khởi viết từ ngày 11-6-63, xong ngày 15-7-63 tại Saigon”

Tạp chí Nghiên cứu văn học số 7 năm 2013

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm