TIN TỨC

Mối quan hệ giữa phê bình văn học và người sáng tác

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2021-10-31 09:09:44
mail facebook google pos stwis
4853 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Đặt vấn đề: Nhà thơ Gớt (người Đức) đã nói “Mọi lý thuyết đều là màu xám. Chỉ có cây đồi mãi mãi xanh tươi”. Vì vậy, mọi lý thuyết về Lý luận Phê bình văn học (PBVH) cũng chỉ là điều tham khảo, học hỏi thêm đối với người sáng tác.

 

Nhà phê bình Lê Xuân 

 

Công việc của người phê bình văn học (PBVH):

Nghiên cứu lý luận PBVH là một vấn đề khó, đòi hỏi người viết phải có một trình độ lý luận và một kiến thức tổng hợp trên nhiều phương diện. Và đặc biệt, cần phải có một nhãn quan chính trị tinh nhạy, một quan điểm đúng đắn. Ở thời nào cũng vậy, văn học không thể thoát ly cuộc sống. Muốn hay không văn học từ cái “Tôi” cá thể, thông qua hình tượng nghệ thuật tác động tới con người và cuộc sống, góp phần mở rộng tầm mắt, nâng cao tâm hồn con người.

Trong thời kỳ đất nước mở cửa hội nhập, giao lưu quốc tế trên nhiều lĩnh vực, thời đại bùng nổ thông tin trên mạng internet, thì lý luận PBVH cũng có những điều chỉnh hướng bạn đọc có thể “đồng sáng tạo” với tác giả văn học, và trước hết là cho đội ngũ sáng tác.

Công việc PBVH đòi hỏi người viết phải thấu hiểu tác phẩm, tác giả, khen chê phải khách quan vô tư, không để những tình cảm thân quen hay vụ lợi lấn át, nhằm động viên tác giả phát huy mặt mạnh và thấy được những mặt còn yếu kém để khắc phục. Có người đã nói PBVH như một “ngọn roi”. Nếu ngọn roi ấy quất lung tung sẽ có những tác hại khôn lường.

Người viết PBVH cần phải có tư duy khoa học kết hợp với tư duy nghệ thuật một cách hài hòa, chặt chẽ, và rất cần một sự nhạy cảm trong thẩm định văn chương và phải đọc và hiểu biết thêm nhiều tư liệu ngoài tác phẩm như: âm nhạc, hội họa, kiến trúc, điêu khắc, nhiếp ảnh, địa lý, lịch sử, triết học, xã hội học, ngoại ngữ, internet…

Ngoài ra, người viết PBVH trước hết rất cần một trái tim nhân ái, một tấm lòng vị tha, một cái nhìn khoa học thấu tình đạt lý để hiểu tác phẩm, tác giả. Từ đó hướng dẫn thị hiếu thẩm mỹ cho đông đảo công chúng. Đồng thời còn phải am hiểu tình hình thời sự văn học trong và ngoài nước, nắm được các trào lưu tư tưởng, xu hướng văn học, đặc điểm của các thời kỳ, giai đoạn lịch sử văn học dân tộc.

Mối quan hệ giữa PBVH và người sáng tác ở thành phố Cần Thơ:

Riêng mảng PBVH không những ở Cần Thơ mà cả khu vực ĐBSCL còn thiếu và yếu. Người viết có thể đếm trên đầu ngón tay, còn quá mỏng, chưa tương xứng với sự phát triển của văn học địa phương, ít dẫn đường cho người cầm bút đi đúng quỹ đạo sáng tác. Một số tác giả thỉnh thoảng có viết vài bài PBVH dưới dạng giới thiệu tác phẩm hoặc biên khảo, như: Trần Phỏng Diều, Nguyễn Thanh (Ngũ Lang), Lương Minh Hinh, Trúc Linh Lan, Nắng Xuân. Bài viết phần lớn mới dừng lại ở mức “bàn thêm” về truyện, thơ, bình thơ, hoặc giới thiệu tác giả, tác phẩm… Người viết PBVH ngại đụng chạm những vấn đề “nhạy cảm” của xã hội, của dân tộc. Một số người có ý định trở thành nhà PBVH cũng gác bút, quay sang sáng tác thơ, truyện để đăng báo, tạp chí. Nguyên Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam, Hữu Thỉnh có lần đã nói: “Hiện nay chúng ta đang ‘đốt đuốc’ đi tìm nhà PBVH”. Có lẽ đó cũng là tình trạng chung của cả nước.

Hiện nay có tình trạng là người viết PBVH rất ngại bị “đụng chạm”, sợ bị người khác quy chụp. Trên các Báo và Tạp chí ta thường thấy xuất hiện ba loại nhà PBVH. Một là loại phê bình cánh hẩu, tâng bốc nhau. Hai là loại phê bình bới lông tìm vết, quy chụp. Ba là loại phê bình “dĩ hòa vi quý”, khen chê chung chung. Cả ba loại nhà PBVH trên đều không nên có ở một nền văn học chân chính.

Về phía người sáng tác: Mỗi nhà văn, nhà thơ đều có một năng khiếu “bẩm sinh” mà ta gọi là “thiên phú” (trời cho), không thể lấy cần cù bù lấp được. Nhưng nếu cộng thêm sự cần cù học hỏi, trang bị thêm các kiến thức khác thì rất hữu ích cho việc sáng tác: Ví như: hiểu về ngôn ngữ học, tu từ học, lý luận PBVH… thì tác phẩm của họ sẽ có chiều sâu, có sức nặng hơn. Sáng tác là một công việc cực nhọc như “khổ sai” nhưng nếu có đam mê sẽ đem lại một niềm vui lớn. Nhà thơ Lê Đạt gọi các nhà thơ là “phu chữ”. Khi viết xong một tác phẩm ta như trút được gánh nặng.

Đọc tác phẩm của các nhà văn Cần Thơ đã trãi qua đời lính như: Nguyễn Khai Phong, Phạm Văn Thúy, Nguyễn Đình Thắng, Nguyễn Hồng Chuyên, Trần Thanh Chương, Hkiên Giang, Ngọc Hương… ta sẽ hiểu sâu hơn, đúng hơn về cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trong kháng chiến chống Mỹ, chống bọn bành trướng Trung Quốc ở biên giới phía Bắc và bọn Pôn pốt phía Tây Nam.

Đọc các tiểu thuyết, truyện ngắn, bút ký của các tác giả: Nguyễn Thị Thanh Huệ, Nhật Hồng, Ngọc Tuyết, Vũ Thống Nhất, Ngọc Bích, Lương Minh Hinh, Trần Anh Dũng, Huyền Văn, Cao Thanh Mai… ta hiểu sâu hơn mảnh đất và con người Nam Bộ qua các thời kỳ…

Đọc thơ của các tác giả Lê Chí, Huỳnh Kim, Phù Sa Lộc, Trúc Linh Lan, Đặng Hoàng Thám, Huệ Thi, Nguyệt Ảnh, Nắng Xuân, Phan Huy, Phan Duy… ta cảm nhận được rất nhiều vẻ đẹp về con người và cảnh sắc Nam Bộ qua cái tôi trữ tình đầy cảm xúc…

Nếu các tác giả trên không có vốn sống thực tế, không chịu khó tìm tòi sáng tạo thì làm sao có thể viết được những trang văn, dòng thơ đầy ám ảnh, thuyết phục trái tim người nghe, người đọc.

Song, nếu tác giả được trang bị thêm kiến thức về Lý luận PBVH như: Các trào lưu văn học trong nước và thế giới, các phương pháp sáng tác, các loại thể văn học, đặc trưng văn học, các chủ nghĩa hiện thực, hiện đại, hậu hiện đại, lý thuyết về thi pháp học và các lý thuyết tiếp nhận khác… thì tác phẩm càng mang tính khái quát, phổ biến và có sức nặng. Ví dụ: Đọc tập truyện ký “Đêm vượt sông” của nhà thơ Trần Thanh Chương người đọc không những hiểu biết được nhiều sự kiện, sự việc, con người trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước mà còn biết thêm nhiều điều kỳ diệu ở một số nước mà tác giả đặt chân tới, như: Anh, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Phi Lip Pin, Căm Pu Chia… Tác giả đã nắm khá chắc các sự kiện, lịch sử, địa lý liên quan đến bài viết. Anh có 3 bài ký viết về nước ngoài: “Xem bóng đá Anh”, “Uống cà phê Anh” và “Kỳ vĩ Angko Wat”.

Ở “Kỳ vĩ Angkor Wat”, anh luận bàn về nghệ thuật điêu khắc đá: “Về nghệ thuật xếp đá và điêu khắc trên đá, chắc chắn tổ tiên của người Việt và người Trung Hoa đều phải chắp tay bái phục người Khmer cổ đại. Nó xa hơn, tất cả các nghệ nhân chế tác đá trên thế giới – theo tôi, chỉ đáng là học trò của người Khmer. Không hiểu người Khmer cổ đại đã dùng dụng cụ gì để chạm trổ trên đá cứng, tạo ra những bức phù điêu, những hoa văn tuyệt mỹ giống như ngày nay ta chạm trổ trên gỗ. Các nhà khoa học cũng không lý giải nổi bằng cách nào chỉ với phương pháp thủ công, không có chất kết dính mà họ xếp chồng khoảng 10 triệu tảng đá (có tảng nặng 1,5 tấn) thành một công trình cao chót vót vừa vĩ đại, vừa nghệ thuật, gần ngàn năm qua vẫn sừng sững thách thức với thời gian (…) Ngày xưa, người Khmer đã xây dựng được những công trình vĩ đại đạt đến mức hoàn hảo như vậy, thì chắc chắn trình độ khoa học và nền kinh tế của họ phải phát triển đến mức độ rất cao. Không hiểu sao, một nền văn minh huy hoàng bậc nhất Đông Nam Á lại suy tàn nhanh đến thế… Đó là những ý kiến bình luận khá sâu sắc.

Các bài viết về nhân vật lịch sử, như Trạng nguyên Khương Công Phụ hay bài Nhàn đàm về Chúa Trịnh anh đều có những ý kiến bàn thêm về cái đúng, cái sai do lịch sử, do người viết trước để lại.

Ở mảng “Bình thơ”, tác giả thể hiện sự cảm nhận tinh tế và có những so sánh liên tưởng khá thú vị, như bình bài ca dao Thằng Bờm, bài Tình khúc tuổi 50 của Kao Sơn, bài Lơ ngơ một mình của Phạm Phương Lan. Lúc bình thơ ngòi bút của anh tràn đầy cảm hứng thơ, phát hiện được vẻ đẹp tiềm ẩn trong tứ thơ, trong hình ảnh, nhip điệu… làm toát ra giá trị tư tưởng và thẩm mỹ của bài thơ mà tác giả muốn gửi một thông điệp nào đó tới bạn đọc.

Người thứ hai mà tôi muốn nhắc đến là nhà thơ Nắng Xuân (Nguyễn Thanh Toàn): Anh là giảng viên khoa Thủy sản ĐHCT, yêu thích văn chương. Ngoài giảng dạy anh còn là Chủ nhiệm CLB Thơ ca Ninh Kiều, phụ trách nhóm “Gia đình Áo trắng” (phụ san báo Tuổi trẻ) của Cần Thơ, tham gia CLB thơ Đường Cần Thơ… Ở cả hai thể loại Thơ và PBVH anh đều có những gặt hái thành công.

Vậy thì, các kiến thức về PBVH có cần cho nhà văn khi sáng tác văn học hay không? Các bạn hãy tìm lời giải. Xin gợi ý vài điều:

– Các tác giả nên đọc nhiều, đọc cả những tác phẩm có ý trái chiều mà mình không yêu thích để nắm bắt những ý phản biện. Rất cần đọc tác phẩm của các nhà văn lớn trong và ngoài nước. Nếu có điều kiện hãy đọc các giáo trình Đại học về Lý luận văn học hiện nay.

– Khi chưa hiểu một từ hãy tra từ điển ngay (từ điển Tiếng Việt, từ điển Hán Việt…). Riêng các từ địa phương (phương ngữ) không có trong từ điển thì hỏi thêm những người khác…

– Cần tìm hiểu các phương pháp sáng tác, các trào lưu văn học, mối quan hệ giữa “cuộc sống – nhà văn – tác phẩm” để xem tác phẩm của mình có tác dụng gì với bản thân và gửi thông điệp gì tới cuộc sống.

– Luôn trả lời các câu hỏi trước khi viết: Viết cái gì (nội dung), viết để làm gì? (mục đích), viết cho ai? (đối tượng đọc), viết như thế nào? (phương pháp viết).

Tình hình văn học ở Cần Thơ hiện nay:

Văn học ở khu vực ĐBSCL nói chung và TP Cần Thơ nói riêng có bề dày lịch sử và rất giàu tiềm năng, là vùng đất trẻ nhưng có truyền thống văn học đáng tự hào với những danh nhân: Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Bùi Hữu Nghĩa, Lê Quang Chiểu. Các nhà văn lớp trước và các nhà văn trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đã làm giàu thêm truyền thống văn học của địa phương.

Nhìn lại những tác phẩm văn học của Cần Thơ thời gian qua trong nền kinh tế tri thức hội nhập, đã có những mặt mạnh và hạn chế đáng lưu ý. Cái mạnh là tác giả luôn giữ được bản sắc văn hoá dân tộc, đặc biệt là những yếu tố mang sắc thái Nam Bộ trong mỗi trang viết. Đọc tác phẩm của nhiều nhà văn Cần Thơ ta thấy mỗi tác giả đều có sự tìm tòi, sáng tạo theo xu hướng mới. Các giá trị “phi vật thể” đó không những là tiếng nói tâm hồn của con người một vùng, một miền mà rộng hơn nó còn là tiếng nói của một cộng đồng với Tổ quốc.

Đội ngũ sáng tác văn học ở Cần Thơ có bước kế thừa và phát triển. Văn xuôi mạnh hơn thơ, nhất là về truyện ngắn và ký. Nhiều tác giả đã xuất hiện trên tạp chí, trên các báo trung ương và địa phương:

Về văn xuôi có: Nguyễn Kim Châu, Trần Minh Thuận, Nguyễn Ngọc Tuyết, Đặng Hoàng Thám, Nhật Hồng, cố nhà văn Nguyễn Khai Phong, Lương Minh Hinh, Nguyễn Thị Thanh Ngọc, Lâm Thị Thanh Hà, Nguyễn Thị Thanh Huệ, Hồ Kiên Giang, Phạm Văn Thuý, Huyền Văn, Ngọc Hương, Cao Thanh Mai, Nguyễn Hồng Chuyên, Hoàng Khánh Duy, Phát Dương, Phong Dương.

Về thơ có: Lê Chí, Trúc Linh Lan, Trần Thanh Chương, Nguyễn Trung Nguyên, Phù Sa Lộc, Huỳnh Kim, Nguyễn An Bình, Phan Duy, Phan Huy, Huệ Thi, Phan Nguyệt Ảnh, Minh Nguyệt, Nắng Xuân, Hoàng Viện … Một số tác giả viết cả thơ và văn xuôi và đã có những thành công đáng khích lệ.

Đời sống văn chương có sôi nổi hơn trước, nhưng ít tranh luận về học thuật, về phương pháp sáng tác. Các cây bút trẻ còn ít, số hội viên lớn tuổi có phần chững lại. Tuy hội viên khá đông nhưng hội viên được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam còn quá ít (hiện nay chỉ có 8 hội viên, thua An Giang, Bến Tre…). Qua các cuộc thi thơ, truyện, ký ở cấp khu vực và cấp tỉnh, các tác giả của Cần Thơ thường đạt giải nhưng giải cao còn ít.

Mặt hạn chế của một số tác giả là vốn tri thức, lý luận và thâm nhập thực tiễn chưa nhiều nên tác phẩm ít có sức khái quát chiều rộng lẫn chiều sâu. Phần lớn các tác phẩm thơ cũng như truyện còn nặng về tường thuật, miêu tả, kể lể, giãi bày tâm sự đơn thuần, khai thác mảng đời tư… Sự tìm tòi, khám phá để có sự cách tân về ngôn ngữ, thể loại còn ít. Số tác giả viết tiểu thuyết càng rất ít.

Kết luận:

Lý luận PBVH có thể xem là một chìa khóa để ta có thể mở cửa tiếp nhận và vận dụng nhiều điều cần và đủ góp phần làm cho tác phẩm có sức nặng hơn.

Cần Thơ là vùng đất còn trẻ, giàu tiềm lực, tôi tin rằng tương lai sẽ có những tác phẩm văn học hiện đại, giàu tính nhân văn, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu được những tinh hoa văn hoá nhân loại, góp phần làm đẹp, làm giàu kho tàng văn học Cần Thơ nói riêng và văn học nước nhà nói chung.

L.X

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm