TIN TỨC

“Lý Sơn yêu dấu” – Bản tình ca về biển đảo

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-11-27 22:27:52
mail facebook google pos stwis
1466 lượt xem

Phạm Văn Hoanh

 “Lý Sơn yêu dấu” là tuyển tập thơ văn thứ hai, sau tập “Biển gọi ta về” của nhóm biên soạn: Hồ Nghĩa Phương, Lucinda Nguyen, Trần Tín, Nguyễn Khiêm, được Nhà Xuất bản Hội Nhà văn ấn hành vào tháng 10 năm 2024.

Tuyển tập gồm 81 tác giả thuộc nhiều chuyên ngành: Văn học, Mĩ thuật, Nhíp ảnh, Âm nhạc… ở Quảng Ngãi và và một số tác giả ngoài tỉnh, không chỉ là tiếng lòng của những người yêu biển đảo quê hương mà còn mang đến người đọc cái nhìn toàn diện về Lý Sơn, nơi không chỉ nổi tiếng bởi vẻ đẹp thiên nhiên hoang sơ, mà còn là nơi chứa đựng những câu chuyện lịch sử hào hùng, lòng yêu nước và tình người nồng ấm.

Đọc các truyện ngắn, bút kí, tạp bút, khảo cứu, thơ, bình thơ… trong “Lý Sơn yêu dấu”, ta thấy mỗi tác giả có cách cảm nhận riêng về vùng đất Lý Sơn qua ngôn từ và hình ảnh sáng tạo đã đem đến những câu chuyện và góc nhìn phong phú về lịch sử và văn hóa của Lý Sơn. Đọc bài khảo cứu “Lý Sơn và Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa” của Tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ, người đọc như được tận mắt nhìn thấy Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa, một nghi lễ truyền thống được tổ chức hàng năm để tưởng nhớ những hùng binh của Hải đội Hoàng Sa kiêm Bắc Hải năm xưa với tinh thần quyết tử để bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Bài “Sự tích đảo Lý Sơn và quần đảo Hoàng Sa” của Lê Hồng Khánh kể lại truyền thuyết và những sự kiện lịch sử, gắn liền với tinh thần gìn giữ chủ quyền biển đảo của dân tộc. Bút kí “Lý Sơn nhìn từ biển” mang đến người đọc những góc nhìn sâu sắc về Lý Sơn. “Trong lúc bình minh và hoàng hôn nhìn hai đảo trông thật lung linh huyền ảo. Đâu đó những tàu thuyền đánh cá về neo đậu từng dãy rất sinh động, cánh hải âu và những loài chim biển khác chập chờn chao liệng khung cảnh nên thơ.” (Lý Sơn nhìn từ biển – Hồ Nghĩa Phương). Tác giả  miêu tả rất chi tiết và sống động về cuộc sống, phong tục và con người nơi đây trong buổi sáng rạng ngời khi ngư dân ra khơi và lúc hoàng hôn đỏ rực khi các con thuyền nối đuôi nhau về bến, từng cánh chim hải âu sải rộng đôi cánh trên bầu trời xanh thẳm khiến người đọc như được hòa mình vào cuộc sống thanh bình, đầy tình yêu thương của người dân Lý Sơn. Đọc bút kí “Ngày hè trên đảo Lý Sơn” (Phạm Văn Hoanh), “Vòng quanh Đảo Bé” (Trần Thu Hà) người đọc có thể cảm nhận được vẻ đẹp của biển xanh, cát trắng, những ngọn núi, con sóng vỗ bờ và cả lịch sử hào hùng, đời sống bình dị của người dân đảo Lý Sơn. “Đứng trên núi Thới Lới, chúng tôi đã chiêm ngưỡng một bức tranh Lý Sơn toàn màu xanh - màu xanh của nền trời, nước biển, cánh đồng hành, tỏi, rặng dừa, phi lao, cây bàng… Trên màu xanh ấy được điểm xuyết những chiếc thuyền đánh cá nhấp nhô làm cho bức tranh phong cảnh trên đảo thêm phần thi vị.” (Ngày hè trên đảo Lý Sơn - Phạm Văn Hoanh).  Còn tạp bút “Mùa ruốc về trên quê hương làng biển” của Bùi Văn Tạo lại kể về niềm vui mộc mạc của người dân mỗi khi mùa ruốc đến, là khoảnh khắc giản dị mà gần gũi, chứa đựng niềm vui đời thường của những người sống dựa vào biển với món ăn dân dã đậm đà tình quê “Gỏi ruốc thơm ngọt, hương vị đặc biệt, thực khách tha hồ mà thưởng thức với bánh tráng nướng giòn. Tuy có vẻ dân dã, nhưng món ăn này không thua kém các món biển ngon nổi tiếng khác”. (Mùa ruốc về trên quê hương làng biển - Bùi Văn Tạo)

Trong mảng văn xuôi của tuyển tập này không thể bỏ qua những truyện ngắn. Nó như những lát cắt sinh động về cuộc sống và tâm tư của người dân Lý Sơn. Mỗi câu chuyện đều như mang theo làn gió biển, vừa nhẹ nhàng, vừa êm dịu nhưng cũng đầy day dứt, khiến người đọc cảm thấy gần gũi và xúc động. Lucinda Nguyên đã hoài niệm về một mối tình thời học sinh nơi quê nhà với ngôn từ giản dị nhưng gợi được sự đồng cảm nơi người đọc “Trang đã khóc suốt trên quãng đường về. Nhưng nước mắt đâu có làm tan chảy được sự trống vắng và nỗi đau khổ quá lớn trong lòng Trang lúc này...” (Nhật ký người yêu- Lucinda Nguyen). Mai Duy Quý lại thể hiện tình cảm gia đình, nỗi đau xót khi người chị ra đi “Chị đã bỏ nó ra đi về cõi vĩnh hằng… những đồng tiền nó dành dụm để đem về tặng chị, bàn tay run run rơi lả tả như lá vàng rơi rụng chiều thu…” (Hoa cải vàng gió cuốn - Mai Duy Quý). Còn Nguyễn Đông Thạch với “Thư chuyển trong đêm”, “Khoảng trời vàng” lại kể về những câu chuyện tình yêu, nỗi nhớ xa xứ, và những tâm tư riêng của những con người nơi biển cả.

Trong tuyển tập này mảng thơ chiếm phần lớn. Đa số là những bài thơ hay đã thể hiện sự sáng tạo với mỗi bút pháp riêng trong cách sử dụng và vận hành ngôn ngữ trong một nhạc điệu riêng của tâm hồn, gây được sự xao xuyến trong lòng người đọc. Có thể nói ngôn ngữ thơ trong tuyển tập này gắn liền với tâm thức đầy nỗi niềm của những người con xa quê mưu sinh nơi đất khách. Đọc các bài thơ “Đảo Lý yêu thương” (Lucinda Nguyen), “Không xa đâu nơi ấy rất gần” (Nguyễn Mậu Chiến), “Đất nước hình rồng” (Lê Sinh Dân), “Thăm Lý Sơn” (Hương Đài), “Đi về phía biển” (Hồ Nghĩa Phương), “Lý Sơn ngày về” (Hoàng Thân), “Xao xuyến Lý Sơn” (Phan Bá Trình), “Về với đảo Lý Sơn” (Lê Văn Thuận)… ta sẽ thấy rõ điều đó. “Chốn nghìn trùng ta có đảo yêu thương! Năm cụm núi đẹp như bàn tay mẹ/ Bão tố phong ba cùng người chia sẻ/ Giữ biển trời nối mãi biển bờ vui”. (Đảo Lý yêu thương - Lucida Nguyen). Lucinda Nguyen so sánh năm ngọn núi với bàn tay mẹ đã giúp người đọc cảm nhận được vẻ đẹp phúc hậu của đảo Lý Sơn. Đảo Lý Sơn qua lời thơ của Lucinda Nguyen không chỉ có vẻ đẹp mà còn là khát vọng tìm về trong khắc khoải nhớ thương của một người con xa quê. Phải nói rằng thơ của các tác giả như từng nhịp đập của một trái tim yêu biển, yêu đảo, và yêu đất nước. Đinh Văn Hồng với “Tháng ba nhớ biển”, Nguyễn Ngọc Hưng với “Theo gió về Lý Sơn”… đã thể hiện niềm tự hào dân tộc: “Đâu phải là huyễn sử/ Lý Sơn mộ gió đầy/ Kìa cột cờ Thới Lới/ Nâng chủ quyền lên mây” (Theo gió về Lý Sơn - Nguyễn Ngọc Hưng). Khôi Nguyên với “Những con người miền đất đảo”, Hà Quảng với “Tháng ba với Lý Sơn”… đã tái hiện cảnh sắc Lý Sơn thật gần gũi và thân thương. Đọc những tác phẩm này ta có thể thấy những chiếc thuyền cá truyền thống đầy màu sắc đang ra vào cảng, mang theo những hải sản tươi ngon. Người dân Lý Sơn sống và làm việc dựa vào biển cả, và nghề cá đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của họ. Họ không chỉ là những người đi biển, mà còn là những người bảo vệ biển cả và duy trì, cân bằng môi trường biển. “Những con người kiên cường tung mẻ lưới thuyền câu/ Tiếp bước cha ông ngày đêm bám biển/ Qua bão giông không nề nguy hiểm/ Đảo là nhà, biển cả trong tim!” (Những con người miền đất đảo - Khôi Nguyên).

Bên cạnh những bài thơ viết về tình yêu quê hương và con người Lý Sơn, các tác giả còn mang đến cảm giác lãng mạn và đậm chất trữ tình, nơi tình yêu và thiên nhiên hòa quyện. Những bài thơ như “Vị mặn trong tim” của Nguyễn Hồng Anh, “Biển chiều” của Nguyễn Mậu Công, “Men tình” của Hoàng Diễm, và “Thắp những yêu thương” của Hạnh Nhi đều thể hiện sự hòa quyện giữa tình yêu lứa đôi và biển cả. Có thể nói, thơ trong tuyển tập này không chỉ ghi lại cảm xúc cá nhân mà còn là lời ngợi ca cho sự thiêng liêng của tình yêu với quê hương biển đảo, nơi từng cơn sóng, ngọn gió đều thấm đẫm hồn quê.

Ngoài ra trong tập sách này còn có những trang cảm nhận và bình thơ của các tác giả Phạm Văn Hoanh, Lê Hữu Có… Những trang phê bình giúp người đọc có cái nhìn đa chiều về tình cảm mà các tác giả đã gửi gắm qua từng tác phẩm.

Đọc những vần thơ, những dòng văn trong tuyển tập “Lý Sơn yêu dấu”, người đọc như được đi du ngoạn trên đảo, lắng nghe tiếng sóng vỗ, ngắm nhìn biển cả xanh thẳm và cảm nhận nhịp sống yên bình nhưng đầy khí phách của một vùng đất anh hùng. Đây là một tuyển tập không chỉ dành riêng cho người yêu văn chương, mà còn là tài liệu quý giá giúp chúng ta hiểu thêm về tình yêu biển đảo, về vẻ đẹp của quê hương Việt Nam qua từng câu chữ của các tác giả tài hoa.

P.V.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm