TIN TỨC

Văn học mùa Giáng sinh

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-01-02 23:42:32
mail facebook google pos stwis
263 lượt xem

TRƯƠNG VĂN DÂN

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn)  - Khi Charles Dickens bắt đầu viết cuốn sách khiến tên tuổi của ông trở nên bất tử là lúc ông đang rơi vào khoảnh khắc bất hạnh và khó khăn nhất của cuộc đời mình. Ông mệt mỏi, lo lắng. Ông phải nuôi sống một gia đình lớn mà nợ nần ngày càng tăng và nỗi sợ về việc không thể tái tạo những thành công trong quá khứ. Những tiểu thuyết cuối cùng của ông đã không bán chạy như ông hy vọng. Độc giả dường như đang rời đi, bỏ rơi ông. Mà thời gian còn lại không nhiều.

 

Nhà văn Charles Dickens

 

Lo âu và có một cơn giận dữ thầm lặng đang bùng cháy trong lòng ông. Nước Anh thời Victoria ngày càng giàu... và ngày càng tàn nhẫn. Trẻ em bị bóc lột, gia đình đói khát, người nghèo bị đối xử như thể đó là tội của họ. Dickens nhìn thấy mọi thứ. Và ông không thể câm lặng, giả vờ như chẳng có gì xảy ra.

Chính vì vậy, chỉ trong sáu tuần quyết liệt, ông đã viết A Christmas Carol ("Khúc ca Giáng Sinh".)

Cuốn sách ra mắt vào ngày 19 tháng 12 năm 1843. Dickens muốn nó phải đẹp, được giữ gìn cẩn thận, xem như một vật quý giá: bìa vải đỏ, viền vàng, hình minh họa màu của John Leech. Nó phải được xem là một món quà tặng chứ không chỉ để đọc.

Bản in đầu tiên với 6.000 bản đã được bán hết trước đêm Giáng sinh. Trong năm sau, nó đã được tái bản nhiều lần. Chi phí sản xuất có làm giảm thu nhập nhưng tác động xã hội là rất lớn.

 

 

Một trăm tám mươi năm sau, "cuốn sách nhỏ về ma" đó vẫn không mất đi sức mạnh của nó. Ngược lại. Nó đã trở thành một nghi lễ. Một nguyên mẫu. Một la bàn đạo đức trở lại rất đúng giờ vào mỗi tháng Mười Hai hàng năm.

Câu chuyện trong sách rất đơn giản và phổ quát.

Ebenezer Scrooge, một người keo kiệt và cô đơn, coi thường Giáng Sinh và tất cả những gì Thánh lễ này đại diện. Gã coi đó là một điều vô nghĩa và đắt tiền. Một thứ lãng phí thời gian.

Nhưng vào đêm trước Giáng sinh, gã được hồn ma của người bạn Jacob Marley và ba linh hồn đến viếng thăm:

- Giáng sinh quá khứ

– Giáng sinh hiện tại

– Giáng sinh tương lai

Thông qua họ, Scrooge buộc phải thực sự nhìn vào bản thân mình.

Quá khứ cho thấy ông ta là một đứa trẻ bị lãng quên và một chàng trai trẻ đã hy sinh tình yêu trên bàn thờ tiền bạc.

Hiện tại tiết lộ cho ông ta sự giàu có vô hình của những người tuy có ít nhưng biết cách chia sẻ mọi thứ cho mọi người.

Tương lai đặt trước mặt gã là một hậu quả đáng sợ: chết mà không để lại bất cứ điều gì, nếu không muốn nói là sự thờ ơ.

Và ở đây Dickens vẫn ảnh hưởng đến chúng ta cho đến ngày nay.

Bởi vì, sau tất cả, chúng ta đều là một lão Scrooge. Chúng ta sống trong một thế giới hối hả, siêu kết nối, phố xá đầy ánh sáng và các cửa hàng lấp lánh, nhưng chúng ta thường thiếu thời gian, được lắng nghe và cảm thấy ấm áp thực sự. Chúng ta đang phấn đấu để làm cho Giáng Sinh trở nên "hoàn hảo", như thể đó là một pha trình diễn, và cuối cùng chúng ta mệt mỏi, tâm hồn trở nên trống rỗng và lòng đầy hoài nghi.

Khi Scrooge hỏi:

"Tại sao phải vui vẻ? Tại sao phải chi tiêu? Tại sao phải cố gắng trở thành người tốt?"

… Một số người trong chúng ta hiểu câu hỏi đó.

Và Dickens trả lời ngay mà không cần tài hùng biện: nếu chúng ta không thắp sáng ánh sáng bên trong mình, chúng ta không thể chiếu sáng cho bất kỳ ai.

Ngay cả sự ra đời cuốn sách cũng là một hành động khẩn cấp. Năm 1843, Dickens gặp khó khăn về kinh tế và sáng tạo. Như bộ phim The Man Who Invented Christmas đã kể lại, ông đang tìm kiếm một câu chuyện vừa tố cáo xã hội vừa làm thức tỉnh đạo đức. Sau một bài phát biểu ở Manchester chống lại nghèo đói ở trẻ em thì ý tưởng đã hình thành. Ông đi dạo quanh London hàng giờ, nói chuyện với chính mình, trong khi Scrooge và những hồn ma càng lúc càng sống động trong tâm trí.

Dickens không chỉ viết một tiểu thuyết hay truyện kể.

Ông đã khôi phục ý nghĩa cho một Thánh lễ Giáng Sinh đang trở nên trống rỗng.

Ông nhắc nhở thế giới rằng Giáng Sinh không phải là để tiêu dùng hay - phô trương mà là để kết nối.

Và mỗi khi chúng ta đọc cuốn sách hoặc xem một trong những bản chuyển thể của nó, thông điệp ấy vẫn còn nguyên vẹn:

Hãy quay trở lại với những điều thật sự cần thiết.

Một cử chỉ tử tế

Một bàn ăn để cùng chia sẻ

Một cái nhìn để nhận ra người khác

Như triết gia Seneca đã viết:

"Si vis amari, ama."

Nếu bạn muốn được yêu, thì hãy yêu.

Có lẽ đây là lý do tại sao, sau một trăm tám mươi năm, A Christmas Carol vẫn tiếp tục nói với chúng ta.

Bởi vì nó không yêu cầu hay đòi hỏi là chúng ta phải hoàn hảo.

Nó chỉ yêu cầu CHÚNG TA PHẢI LÀ CON NGƯỜI.

* A Christmas Carol ("Khúc ca Giáng Sinh") của Charles Dickens

T.V.D (sưu tầm và dịch)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm