TIN TỨC

Một người trong cuộc chơi thơ

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-02-19 11:17:29
mail facebook google pos stwis
3805 lượt xem

 

(Đọc sách “Bày cuộc thơ” của Đinh Thanh Huyền)

PGS.TS Nguyễn Thị Bình

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) – Tôi có cơ duyên quen biết Đinh Thanh Huyền từ mười mấy năm trước. Là giáo viên dạy văn “cứng cựa” ở một trường THPT chuyên, hẳn nhiên chị có năng lực thẩm thơ tốt. Chị cũng từng làm thơ, tôi đã đọc được tập thơ của chị do Nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành có cái tên rất ấn tượng “Nước mắt tôi là cát”. Một lối thơ câu chữ tiết chế, ít bận tâm vần luật, liều liên tưởng phóng túng khiến hình ảnh xuất hiện như từ cõi mộng du, nhưng có khả năng ám ảnh tâm trí người ta. Tôi tin, nếu tiếp tục làm thơ, chị sẽ nằm trong số những người mang khát vọng vượt thoát khỏi từ trường thơ truyền thống.

Nhưng tôi thật sự bất ngờ, khi biết chị đã viết những bài phê bình thơ xuất sắc đến mức khiến kinh nghiệm quen thuộc về thơ mà tôi có được tan loãng hẳn trong một phức cảm vừa hoang mang, vừa hân hoan. Tôi nhớ đến nỗi buồn nhà thơ Inrasara từng bày tỏ, rằng khủng hoảng thơ Việt mấy thập kỉ qua chủ yếu không nằm ở phía người sáng tác mà ở phía người đọc. Nghệ thuật, trong đó có thơ, luôn đòi hỏi sáng tạo. Đã sáng tạo là phải đương đầu với áp lực ghê gớm của thói quen, của thẩm mĩ truyền thống. Nếu thị hiếu của công chúng khăng khăng không đổi thì mọi cách tân của nhà thơ xem ra vô vọng hết. May thay, lịch sử nghệ thuật nhân loại cho thấy luôn có một bộ phận công chúng, dù lúc đầu rất ít ỏi, bắt được “tần số” mới từ những tác phẩm mang tinh thần tiên phong, làm động lực cho nỗ lực bứt phá khỏi các khuôn thước của hệ giá trị cũ, thúc đẩy mở rộng kinh nghiệm thẩm mĩ của thời đại.

Hơn nửa thế kỉ trước, “siêu độc giả” Hoài Thanh thành công vang dội với công trình phê bình Thơ mới: Thi nhân Việt Nam. Nguyên tắc thẩm thơ của ông đã thành lí luận kinh điển: lấy hồn ta để hiểu hồn người. Tôi nghĩ, đấy là khi người đọc và người làm thơ có cùng tâm thế cảm xúc, cùng “kênh” thẩm mĩ. Còn khi giữa hai bên có sự vênh lệch lớn về gout thẩm mĩ, khi điều nhà thơ muốn thể hiện qua ngôn từ với điều bạn đọc muốn thấy và có thể thấy rất ít song trùng, thậm chí chúng dường như thuộc về hai hệ hình thẩm mĩ, khi ấy thơ đem lại cả nỗi bất bình lẫn niềm nghi ngại. Thực tiễn thơ Việt đương đại với các trường hợp nhóm thơ Dòng chữ, thơ Hoàng Hưng, Nguyễn Quang Thiều, Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Phương Lan, Nguyệt Phạm, Bùi Chát, Lý Đợi, Nguyễn Thế Hoàng Linh… đã gây ra vô số cuộc tranh cãi om sòm ông nói gà bà nói vịt, không ít tiếng thở dài cao ngạo: cái hay thì không mới, cái mới thì không hay…

Chính lúc này công chúng thơ cần đến những tiếng nói phê bình có khả năng dẫn dắt, khai mở. Với tôi, những bài phê bình của Đinh Thanh Huyền trong tập sách này thực sự đã gây ra một cú shock nhận thức, làm thay đổi mạnh mẽ quan niệm về thơ, về vai trò cấp nghĩa cho thơ của người đọc. Khi tôi chia sẻ trên Facebook bài viết Game thủ (Đinh Thanh Huyền phê bình chùm thơ Thử làm bài thơ mất gà của Lê Vĩnh Tài), Phó giáo sư – Tiến sĩ Ngô Văn Giá đọc và nhắn tin ngay: “Cho em hỏi một chút về Đinh Thanh Huyền. Bài viết khá quá. Đọc bài này thấy mình bị lạc hậu rồi. Những ý tưởng của bạn ấy, mình lờ mờ thấy nhưng không gọi ra được, do mình không có công cụ. Ở đây cần cả ba: trực giác khoa học, làm chủ lí thuyết và khả năng biểu đạt sáng tỏ. Bạn ấy có cả ba, chị ạ”. Một Tiến sĩ Ngữ văn, bạn đồng niên với tôi, đang giảng dạy tại một trường đại học phía Nam gọi điện bày tỏ sự thán phục pha chút ngậm ngùi tự giễu: “Đọc bài phê bình thơ Lê Vĩnh Tài này, mình thấy mình đã bị loại ra khỏi cuộc chơi rồi cậu ạ”. Thêm mấy đồng nghiệp có uy tín nữa đánh giá cao bài Game thủ, tôi yên tâm liên hệ với Huyền, được chị gửi cho đọc hơn chục bài khác. Mới nhìn các tiêu đề thấy có vẻ chị viết phê bình theo lối tài tử, ngẫu hứng: tình cờ đọc, gặp được điều đắc ý thì viết chơi vậy thôi. Tất cả đều viết về thơ đương đại, tập trung vào ba tác giả: Mai Văn Phấn, Lê Vĩnh Tài, Nguyễn Thị Hải. Trừ Nguyễn Thị Hải là cái tên còn ít người biết, Mai Văn Phấn và Lê Vĩnh Tài đã được nói đến khá nhiều trên các sách báo, trong các cuộc hội thảo…

Nhưng tôi chưa thấy ai đọc họ theo cách của Huyền. Đọc kĩ hóa ra chị không hề ngẫu hứng. Huyền bao quát khá tốt đời sống văn chương Việt, nắm bắt rất tinh những chuyển động bề sâu của thơ Việt hiện đại, nhạy bén với những thành tựu của lí luận văn học để chọn ra được những phạm trù, những khái niệm công cụ thích hợp cho việc tiếp nhận những dạng thức thơ còn lạ lẫm với số đông độc giả. Điều quan trọng, theo tôi, chị đã có sẵn một niềm tin, một chủ kiến riêng về thơ, về mối quan hệ giữa sáng tạo và thưởng thức thơ. Và chị tìm thấy ở thơ Mai Văn Phấn, Lê Vĩnh Tài, Nguyễn Thị Hải những chứng cớ đích đáng cho niềm tin, cho chủ kiến của mình. Đọc chị, chúng ta sẽ nhận ra một kiểu người đọc rất thú vị: không chỉ “lấy hồn ta để hiểu hồn người” mà còn phổ hồn ta vào câu chữ của người. Chẳng hạn, cách chị diễn giải về Kinh mạch tôn giáo trong thơ Mai Văn Phấn: “Quan niệm về tôn giáo như là một giải pháp cho những cơn bấn loạn tâm thần, là ma túy gây lệ thuộc một cách ngọt ngào cho con người trong cuộc đời khổ đau bất tận đã khiến cho yếu tố tôn giáo trong thơ trở thành vật ngoại lai. Và tôn giáo trở thành nơi ẩn nấp tinh thần cho nhà thơ trong sự cưỡng bức của đời sống. Trường hợp Mai Văn Phấn hoàn toàn khác, tôn giáo là đức tin chứ không phải liều thuốc tâm thần (…) Mỗi tôn giáo là một con đường cho nhân loại tụ về một điểm: lòng từ bi cao cả, một thế giới toàn hảo trong tình yêu thương vô điều kiện. Mỗi thi tài là miếng bọt biển thấm hút năng lượng vô hạn của lòng từ bi đó. Tâm không phân biệt chính là phúc phận trời cho họ, để họ tắm trong ánh sáng của mọi tôn giáo bằng đức tin hồn nhiên nhất: Còn bóng ai in trên quả chuông, loa kèn, tang trống. Nơi ấy Phật Thích Ca và Chúa Giê-su cộng hưởng, làm sự lặng im cũng nhấp nhô chuyện trò trong khoảng trống ban mai”. (Trường ca Người cùng thời).


Bìa cuốn sách “Bày cuộc thơ” của Đinh Thanh Huyền.

Thật tình, tôi thấy cảm thức tôn giáo ở Đinh Thanh Huyền có khi còn đậm nét hơn cả trong thơ Mai Văn Phấn nữa, đậm đến mức có lẽ khiên nhà thơ khi đọc lời bình cũng phải giật mình: “Năm phần của tập thơ gợi nên một hành trình từ ngoài vào trong, từ thanh sơ đến sâu sắc, từ giản đơn đến đa bội. Nhưng Hương cúc chi và Tiếng sấm thì nhẹ nhõm, cái nhẹ của làn hương và âm thanh khác nhau về hình tướng mà tương đồng về bản thể. Không rõ Mai Văn Phấn có ý thức về điều này không, hay chất thiền trong ông đã xui khiến nên ý hướng đó.” (Vài ý nghĩ sớm về thơ hai câu Mai Văn Phấn). Đó chẳng phải người phê bình đang sáng tạo lại văn bản của nhà thơ đấy sao! Rất tự giác khi xác lập cho mình quan niệm về thơ, Đinh Thanh Huyền một mặt xem thơ như cuộc chơi, “từ chối phục vụ một món thơ “hay” theo menu của đại chúng”, chơi là nhằm hóa giải mọi nỗi sợ hãi trong di sản tinh thần con người. Chị đã phân tích tuyệt hay tính trò chơi trong chùm Thử làm bài thơ mất gà của Lê Vĩnh Tài (Game thủ). Ở đây, các tri nhận về văn hóa học, về tiếp nhận, về trò chơi… thẩm thấu tự nhiên, nhuần nhuyễn như đã có sẵn trong cơ chế tư duy của người đọc thơ, không chút gượng ép sống sượng như thường thấy ở kẻ vay mượn lí thuyết cốt cho thời thượng. Mặt khác, chị tin tưởng sâu sắc vào “quyền năng thực sự của thơ: mở cánh cửa vào thực tại” theo cách thức đặc thù.

Nhà thơ không chỉ làm mình nổi lên là tiếng nói duy nhất có giá trị mà còn xác quyết luôn tính thuần khiết, trong vắt của thực tại mà anh ta biểu đạt. Bởi nhà thơ đứng ngay trong thực tại nên anh ta hiểu cái thực tại đó không phải bằng chứng ngộ mà là đắc ngộ. Chứng ngộ là dần dần đến được chân lí. Đắc ngộ là bất thần ở trong chân lí (…) Tôi muốn nói đến trạng thái sống của thơ. Nó nhảy vào thực tại, không qua quá trình, không cần chuẩn bị. Đọc bài thơ ta bị ném thẳng vào thực tại, mọi rườm rà bị lột bỏ, ta thấy mình ở trong một cái biết chưa từng có. Lúc này ta không cần đến niềm tin, không cần được thuyết phục, ta chính là niềm tin rồi”. Hiểu như thế thì cách thơ mở cánh cửa vào thực tại là tính thơ: “Cái mà thơ diễn tả không dừng ở cảm xúc. Nó là nhận thức về chân lí tối thượng của hiện hữu”, “tính thơ là tính trong vắt sâu thẳm của thực tại đi qua thơ”. Cũng bởi thế, “tính thơ là tính toàn vẹn” (Thơ – như tôi nghĩ). Một quan niệm về thơ đương nhiên kéo theo quan niệm về tiếp nhận thơ: “Thơ là thực tại được trải nghiệm, trước hết bởi nhà thơ, sau đó là người đọc”. “nó không cần trung gian để biểu đạt chân lí. Tiếp đến, sự tiếp nhận của người đọc cũng là trực tiếp”. “Do tính trải nghiệm nên thực tại của người đọc này không thể là của người đọc kia (…) Đọc thơ là biến mình thành kẻ thực hành tính thơ”.

Đinh Thanh Huyền khái quát hai kiểu đọc thơ: “Kiểu thứ nhất, độc giả cố hiểu bài thơ như tác giả viết. Việc hiểu đúng ý nhà thơ khiến người đọc thấy mình ngang hàng với tác giả. Trong trường hợp này, độc giả là người đồng hành với thi ca. Kiểu thứ hai, người đọc tìm ra thực tại riêng của mình trong thơ. Từ đồng cảm, đồng hành, người đọc tách mình khỏi hiện thực của tác giả, bắt đầu nhìn thấu suốt chính mình. Đây là chỗ mà người đọc và nhà thơ rời xa nhau”. “Khoảnh khắc mà người đọc rời khỏi bài thơ để bước vào thế giới bản ngã của họ, là khoảnh khắc kì diệu. Khoảnh khắc người đọc rời khỏi bản ngã để đến được cái toàn thể, là “đạt đạo” (Thơ – như tôi nghĩ). Bản thân tôi, qua những trang phê bình thơ của Đinh Thanh Huyền, không chút nghi ngờ rằng chị nhất định thuộc về kiểu độc giả thứ hai, mang khát vọng “rót tất cả thực tại toàn vẹn trong trẻo nguyên thủy vào ngôn từ” của thơ, để kích hoạt ở người đọc sự tự trải nghiệm, rằng chị đã thật sự “đạt đạo” khi buông mình vào những cuộc trải nghiệm thơ.

Chị đã là một người đọc hạnh phúc khi gặp được những bài thơ có thể cho chị cơ hội nhìn thấu mình, để rời khỏi bài thơ bằng cảm giác tĩnh lặng của tự do. Những diễn giải của chị giúp tôi tìm lại được tình yêu với thơ giữa bao nhiêu bất ổn đời thường, giữa hỗn loạn những giá trị thật và giả, giữa ngổn ngang những kiếm tìm, thể nghiệm trong nghệ thuật… Đinh Thanh Huyền viết phê bình bằng thứ văn phong vừa dồi dào cảm xúc vừa mạch lạc, một lối văn giàu hàm lượng trí tuệ và mê hoặc như… tôn giáo. Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách này với mong muốn lan tỏa niềm hạnh phúc mà thơ có thể mang đến cho bạn đọc sau khi chúng ta quan sát một cách đọc thơ, một ứng xử thơ có lẽ là khác biệt đáng kể so với kinh nghiệm của số đông.

Hà Nội, mùa đông 2021
N.T.B

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm