TIN TỨC

Đi tìm đôi mắt theo suốt đời người

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-10-17 15:24:11
mail facebook google pos stwis
1155 lượt xem

BÙI PHAN THẢO

(Đọc tập thơ “Mắt nhớ” của Nguyễn Văn Minh)

Thơ Nguyễn Văn Minh góp mặt trên thi đàn gần 10 năm qua, ngoài những tập in chung, anh đã in riêng 3 tập: “Hoa dã quỳ” (2017), “Hoa cải vàng lạc dấu” (2000) và “Mắt nhớ” (2024) – cùng NXB Hội Nhà văn. Với tập thơ mới nhất, “Mắt nhớ”, cho thấy Nguyễn Văn Minh đã định hình phong cách thơ trữ tình và có ý thức trau chuốt, dụng công, làm đẹp hơn, hay hơn cho tác phẩm.

Thơ Nguyễn Văn Minh càng chín dần lại càng rõ thêm cái duyên ngầm. Như con người anh ngoài đời, hay cười tủm tỉm, nói chuyện nhẹ nhàng, cái duyên vận vào thơ. Nhiều người đi chợ nổi Cái Răng (TP Cần Thơ), làm thơ về đề tài này rất nhiều, song Nguyễn Văn Minh có cách nói khác, từ bỏ lửng nửa chừng buổi đầu làm quen: “lời mời em thả sóng say/ tôi miền xa đến ngất ngây, để rồi…”, đến nghĩ ngợi xa hơn, gặp nhau như sự tình cờ, biết khi nào còn gặp lại nhau: “biết là cá nước chim trời/ mênh mang con nước vợi vời về đâu” rồi thốt lên: “thương em nênh nổi bể dâu/ để anh mua hết dãi dầu được không?” (Ai đi chợ nổi Cái Răng?)

Đây rõ ràng không phải là một câu nói chơi, đãi bôi cửa miệng mà là tiếng lòng thành thật. Thương em vất vả nổi trôi sông nước, muốn mua cho em những dãi dầu bằng sự cảm thông và trái tim đa cảm của nhà thơ, qua cách nói chuyện dễ nghe, có cái duyên thấp thoáng nụ cười.

Cái duyên đó cũng thường được cha ông nhiều đời thể hiện, đôi khi nói phóng lên, ngoa dụ một chút: “ô kìa, cá xanh cá đỏ/ không em chúng cứ hững hờ” (Nha Trang miền nhớ), song người đọc lại không thấy xảo ngôn để khó chịu, mà chấp nhận bởi tin vào tình cảm của thi sĩ dành cho người đẹp lâu rồi chưa ghé lại Nha Trang. Cũng lối diễn đạt ấy, người đọc cảm thông với chàng trai vừa khéo ăn nói kiểu “trai quê”, vừa bộc trực dân dã ruộng vườn khi ghé thăm làng bưởi Biên Hòa:

“Ngẩn ngơ theo bước chân son/ nửa ngày chưa tỏ trái non hay hường”

Nửa ngày trong vườn mà không rành rẽ về cây trái, bởi cứ miệt mài theo bóng hồng: “đan mê dệt mộng lời yêu/ mải vui quên cả nắng chiều nhạt phai”. Đến phút chia tay, vần thơ nháp vội. Câu chuyện lãng mạn, cách nói của những người thế hệ đã đầu hai thứ tóc, song cũng có thể tái hiện giữa vườn bưởi của thời công nghệ 4.0 nếu trái tim còn đập vì một mùi hương bưởi trên tóc, vì một lời nói, ánh nhìn với những người trẻ tuổi hôm nay.

Những đôi mắt đi qua cuộc đời được nhà thơ mang theo, tìm kiếm. Từ “mắt hồ thu sóng nghiêng ngả anh rồi”, “hương sữa nồng nàn em mắt biếc và mơ”, “đá cũng buồn mắt ướt đẫm hồn thơ”… đến bất chợt mắt ai trên bến Ninh Kiều, “mắt hớp hồn phiêu chẳng muốn về” của em gái cao nguyên…, thơ Nguyễn Văn Minh cứ nói một cách thiệt thà mà dễ làm xao lòng những giai nhân thấp thoáng. Cũng những đôi mắt của những người con gái khắp mọi miền đất nước rọi lòng thi nhân, vương vấn chân đi. Bắt đầu từ lời trách khéo:

Nếu em không liếc nhìn ngang/ thì sao em biết anh rằng ngắm em/… dùng dằng nửa ở nửa đi/ trong đôi mắt ấy nói gì thế em” (Nếu em)

Bên bờ sông La, mùa hoa sim nở, màu hoa ấy khiến đôi mắt vào thơ đẹp dịu dàng: “bởi đôi mắt ấy cứ đăm đắm chiều

Những người con gái sang ngang, để lại nỗi buồn cho thơ riêng giữ, để những đôi mắt đi vào nỗi nhớ mang theo suốt đời người:

Thu đi lá vàng mắt nhớ/ trút buồn ngập cả hồn thơ/ tháng mười nhà bên chạm ngõ/ thương cho cây bàng lá đỏ/ bấc về, đông đến chơ vơ” (Mắt nhớ)

Trong những giờ phút cô đơn trên đường đời, thi nhân nhớ người con gái cũng tha hương, ai cũng xa quê và xa nhau, những vết tìm nhau bên bờ đại dương cũng bị sóng xô, trôi mất: “trách mình phận con còng gió/ khạo khờ vê sóng trùng dương” (Phận con còng gió)

Chân lãng du về lại quê nhà, sông vẫn bên bồi bên lở, gió đổi mùa tái tê, nhớ một người đi mãi không về:

Bến yêu ơi, hoa cải đã về trời/ bông gạo đỏ rưng rức miền nhung nhớ/ bến sông xưa một chấm con đò nhỏ/ cắm con sào chờ mãi một người xa” (Bến đợi)

Cùng với những đôi mắt, thơ Nguyễn Văn Minh cũng nói nhiều về mùa xuân. Trong mùa xuân mới, nhớ về người lính ở Trường Sa, đang canh giữ biển trời “biển cồn cào sóng nhớ/ bâng khuâng chiều xuân mơ”. Đi giữa đường hoa Nguyễn Huệ (TP Hồ Chí Minh) những ngày Tết, thi nhân như trẻ lại bên người bạn đường má đỏ bồ quân, cùng ước ao trở lại tuổi thanh xuân.

Rộn ràng đó để rồi lại bâng khuâng. Nhớ lại những ngày xa, đi hội Lim xứ Kinh Bắc:

Hội Lim cho má em hường/ lúng liêng môi thắm hoa nhường anh mơ/ hội tan tìm cái ngẩn ngơ/ đợi em quán dốc câu thơ lạc vần” (Du xuân)

Không biết dưới gốc đa năm ấy, lời hát lý cây đa còn vọng, để nhớ cái nón ba tầm, cái áo năm tà, để câu thơ da diết, ngẩn ngơ buồn. Tháng ba, hoa xoan vẫn tím mà xuân vội rời đi: “mong mãi đợi ngày xuân chín/ để giờ ngơ ngác mình tôi/… người xưa vẫn đợi em về” (Vội vàng xuân)

Với thi phẩm này, Nguyễn Văn Minh để lại khá nhiều dấu ấn đáng chú ý. Anh có những nỗ lực sáng tạo, đem lại sự mới mẻ trong cách nhìn sự vật. Giữa mùa thu cao nguyên, anh viết:

Nhớ thu nhạt nắng Buôn Mê/ nhớ mưa trắng phố, cà phê lửng chiều/ thu về ngan ngát mùa yêu/ bâng khuâng rối cả nắng chiều Buôn Mê” (Thu Buôn Mê)

Cũng là giếng quê, trong màn đêm dần buông: “em tôi yếm thắm nồng nàn/ vớt trăng vào hạ mơ màng giếng quê”.

Rồi tháng ba này, lại nhớ tháng ba xa xưa nào đó: “Tháng ba mưa đổ trắng trời/ hạt thương hạt nhớ hạt rơi xót lòng/ nơi xa người có nhớ không/ em về mót chút tình nồng đã xưa” (Em về tìm tháng ba xưa)

Rối cả nắng chiều, vớt trăng vào hạ, hạt rơi xót lòng, mót chút tình nồng… là những ngôn từ khá đẹp, phủ lên, làm dịu nỗi buồn.

Cảm xúc chủ đạo của “Mắt nhớ” là tình yêu đất nước, quê hương, tình thơ, tình người. Xa quê nhiều năm, sống ở cao nguyên rồi chuyển về TP Hồ Chí Minh, đi nhiều nơi trên đất nước, thơ Nguyễn Văn Minh vẫn hồn hậu, khép lại tập thơ vẫn để lại rung động nhẹ nhàng cho người đọc. Đó đã là thành công của người viết, chúc mừng nhà thơ Nguyễn Văn Minh.

B.P.T

Nguồn: Tạp chí Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm