TIN TỨC

Một cây bút trưởng thành từ sau ngày kết thúc chiến tranh

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-10-17 04:58:33
mail facebook google pos stwis
2992 lượt xem

LÊ THÀNH NGHỊ

Trong số những nhà thơ nữ tôi đã được đọc, Đinh Thị Thu Vân để lại ấn tượng khó quên. Đọc chị khá nhiều, nhưng gặp chị lại rất ít. Hầu như tôi không biết gì về con người ngoài đời của chị. Chỉ thoáng gặp một lần chỗ đông người giữa một ngày rét đông Hà Nội cuối năm 2018. Thiếu phụ như cây trúc mảnh mai, lạ lẫm trong làn áo ấm mà tôi đoán lâu lắm chị mới đem ra dùng khi đụng cái rét miền Bắc. Giọng nói nhỏ nhẹ, thận trọng mà cởi mở, nét nhân từ hiện trên gương mặt hơi buồn. Hiển nhiên, mới gặp “một thoáng” thì những gì sâu kín là không thể biết.

Nhà thơ Đinh Thị Thu Vân

Nhưng với nhà thơ, nếu muốn, cũng có thể có những con đường để tìm hiểu thế giới nội tâm sâu kín của họ. Vì thơ là “biên bản của tâm hồn”, nhật ký của cảm xúc, tự sự của trái tim, diễn ngôn của xúc động… Những ký thác trong thơ trữ tình phần lớn là “lời tự thú với bản thân” của nhân vật trữ tình. Người thơ phong vận như thơ ấy (HMT). Và đấy chính là tín hiệu, là chìa khóa, là “mã vạch” để thiết lập “giao diện”, như thể mở lối vào một “vuông vườn không bao giờ đóng kín” trên mỗi trang viết. Tôi chọn góc độ này để tiếp cận thơ Đinh Thị Thu Vân.

Đinh Thị Thu Vân là nhà thơ trữ tình giàu cảm xúc, rất nữ tính. “Vuông vườn” thơ chị chủ yếu biểu hiện nội cảm, tình cảm từ bên trong của tâm hồn chị: tinh tế và lãng mạn, khát khao và ước vọng, xót xa và khắc khoải…của chị. Nói chủ yếu là vì rất ít trong thơ chị những trang “miêu tả hiện thực”, vắng hẳn chuyện “thế sự đời thường” cơm áo gạo tiền, không thấy những biến cố, sự kiện “thời sự”, ít khi bắt gặp những rắc rối trần thế ngoài câu chuyện duyên phận. Hướng nội toàn tâm làm cõi nhân gian trở nên khép kín, trong khi cõi nhân duyên trong tâm hồn mở hết biên độ. Đó là thế mạnh và cũng là điểm yếu của thơ Đinh Thị Thu Vân.

Có thể hình dung Đinh Thị Thu Vân là “người đàn bà yêu”. Ấn tượng về cái vẻ bên ngoài “e lệ” trong cảm nhận thoáng qua của những ai mới gặp chị, sẽ vỡ vụn nếu đọc thơ chị. Thì ra, trong cây trúc mảnh mai kia đã chất chứa bão tố:

em trôi về hướng gió

em trôi về hướng mây

em trôi về hướng nhớ

yêu như chưa bao giò

…yêu như là cạn sức

yêu như là cạn tim

yêu như là cạn máu

không còn lần yêu thêm

(Mang nỗi buồn tay trắng)

Dù “trôi về hướng nhớ” nhưng không đơn giản chỉ là thương nhớ: Sao có thể chỉ gọi là thương nhớ /nỗi tương tư tiền kiếp mãi sôi trào (Em không thể cam lòng trôi nổi), Chẳng phải yêu đâu – là em đang cạn máu /đang khát đến tận cùng, đang cháy đến tàn hơi…/em đốt đời em lần cuối (Em không thể cam lòng trôi nổi)…Ngôn từ căng hết biên độ “tiền kiếp”, “sôi trào”, và trên kia “cạn sức”, “cạn tim”, “cạn máu”, biện giải rất quyết liệt “sao có thể”, khát vọng cao đến đỉnh “tận cùng”, “tàn hơi”, “lần cuối”…cho thấy chị đã yêu như thể là lần cuối:

em không phải là người có thể

vừa quay lưng đã vội vã quên rôi…

em làm cát, em làm bùn, em xin làm đất vụn

lấp cho đầy hoang rỗng lòng anh

(Nhật ký).

yêu cạn trắng sông xanh và biển biếc

yêu như chỉ còn hôm nay, ngày mai đã là chết

(Dành cho em đôi phút lắng lòng đi).

Đây chính là phẩm giá của người phụ nữ: không dễ dàng để có tình yêu, và một khi đã yêu thì không dễ dàng vừa quay lưng đã vội vã quên rồi, không phải là phút xao lòng thoáng qua, không phải “lời yêu mỏng mảnh như màu khói” (Xuân Quỳnh) mà là “một lời như thể lưỡi cưa” (Hữu Thỉnh), một quyết định dứt khoát và quả quyết, không mang tính nhị nguyên, nước đôi. Tình yêu trong thơ Đinh Thị Thu Vân mãnh liệt, cao cả, tan chảy, đầy đức hy sinh: em làm cát, em làm bùn…, làm đất vụn. Đâu đây, triết lý một thời của “Ông hoàng thơ tình” họ Ngô quê Trảo Nha Hà Tĩnh: Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối (Xuân Diệu) lại tìm được mảnh đất màu mỡ để thêm lần nữa mọc lên “xanh biếc cây đời” trong tâm hồn một nữ nhà thơ thời hiện đại.

Nhưng nói thế cũng chỉ là câu chuyện chữ nghĩa thôi, với chị đâu phải là mơ ước hão huyền. Như bao thiếu phụ khác, một vòng tay thiết thực, một bờ vai tin cậy, một cánh cửa chờ đợi mỗi khi đi xa về, nghĩa là những hiện thân của hai chữ “bình yên”, với chị thế là đủ: Vai anh rộng để em thèm bé nhỏ /mơ một ngày yên ngủ giữa vòng tay (Nhớ):

ước chi biển mặn nồng thêm chút nữa

ước chi mây phiêu lãng biết quay về

ước chi người dừng lại hỏi han thôi

quên tất cả - bình yên – tôi sẽ hứa

(Trong góc tối)

Em đâu dám ví mình như lá cỏ

Như loài hoa tim tím dại ven đường

Không vóc dáng không sắc màu không tất cả

Em chỉ là…tất cả chỉ là thương

…sau cánh cửa ngàn năm em vẫn đợi

(Sau cánh cửa)

Với ai đó, những kẻ cơ hội, những lời yêu thương có thể là “cái khéo đầu môi, cái khôn cuối mắt” (Xuân Sách), nhưng tuyệt không phải là lối sống của những người nhân hậu. Lời yêu thương không phải là thứ nói cho qua chuyện, cho vừa lòng. Lời yêu thương có thể cần sự tinh tế, nhưng không cần màu mè. Để thương yêu nhà thơ đã tự vượt lên chính mình, thu mình lại: Tri kỷ ơi lẽ nào anh chẳng thấy /em đã mềm hơn nước, mảnh hơn mây (Tri kỷ ơi, anh có về như gió). Để thương yêu nhà thơ đã tận cùng cái đẹp: Đã trót giếng sâu, đã trót mưa nguồn (Là ngày mai đừng vội hôm nay). Để thương yêu nhà thơ đã hết mình: Em quỳ xuống xin cho em được nói /những lời yêu sâu thẳm ngỡ chôn vùi../em quỳ xuống trải lời yêu đền đáp /vạn chiếc hôn nồng xin ủ ấm đời ai (Muộn) Một đôi khi chợt mệt mỏi trên đường đời, chợt một ngày ngoái lại, nhớ cái thời “tuổi mười tám” khi mọi thứ vừa chớm dậy, Đinh Thị Thu Vân ao ước:

ước mình về lại ngày xưa

xôn xao mười tám tuổi vừa chớm yêu

(Nếu giao thừa đến chậm hơn)

Chị không viết “trở lại ngày xưa”, mà viết “về lại ngày xưa” chứng tỏ, với chị, ngày xưa thương mến lắm. Nhưng ngày xưa trong tâm tưởng của chị là ngày xưa “xôn xao mười tám…vừa chớm yêu”, chứ không phải ngày xưa vu vơ nào hết. Cụm từ xôn xao mười tám cho thấy một thời thanh xuân ở chị sức trẻ, sức yêu căng tràn như thế nào! Đấy bạn thấy rồi đó, nhà thơ chỉ muốn về lại tuổi “chớm yêu” thôi, có nghĩa là chị chỉ có một khao khát thôi. Đúng không? Nếu vậy thì nói chị là “người đàn bà yêu” cũng không có gì là quá!. Tôi nghĩ vậy.

Nhưng dù không hão huyền, dù rất thiết thực…thi sỹ cũng đã không được toại nguyện. Đã có những đỗ vỡ và nước mắt. Trên trần gian này có ai đong đếm được bao nhiêu nước mắt từ những duyên phận? Kể cả nước mắt của những loài cỏ cây, chim trời cá nước, cả những vật vô tri vô giác. Duyên phận là gì mà khi đang sống con người đã phải bẽ bàng cảm thấy “ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau”, đến cả loài ve cũng “kêu sầu tháng hạ”, đến cả loài chim, như chim từ quy, cũng khắc khoải gọi bạn cạn đêm?:

Em quỳ xuống lòng em mặn đắng

Xin đừng về đôi mắt ấm ngày xưa

…anh yêu dấu không thuộc về ta nữa

Trái tim em ngày ấy lạc đâu rồi

Tình yêu lạc cuối trời như chẳng có

Đời chúng mình con nước lỡ trôi xuôi

(Ngày anh trở lại)

Những câu thơ diễn đạt sự đỗ vỡ. Ngôn từ xót xa: em quỳ xuống, mặn đắng, không thiuộc về ta nữa…, sắc thái biểu cảm đượm buồn: xin đừng về, lạc cuối trời, lỡ trôi xuôi…, tâm tư người viết có gì đó như xáo trộn, bất định: giã từ trong khi vẫn còn lưu dấu hoài niệm: mắt ấm, yêu dấu, chúng mình... Cái sự Anh yêu dấu không thuộc về ta nữa đã trải qua những ngày gắng gỏi để trì níu: Anh đừng đi, em không cách chi tìm (Nhớ). Nguyên nhân của cơ sự này không thuộc về chị. Cho dù trong tâm khảm vẫn còn những hoài niệm, thì mọi việc cũng đã trở nên xa lạ, vô cảm, muộn màng: trái tim em ngày ấy lạc đâu rồi (Ngày anh trở lại). Điều này hình như chị đã linh cảm, đã tự dặn mình: Không phải tình yêu đâu, V. ơi đừng đắm đuối (Không phải tình yêu). Tất cả cho thấy tâm hồn người viết an lành, từng trải, tiếng đập của trái tim đã qua những bồng bột, nỗi buồn tuy vô cùng nhưng không quá trĩu nặng hoang mang, không quá muộn phiền trách cứ, chỉ cay đắng thừa nhận, chỉ cố gắng chấp nhận Em thươmg xuôi mà nghe đau về ngươc, chỉ lặng lẽ thở dài, chỉ nhẫn tâm nhuốm một chút “buông” để “trôi” khi mọi sự đã khồng thể trở lại: Đời chúng mình con nước lỡ trôi xuôi (Ngày anh trở lại), Đời chúng mình đã cuối /lỡ một dịp dài /em đuối sức /trôi quanh (Đời chúng mình đã cuối)

Với người đời, đến đoạn này mọi việc coi như đã kết thúc, nhưng với thi nhân thì tất cả như mới bắt đầu. Bắt đầu đối diện, bắt đầu thừa nhận, bắt đầu vào cuộc, bắt đầu chịu đựng: em không nghĩ mình cô đơn đến vậy…/em ôm làm sao, che chắn làm sao cho ngày hôm qua đừng vỡ /em chôn tủi chôn đau vào đâu để đừng khốn khổ /đừng trắng hồn tan hoang (Em có thể làm gì khác hơn).

Với một trạng thái tâm hồn như vây, thế giới chung quanh bỗng nhiên chật hẹp, bí bức, trễ nải, mù tăm. Một thế giới bên ngoài phản chiếu thế giới vô hình bên trong tâm hồn người:

Ở một góc buồn quanh quẩn

mùa xuân lơ đãng quên về

(Tự chúc).

Ngày rất lặng, em chờ rưng rức bóng

Nén đầy tim, đầy mắt nỗi sông dài

Sao có thể, sao mù tăm đến vậy

(Vài phím chữ)

Một loạt từ thương cảm: một góc, buồn quanh quẩn, lơ đãng quên về, rất lặng, rưng rức bóng, nỗi sông dài, mù tăm…gợi lên tâm trạng hoang vắng trống trải. Từ góc này nhìn ra, ngoài kia không gian đang chuyển mùa mà dường như không hàm chứa ríu rít sự sống, mà như trở nên úa vàng, li tán:

Một chiếc lá giao mùa đang rụng đấy

Gió vô tâm đùa xót nỗi hao gầy

Hồn tôi úa võ vàng đêm giá rét

Thôi cũng đành như lá phút rời cây

(Giao mùa)

Cánh cửa quen thuộc hôm nào giờ đã trở nên hoang vu lạnh giá, bóng dáng người cũ giờ chỉ còn là “nhân ảnh” quá vãng, như thể: Trăm năm cửa khép hờ mưa nắng /Mãi chẳng ai về qua gọi cho (Tô Thùy Yên – Nỗi đợi). Khung cảnh quen thuộc mà toát lên nỗi bơ vơ, dù đã quen cay đắng đã quen chìm nổi /đã quen rồi lạnh lẽo nhân gian (Giếng cạn):

Không ai đợi tôi về sau cánh cửa

Không nồng nàn không ấm áp bao dung

(Một nửa đường đang khuất)

Ai đã đến và ai từng quên nhớ

Cánh cửa màu tro bàng bạc nỗi bơ vơ

(Bên thềm hoa dại trắng)

“Bơ vơ”, “cô đơn”, “một mình”... người ngoài cuộc chẳng phải bận tâm nhiều, nhưng những thứ cũ rích này không đơn giản vượt qua như vẫn tưởng, một khi là người trong cuộc: Em nhớ anh lơ đãng đã vô chừng /Xe quên khóa, cửa quên cài, quả vườn nhà chín ửng, bao lần quên chẳng hái (Ngày rất lẻ). Đấy là nỗi nhớ tê dại của người đang yêu. Tâm trạng lơ đãng, chông chênh ấy sẽ ám ảnh, đeo bám mọi nơi, mọi lúc: em không nghĩ mình cô đơn đến vậy /trong vời vợi chia lìa (Vài phím chữ), cả những khi, (và nhất là những khi) cầm bút: câu thơ em viết buồn xa xót buồn /đã vời vợi một thời thương /đã xô dạt mất trời sương khói rồi (Hồn em theo nén nhang rời sẽ đau), thêm một lời …sẽ vỡ nát những câu thơ /sẽ vỡ nát những gì em bám níu (Hạnh phúc sẽ chẳng nguyên lành). Và vô vọng buông trôi không phải là điều khó hiểu: em đã quen sống cùng vô vọng (Xa), em đã trót phía bên này bóng tối cuộn cô đơn (Phía bên này bóng tối). Cả những tuyệt vọng nữa: tôi ra đi, trái tim ngàn vết cứa /và linh hồn trơ trọi hắt hiu đau (Xin đắng chát dừng chân bên góc mộ).

Và thời gian vẫn là nỗi ám ảnh thường đêm, nỗi ám ảnh về đêm, những lúc đơn chiếc giữa đêm dài khuya khoắt (Gió bụi chông chênh), những khi gió rạc lòng đêm giá rét (Xa biệt phía vai người)

Mãi còn nỗi tàn khuya

Mãi còn sẫm đen mảnh tim bất lực

Mãi còn

Mãi còn

Phía chân trời bạc trắng những câu thơ

(Mãi còn nỗi tàn khuya)

Không còn em nữa ngày mai

Mây giăng mưa phủ, đêm đầy nỗi đêm

Em làm sao để ru yên

Thì thôi anh cố mà quên lỡ làng

(Hồn em theo nén nhang rồi sẽ đau)

Thơ Đinh Thị Thu Vân là vậy, chan chứa nỗi niềm, thảng thốt, khắc khoải giữa vây bủa của cô đơn…và rất ít niềm vui, nụ cười, không hiện diện mặt trời của một ngày nắng đẹp, làn sương của một sáng mát lành, bầu trời sao của một đêm lãng mạn, hoa lá của một khu vườn xanh tốt… Nhưng đâu đây giữa tiếng thơ buồn vẫn le lói, như thể giấu kín đâu đó những “đốm lửa” hy vọng, những đốm lửa của một tâm hồn vốn rất tình tứ và chưa bao giờ hết lãng mạn, có từ thuở xôn xao mười tám, cho đến khi trưởng thành: tôi như sống nửa đời đêm giấu lửa (Một nửa đường đang khuất):

Rồi sẽ có một người, sẽ có

Giữ thay em mười tám tuổi êm đềm

Cả sắc áo, chiếc nơ nào nho nhỏ

Có một người rồi sẽ giữ giùm em

(Em mười tám tuổi)

Thượng đế chưa bao giờ tước đi của bất cứ ai quyền hy vọng. Qua tất cả những xót xa kia, trong thẳm sâu tâm hồn chị dường như vẫn còn giấu kín một “thế giới lãng mạn” như những “đốm lửa” còn lại trong tro ấm:

Sau giấc ngủ đau ngày vẫn non màu lá

Hương vẫn hương, gió vẫn gió vô cùng

(Sau những giấc mơ buồn)

Ôi hạnh phúc dẫu phía nào xa thẳm

Cuối con đường tìm kiếm, vẫn còn anh

(Xao xác lá vàng)

Chắc chắn những “ đốm lửa” ấm nóng kia đủ sức để hồi sinh sự sống từ tro tàn, như một tất yếu từ sự cam chịu của tiền kiếp: tuyệt vọng này /muôn kiếp trước tôi vay (Có thể buồn hơn không), hình như từ kiếp nào /tôi là khói, là rong là những gì xác xơ hơn tàn tro hơn vụn lá (Xua nhau về hư vô)…,đến một lựa chọn rắn rỏi cần thiết: ngày tháng buồn thăm thẳm ấy em quên (Còn mỗi chiều này…), đến một triết lý sống tích cực, sau rất nhiều cay đắng:

Em đứng dậy trên hoang tàn đổ nát

…em không chết sau ngày tím tái

(Đợi)

Thơ Đinh Thị Thu Vân là thơ biểu hiện tâm trạng, không phải là thơ “miêu tả hiện thực”, không phải là những ghi chép theo kiểu báo chí, không phải là thơ chính luận. Chị né bớt miêu tả để nhanh chóng đi sâu vào biểu hiện, biểu hiện con người tình cảm của chị qua chủ đề tình yêu. Nhân vật trữ tình là anh và em. Tâm sự có thể là của riêng chị, cũng có thể có cả của “người đời” mà chị phân thân. Chủ thể trữ tình là người đang dắt dẫn câu chuyện buồn của nhân thế, câu chuyện miên man về sự trớ trêu của duyên phận, một “đề tài” muôn thuở đẫm nước mắt của nhân loại. Ngoài những chỗ ngôn từ được đẩy đến độ “căng” ở những “nốt” cao nhất, còn lại vẫn là giọng điệu trữ tình mềm mại, thương cảm, hệt như tiếng kêu khan trong đêm của con chim lẻ bạn. Nếu đó là ưu điểm, thì thơ chị rất dễ lan tỏa, dễ làm xúc động lòng người, dễ để lại ấn tượng trong tiếp nhận của người đọc. Nhưng nếu đó là nhược điểm thì thơ ấy đôi khi với cái cảm giác quá mềm đến mức tưởng như ủy mi kia rất dễ sa vào lụy tình. Tôi nghĩ, bên cạnh tiếng đàn bầu và khúc vọng cổ da diết kia, cần một giai điệu trữ tình tích cực, một sự khỏe khắn của ngôn từ, một sự xa rộng của liên tưởng, một sự lấp lánh của trí tuệ…mới ngõ hầu đáp ứng được người đọc thơ hôm nay. Tôi muốn tìm trong thơ Đinh Thị Thu Vân nắng gió của miệt vườn Nam bộ, hương thơm (hương vẫn hương, gió vẫn gió vô cùng) của muôn loài cây trái, cái ngọt ngào của đờn ca tài tử, cái âm vang dài rộng của những câu hò trên sông nước miền Tây…Đinh Thị Thu Vân đã có sẵn năng lực trữ tình dồi dào, việc “chuyển” những chất liệu “nền” kia vào thơ, chắc không phải là khó đối với chị.

Sinh năm 1955 (theo lời tự thuật của chị), nghĩa là khi hòa bình lập lại trên cả nước, chị vừa tròn hai mươi tuổi, lứa tuổi rất đẹp. Đọc thơ chị, cảm đoán trước đó chị đã đọc nhiều thơ ca đô thị Sài Gòn, chắc chị cũng đọc nhiều thơ ca của cả nước sau ngày thống nhất. Vì thế, tin rằng chị sẽ còn có nhiều đóng góp cho thơ ca Việt.

Tháng 4 năm 2020
Nguồn: http://www.lethieunhon.vn/

Mời đọc:

THI NHÂN, NỖI BUỒN & PHẬN CỎ.

TÌNH YÊU MANG PHẬN CỎ VÀ NHỮNG KHẮC KHOẢI TẬN CÙNG XANH

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm