TIN TỨC
  • Truyện
  • Mùa hoa khế rụng | Nhất Mạt Hương

Mùa hoa khế rụng | Nhất Mạt Hương

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-09-12 08:19:10
mail facebook google pos stwis
1733 lượt xem

CUỘC THI TRUYỆN NGẮN HAY 2022

NHẤT MẠT HƯƠNG

Chị Chi là con dâu cả của bác tôi. Bác tôi lại là trưởng họ. Nghiễm nhiên, chị là dâu trưởng của cả họ. Khi lấy anh Cường, chị mới 17 tuổi - cái tuổi làm cô dâu đã sớm lại gánh thêm trách nhiệm lớn lao kia, không biết có khi nào chị thấy quá sức?

Tôi không rõ, chỉ thấy nước da chị luôn trắng xanh và má thì ửng hồng, miệng cười một nửa. Mẹ tôi khen chị hay lam hay làm lại ít nói, nhẫn nhịn thật hợp để làm dâu bác gái. Chị còn xinh nhất làng bên, nên dù chỉ làm nông thì cũng hoàn toàn cân xứng với anh tôi - một cán bộ xã. Ngày nào cũng thấy chị ra đồng từ sáng sớm, trưa trật vẫn chưa về. Bởi ngoài việc cấy hái, ruộng đồng, bao giờ cũng phải thêm gánh cỏ cho bò ăn vì nhà bác nuôi 2 con bò, người chăn dắt lại hiếm. Bình thường bác trai đảm đương việc đó nhưng từ khi có dâu, bác tham gia ban quản trị của thôn, họp hành, bàn bạc suốt. Thế nên cắt cỏ là công việc thêm triền miên của chị. Bất kể ngày nắng hay ngày mưa, vụ chiêm hay vụ mùa.

Đi làm từ sáng sớm, đến trưa về lại cơm nước, nghỉ lát rồi đến công việc buổi chiều; chả mấy khi thấy chị ngơi tay. Thi thoảng, vào những buổi trưa mùa hè gay gắt nắng, khi thóc rơm đã vãn mà chưa thể ra đồng, chị mới ra ngồi ngoài bờ ao cùng lũ lít nhít chúng tôi. Gió từ ao thổi lên rười rượi, chị ngồi tựa vào gốc khế, mắt lim dim. Lúc đó nhìn chị đẹp như một nàng tiên trong khu vườn. Chị chẳng nói câu gì nhưng tôi đọc được nét thư thái và tận hưởng trong cái cằm trễ nải và nét cười thoáng qua trên vành môi. Tôi nhớ những buổi tối mùa hè lồng lộng gió và trăng. Chúng tôi tập trung hết trên sân nhà bác hai chơi đủ các trò con trẻ. Những trò chơi không bao giờ kết thúc. Nhưng đến lúc muồn muộn, tôi và chị Hà sẽ lãnh thêm nhiệm vụ canh cho chị Chi tắm. Nhà bác trưởng không có nhà tắm. Bình thường chị hay tranh thủ tắm qua quýt khi đã xong việc, lúc đó cũng chẳng còn sớm sủa gì; sân giếng lại ngay vườn, cây cối rậm rạp nên khá kín đáo. Nhưng những hôm trăng vằng vặc, sân giếng sáng trưng, chị lại bưng cái nón nhỏ đựng quần áo lên giếng nhà bác Hai - nơi có cái nhà tắm quây tường gạch, không mái. Thế cũng tươm tất chán so với các nhà xung quanh. Chỉ là sân đông đúc quá nên chị cử 2 đứa tôi loanh quanh ở cửa. Lần nào tắm xong chị cũng hồ hởi: mát quá, nhẹ nhõm cả người. Tôi hay ngẩn người ra mỗi khi chị bước ra từ nhà tắm. Bộ quần áo hoa mềm mại, không sùm sụp như lúc chị đi làm đồng; làn da trắng lấp lóa hòa cùng ánh trăng và vài sợi tóc ướt thả xuống bờ vai gầy mỏng mảnh. Tôi vẫn thắc mắc, nhìn chị mảnh mai vậy mà sao làm việc lại dai sức, bền bỉ chẳng kém ai.

Chị sinh lần lượt 2 đứa con. Thằng Lâm khỏe mạnh, ngoan ngoãn, cái Châm cách 4 năm gầy gò chút nhưng rất linh lợi. Cả họ vồ vập, xuýt xoa, nói nhà bác cả có phúc : dâu hiền, cháu thảo. Nhưng bác gái thỉnh thoảng vẫn chẹp chẹp miệng ra chiều chưa hài lòng vì nhà nọ nhà kia có dâu giỏi chợ búa, khấm khá từng ngày, nhìn mà ham. Chị Chi không nói một lời, ngày ngày vẫn thu vén công việc đồng áng, lợn gà, trâu bò… giờ thêm cả chăm con. Việc càng nhiều, chị càng lặng lẽ. Nhiều khi tôi chỉ thấp thoáng thấy bóng chị bên sân giếng, cầu ao hay chái bếp.

Rồi việc học hành cuốn chúng tôi đi. Không còn những buổi trưa thơ thẩn bên bờ ao ngắm hoa khế, lùng ổi đầu mùa và nghe chim hót. Những buổi tối đông đủ trên sân nhà bác Hai cũng thưa dần. Anh Cường chồng chị thì đi tối ngày. Giờ anh kiêm thêm cả mảng văn hóa nữa nên việc càng nhiều; chỉ có tiền không thấy thêm - bác gái vừa nói vừa thở hắt ra.

Một đận, bỗng thấy nhà bác sắm bao nhiêu đồ nghề, nào cối xay, nồi đồng, giàn phơi… chúng tôi háo hức, tò mò không biết sắp có thay đổi gì. Hóa ra, chị Chi quyết định mang nghề làm mì của làng mình về nhà chồng. Chị kể, chị biết bóc bánh, cắt mì từ lúc 5, 6 tuổi; 10 tuổi đã có thể ngồi tráng bánh thay u và 13 tuổi là lao động chủ chốt trong bếp của nhà. Chị làm mì giỏi hơn làm ruộng. Thế sao lúc mới về chị không làm luôn ? Chị sợ mọi người trong nhà chưa quen việc này, nhà lại neo người. Làm nghề vất và tốn người hơn làm ruộng. Nhưng hôm trước, về u, ngồi tráng bánh một lúc, thấy nhớ nghề quá. Xong bảo với 2 bác và anh Cường, được ủng hộ nên chị quyết tâm làm.

Bác cả đắp một cái lò đất trong góc bếp làm nơi tráng bánh, cái cối xay đặt ngoài sân giếng cạnh bể nước mưa. Nhà ngang là nơi để giàn phơi, bóc bánh, thu bánh và cắt sợi. Mọi thứ có vẻ rất bài bản, ổn thỏa. Sáng sáng, chị Chi dậy từ tờ mờ đất để tráng bánh. Anh Cường tranh thủ vác những cái giàn đã rải đều bánh giăng kín sân trước khi đi làm. Chị tráng đến già nửa buổi thì hết bột, xoay ra rửa, dọn đồ nghề rồi sấp ngửa công việc đồng áng. Nhà bác chuyển làm mì, không nuôi bò nữa nhưng lại nuôi thêm lợn gà - để nó ăn đầu thừa đuôi thẹo, bột bánh vương vãi. Công việc của chị Chi tính ra vất gấp đôi, gấp rưỡi nhưng lạ thay, thấy chị vui vẻ, xăm xắn lắm. Nụ cười vẫn một nửa nhưng má cứ ưng ửng như trái cà chua vừa chín dậy. Những buổi sáng được nghỉ học, chúng tôi tíu tít bên bếp lò tráng, thỉnh thoảng chị lại gỡ mấy cái bánh mỏng tang, bóc ra, trộn mỡ hành thành món bánh cuốn nóng hổi vô cùng hấp dẫn. Thằng Lâm, cái Chi cũng ríu rít đòi ăn. Chị luôn tay đổ bột, tán mỏng, đậy vung… mắt lấp lánh nhìn đám trẻ háu đói. Có điều gì hân hoan, mới mẻ ở chị mà tôi chưa từng nhìn thấy trước đó. Đến trưa, cả nhà được huy động tập trung ở khu nhà ngang để làm công đoạn cắt mì. Cái máy cắt đơn giản chỉ gồm trục với một vòng sắt chia rãnh đều để đưa bánh tráng đã phơi ráo vào, cuộn hết vòng, sang đến bên kia thành những sợi đều tăm tắp. Những sợi này được gập đôi, xếp ngay ngắn lại trên giàn thành từng bó. Chiếc máy cắt chạy miệt mài từ đầu đến cuối buổi chiều không ngơi nghỉ. Người nọ, người kia uể oải, lần lượt đứng dậy; chỉ có chị Chi «đóng đô» trên chiếc ghế con. Suốt bao ngày nắng lửa.

Rộn ràng và có thêm thu nhập nhưng chỉ đươc thời gian ngắn thì bếp mì nhà bác cả nghỉ. Vì thiếu người xay bột. Cứ 12 giờ đêm, 1 giờ sáng vẫn quay vòng vòng bên cái cối ngoài sân giếng thì ai trụ được? Việc thu mì, cất mì cũng gian nan. Thế là giải tán. Nhà cửa lại gọn gàng, yên tĩnh nhưng chúng tôi không còn thỉnh thoảng được ăn bánh cuốn nóng hổi ngay cạnh lò; trưa đến không còn tụ tập tranh nhau bóc bánh, xếp mì… Và mắt chị Chi lại vời vợi, xa xăm.

Khi thằng Lâm học lớp 7, đúng hôm nhận tin đạt giải nhì trong kì thi học sinh giỏi thì chị Chi nhận kết quả mắc bạo bệnh. Chị thấy đau đầu và buồn nôn đã mấy tháng, cố chịu; cứ tự trấn an là tại thời tiết khắc nghiệt nhưng đến khi tưởng nổ đầu đành phải đi bệnh viện kiểm tra. Anh Cường phải bỏ dở cuộc họp sau bao lần nấn ná vì chị đau đến mức lịm đi. Tiếp đó là những tháng ngày triền miên trong bệnh viện. Sau 3 tháng, chị được trả về với cái đầu trọc lốc và một bên tai nghễnh ngãng. Ai nhìn thấy cũng xót xa. U chị sang chăm con gái, bao lần tôi nhìn thấy bà lén khóc bên gốc cây khế khi mang quần áo ra cầu ao giặt.

Lũ chúng tôi thập thò bên cửa sổ buồng. Chị vẫy vào, luôn miệng hỏi, nhìn chị giờ xấu lắm phải không? Tay chị lần trên đầu, thảng thốt: «Tóc đâu rồi? Sao tóc đi đâu hết cả rồi?». Chị yên tâm, sau lại tốt, lại dài; chị chả bảo chị ăn bao nhiêu vào tóc hết còn gì - Tôi động viên. Chị nghển lên nghe, mắt dò ý. Tôi chợt nhận ra, tai chị đâu còn nghe rõ như xưa. Bỗng nhiên nước mắt tôi chảy ra mà chẳng biết nói gì thêm. Chị lẩm bẩm: «Rồi tóc sẽ dài, sẽ dài; lại gội đầu bồ kết, hương nhu, vỏ bưởi; lại hong tóc ngoài cầu ao, hoa khế rụng đầy vai áo, anh Cường vẫn bảo nhìn cảnh đó đẹp lắm, đẹp lắm». Thế chị phải ăn nhiều vào nhé. Ừ, phải ăn nhiều, ăn thật nhiều. Nhưng căn bệnh làm chị không thể ăn nhiều vì tiêu hóa khó khăn. Đồ ngon, bổ, dễ nuốt thì thi thoảng mới có. Bác gái thở dài nhiều hơn vì nhà thiếu người làm, mùa vụ cứ phải huy động các chị dâu thứ đã ra ở riêng. Chăm chị đã có bên ngoại túc trực nhiệt tình nhưng bác phải ra vào tiếp khách ngày đêm. Bác luôn miệng kêu đau, mệt. Được vài bữa cũng nằm bệt trong giường. Anh Cường thì đi mải miết, có những đêm không về. Tôi biết nhiều đêm chị Chi không ngủ nổi. Vì đau đớn, lo âu và trăm mối. Trong căn buồng mờ tối chỉ còn tiếng mọt kẽo kẹt trò chuyện cùng với chị. Thỉnh thoảng vào thăm, tôi thấy mắt chị mở to hơn, ngân ngấn. Hay vì chị gầy quá chỉ còn thấy mắt? Đám quầng thâm sậm, làn da héo dần trong vóc dáng mong manh. Chị Chi xinh đẹp của tôi đâu rồi? Gò má ửng hồng của chị đâu rồi, cả nét cười nửa miệng khiêm nhường và đôi bàn tay thoăn thoắt, khéo léo - sao giờ cứ gân guốc, cứng đơ? Tôi xót xa không tìm ra sự liên quan giữa bộ dạng đó và hình ảnh chỉ mới cách đây nửa năm. Và tôi lờ mờ hiểu, chị đã phải chịu đựng như thế nào - không chỉ là bệnh tật giày vò. Những đêm anh Cường không về dày hơn cùng với từng đám tóc trên đầu chị cũng rơi xuống nhiều hơn. Không quét xuể. Ai cũng nghĩ chị chỉ trụ được vài ba tháng. Mọi thân thương, thăm hỏi, xa xót dồn dập.

Thế mà rồi, điều kì diệu xảy ra. Không hiểu do việc thử nghiệm phương pháp chữa bệnh mới có kết quả hay tác dụng của loại thuốc Đông y mà anh trai chị cất công tìm kiếm mà chị hồi phục dần. Hồi phục trong trạng thái sống chung với thuốc, là phấp phỏng không biết được được đến lúc nào. Chị đã có thể ngồi dậy, đi lại, làm việc nhẹ và ăn uống theo chế độ đặc biệt. Chị nhờ người mua nứa về đan hàng mã, thỉnh thoảng túc tắc ra đồng chăm rau cỏ. Ngày giỗ chạp, bác gái lại đứng lên quán xuyến. Chị lặng lẽ vào ra từ bếp đến sân giếng. Không bén mảng đến nhà ngang là nơi sắp đặt, bày biện cỗ bàn.

Tự nhiên, chị hay thèm đồ chua. Thỉnh thoảng cứ bảo lũ trẻ con trẩy khế ngoài vườn vào rồi nhấm nháp. Chuyện anh Cường qua lại với một cô cùng cơ quan đã góa chồng - dù mọi người tìm cách giấu cũng đến tai chị - dù cả hai tai chị giờ đã nghễnh ngãng nặng hơn xưa. Có lúc ngồi trong vườn với rổ khế lẫn sung, chị đờ đẫn. Không biết khế và sung chua chát thế nào nhưng mặt chị không hề biến sắc. Chỉ có ánh mắt thoáng vằn lên tia rất lạ.

Chị cứ lay lắt như vậy trong sự hồi hộp của mọi người, thỉnh thoảng ra viện kiểm tra các chỉ số vẫn chập chờn. Ngoảnh đi ngoảnh lại đã 5 năm. Đến lúc mà mọi người ngỡ chị đã thắng được cơn thử thách của số phận thì đùng cái, một ngày chị yếu. Không ăn không uống gì mấy ngày rồi chị ra đi. Đúng dịp thằng Lâm có giấy báo trúng tuyển Đại học Y. Chẳng biết linh cảm thế nào mà trước đó 1 tuần, chị gọi nó vào, lôi hết số tiền dành dụm được bấy lâu đưa cho con và dặn: Mẹ chỉ có ngần này, con cố gắng học hành và yêu thương, bảo ban em Châm nhé!

Ngày tiễn chị, nhìn 2 đứa trẻ không ai cầm lòng được. Ánh mắt của thằng Lâm sao cũng vời vợi như mắt chị. Đám tóc dày rũ xuống trán nó lơ phơ một nỗi niềm lặng ngắt. Nó học giỏi, ngoan ngoãn nhưng cũng rất kiệm lời, không vui vẻ, hồn nhiên như những đứa trẻ khác. Cái Châm trốn trong góc buồng thất thần, hai cái má au au đỏ như mặt trời sắp ngủ. Chúng đã phấp phỏng cho ngày này từ lâu lắm mà vẫn cứ chông chênh, chực ngã.

Cho dù cố thêm được mấy năm, nhưng chị ra đi khi vẫn còn quá trẻ. Đám tang chị xong, tôi nhìn ra cây khế ngoài vườn; mùa này, hoa bắt đầu he hé nở. Tôi tưởng như thấy từng vạt hoa đang rơi lả tả, chị Chi ngước lên, từng đốm hoa vương trên má, trên tóc. Chị tủm tỉm cười như một nàng tiên.

Anh Cường là trưởng họ, chắc chắn sau này sẽ lấy thêm chị dâu mới để về gánh vác công việc gia đình. Không biết, chị dâu mới có đảm đang, có vừa lòng bác gái và có thích ra vườn mỗi mùa hoa khế rụng?  

Nguồn: Tạp Chí Văn Nghệ TP.HCM

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mùa hoa gạo đỏ - Truyện ngắn Đặng Thị Phúc Hải
Tháng Ba ở làng Ngái không chỉ đơn thuần là một mùa đi qua. Đó là khoảng thời gian đất trời chạm vào nhau trong một vẻ đẹp hư ảo, khi dòng Kiến Giang trầm mặc như dải lụa xanh rêu, lặng lẽ ôm ấp linh hồn mảnh đất này trong vòng tay bao dung và miên viễn. Trong cái tiết trời giêng hai lất phất mưa phùn ấy, làng Ngái hiện ra như một bức họa thủy mặc đang chuyển mình tỉnh thức, nơi mùi hương nồng nàn của hoa xoan rắc tím những lối nhỏ ngoằn ngoèo, hòa quyện với hơi thở của đất ẩm và tiếng thở dài của những mùa cũ. Từ phía đình Ngái, nơi hai cây gạo già đã đứng đó qua bao mùa mưa nắng, sắc đỏ của những bông hoa gạo bắt đầu thắp lên giữa vòm trời, như những đốm lửa nhỏ âm thầm cháy trong ký ức của cả một làng quê. Ở làng Ngái, mỗi mùa tháng Ba về đều mang theo một nỗi bâng khuâng khó gọi thành tên. Dòng Kiến Giang vẫn chảy chậm rãi như thuở nào, mang theo những câu chuyện của đất, của người, và của những linh hồn từng rời đi nhưng chưa bao giờ thật sự rời khỏi miền ký ức này.
Xem thêm
Thương câu hát cũ – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
“Có những điều không còn ở lại giữa đời, nhưng câu hát cũ thì vẫn ở lại trong lòng người.”Dưới bến phà cũ của một thị trấn ven sông Hậu, người ta quen nhìn thấy con nhỏ Hai Thương ôm cây đờn kìm đi qua mỗi buổi tối. Nó không phải nghệ sĩ nổi tiếng gì, chỉ là đào trẻ của một đoàn cải lương tỉnh lẻ, vậy mà bước chân lúc nào cũng ngay ngắn, như thể sàn đất quê mình chính là sân khấu lớn. Hai Thương sinh ra trong một gia đình có truyền thống ca tài tử. Ngoại nó từng ca vọng cổ trong những đêm cúng đình, giọng trong và cao vút. Má nó theo đoàn hát mấy năm tuổi trẻ, sau lấy chồng rồi nghỉ. Ba nó làm nghề vá lưới, ít nói, nhưng mỗi lần nghe ai mở bản Dạ Cổ Hoài Lang là ngồi im lặng rất lâu. Trong căn nhà lợp tôn nóng hầm hập buổi trưa, tiếng đờn và tiếng ca là thứ âm thanh quen thuộc như tiếng gà gáy sáng.
Xem thêm
Câu cua – Truyện ngắn Lê Văn Tám
Sơn bơi xuồng về, nó ấm ức lắm vì ông Giáo keo kiệt không cho anh em nó mượn cái bình, bình ac quy Đồng Nai nhà nó hết điện đem đi sạc hôm qua, nhanh thì cũng phải hai hôm nữa mơi đủ điện lấy về. Tức lắm, sau này đi học điện, kéo điện về sài cho đã, mua cái tivi màu 50 in coi cho thấy cả cỏ trên sân, thấy cả lông chân cầu thủ, khỏi tivi trắng đen, nạp bình chi cho mệt người. Nó làu nhàu nói với Thành.
Xem thêm
Cát lư hương - Truyện ngắn Lệ Hằng
“Ba, ba… ơ kìa ba!”. Cánh cổng bị chiếc xe va trúng kêu xoảng lên một tiếng khó chịu vô cùng. Tôi nhìn người đàn ông lưng khòm gầy guộc quẩy chiếc nón đội lên đầu rồi dứt khoát đẩy xe cát ra khỏi sân mà chới với gọi theo.
Xem thêm
Đi qua mình truyện ngắn Chu Phương Thảo
Căn nhà nhỏ chìm trong một thứ im lặng quen thuộc đến mức không còn ai đủ sức gọi tên. Không tiếng cãi vã, không lời trách móc, cũng chẳng có một câu xin lỗi hay chia tay nào để khép lại những điều đã nứt vỡ từ rất lâu. Chỉ có hai con người, mỗi người ngồi trong phần tối của riêng mình, lặng lẽ chịu đựng một nỗi đau khác biệt, như thể sự im lặng này đã trở thành cách duy nhất để họ còn có thể ở lại bên nhau.
Xem thêm
Trở lại Phong Điền - Truyện ngắn Kim Quyên
Xe đang qua cầu Cần Thơ. Cây cầu thế kỷ lừng lững soi bóng trên dòng nước bạc mênh mang, những chiếc dây giăng khổng lồ nối từ nóc xuống thân cầu khiến ta không thể hình dung được khối óc và bàn tay con người đã làm nên những chiếc cầu đẹp, hiện đại mang tầm cỡ thế giới. Ban đêm, chiếc cầu mới khoe hết những nét rực rỡ của nó, đèn hoa giăng quanh cầu nhấp nháy khiến khi ngồi trên xe ta có cảm giác đang trôi trên dãy ngân hà của thời hồng hoang nào đó. Phía dưới là dòng sông mênh mông sóng vỗ, những cụm lục bình trôi mãi về nơi chân trời xa tít…
Xem thêm
Cố nhân - Truyện ngắn Cao Duy Sơn
Trở về Cô Sầu, anh đã đi qua hai mươi ba năm, ba tháng, hai mươi ba ngày. Đuôi các con số kết bằng con số ba trùng hợp thật ngẫu nhiên. Bước qua phố nhỏ, mái ngói tuềnh toàng gợi bao ký ức. Thời gian làm con người đổi thay nhưng phố xưa vẫn phố xưa đây.
Xem thêm
Rừng Thiêng - Truyện ngắn Võ Đào Phương Trâm
Rừng mang linh hồn từ máu và nước mắt, những lời nguyền kỳ bí không ít lần vận lên ngôi mộ của những gã ngông nghênh, hằn sâu ấn tích cho những ai vắt cuộc đời mình bằng nghề lộc gỗ mà không hiểu được nguyên tắc từ nơi rừng thiêng nước độc...
Xem thêm
Linh hồn bị giam cầm – Truyện ngắn Angela Kosta
Angela Kosta sinh ra tại Elbasan (Albania) và sống tại Ý từ năm 1995. Bà là Giám đốc điều hành của các Tạp chí: MIRIADE, NUANCES ON THE PANORAMIC CANVAS, BRIDGES OF LITERATURE, biên tập viên, nhà viết tiểu luận, nhà báo, nhà phê bình văn học, nhà xuất bản và nhà quảng bá văn học. Bà đã xuất bản 25 cuốn sách: tiểu thuyết, thơ và truyện cổ tích bằng tiếng Albania, tiếng Ý, tiếng Ả Rập, tiếng Pháp, tiếng Hàn, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh. Tác phẩm của Angela Kosta đã được dịch và xuất bản ở 40 ngôn ngữ nước ngoài và quốc gia. Năm 2023, tạp chí OBELISK tuyên bố bà là dịch giả xuất sắc nhất với bản dịch của nhà thơ đoạt giải Nobel Giosuè Alessandro Giuseppe Carducci.
Xem thêm
Genki và chiếc nắng trước hiên – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
Chiều ấy, nắng chạm rất khẽ vào lưng Genki. Cái bóng của nó in xuống nền gạch. Hơi méo, hơi lệch nhưng rất rõ một cái bóng đủ đầy. Tôi chợt hiểu: con người ta, cả đời đi tìm hai chữ “hoàn hảo”. Nhưng có lẽ, điều đáng quý hơn là “toàn vẹn”. Toàn vẹn trong chính hình dạng của mình. Toàn vẹn trong những gì mình có, chứ không phải trong những gì mình thiếu. Genki không dạy tôi cách trở nên mạnh mẽ, nó dạy tôi cách trở nên dịu dàng với chính mình.
Xem thêm
Như xuân tìm xứ – Truyện ngắn của Tống Phước Bảo
Thằng Ấu nhất quyết chỉ có cha già xuôi ghe từ Cái Rơn xuống chợ đèn dầu mỗi cuối tuần mới biết. Chứ hỏi khắp cái chợ thì ai cũng lắc đầu nguầy nguậy. Đám bán chợ này sinh sau đẻ muộn, khi mà trái sáng đã thôi rơi ngoài phía rạch, hỏa châu thôi làm đèn soi đêm khu bốn.
Xem thêm
Tôi viết truyện ngắn Tết - Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều
Một buổi chiều khi chị đang tha thẩn trong vườn bên những khóm hoa hồng thì Giêm bước đến và nói gì đó nhưng chị không hiểu. Chị vô cùng lúng túng và khó chịu. Chị muốn bỏ vào nhà. Nhưng thấy Giêm vẫn hào hứng nói chị không lỡ bỏ đi. Đang lúc chị không biết làm cách nào thì chàng nhà văn trẻ xuất hiện. “Cậu làm gì mà mất mặt cả chiều thế. Cậu có nhiệm vụ làm phiên dịch cho chúng tôi đấy’’. Chị gắt một cách vô lý. Hình như Giêm cũng rất mừng khi chàng nhà văn trẻ xuất hiện. Giêm nói một tràng dài. Chị muốn biết Giêm nói gì nhưng không giục chàng nhà văn trẻ dịch. “Tôi cũng không có nhu cầu nghe’’. Chị nói thầm. “Anh ấy bảo nhà anh ấy cũng có một khu vườn nhỏ và đầy hoa hồng – Chàng nhà văn trẻ dịch – Một năm sau khi từ chiến trường Việt Nam trở về, anh ấy bị trầm cảm.
Xem thêm
Người giỏi Sán Trá - Bút ký của Thế Quynh
Vượt dốc Bản Công, chiếc xe Honda Win 100 chạy ì ì, tiếng máy gằn lên nặng nhọc. Ngồi sau tay lái Hờ A Xà - nguyên cán bộ văn hóa xã Bản Công (nay là xã Hạnh Phúc) mà lòng tôi cứ thấp thỏm mỗi lúc vào cua. Hơn chục km, phân nửa thuộc thôn Bản Công đã bê tông hóa, còn lại vẫn là đường đất.
Xem thêm
Con Ngọ và tôi - Truyện ngắn Kim Quyên
Năm đó, con Ngọ 16 tuổi, còn tôi hơn nó 2 tuổi. Nó con ông cậu, em ruột của má tôi nên nó kêu tôi bằng chị. Gia đình bên ngoại nó không có dì cậu nào hết nên nó xem tôi như người chị ruột. Hai chị em gặp nhau là tíu tít không rời.
Xem thêm
Người cận vệ của vua Hàm Nghi - Truyện ngắn của Trần Thúc Hà
Một người ở xuôi thường lên xuống các bản làng dân tộc thiểu số bán muối và mua các sản vật của rừng. Người ấy cũng đã có vài lần đến bản ông, một bản làng tận rừng sâu heo hút trên dãy Trường Sơn, nơi thượng nguồn sông Long Đại, sông Nhật Lệ, sát biên giới với nước Lào.
Xem thêm
Mây trắng Tràng An – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Từng dải dài lững lờ như tơ trời vắt qua bầu không gian xám nhạt. Có cụm mây xốp như gấm, có mảng mây mỏng như làn khói, có vệt rời rạc như hơi thở cuối cùng của một người hấp hối. Tất cả trôi, không âm thanh, không phương hướng. Trôi như đã trôi ngàn năm trên trời đất Tràng An này.
Xem thêm
Hoa vẫn nở - Truyện ngắn của Nguyễn Thị Minh Phương
Hoa vẫn nở của Nguyễn Thị Minh Phương là một truyện ngắn thấm đẫm không khí miền núi, nơi bi kịch gia đình, thân phận người đàn bà và sự mù quáng của lòng ghen được kể lại bằng giọng văn chậm, sâu và nhân ái.
Xem thêm
Khai khẩu - Truyện ngắn của Nguyễn Trường
Lúc đó khoảng 9 giờ sáng, một người lính tìm gặp Diệu Thúy, trao cho cô lá thư, nói là của ngài Trung tá tỉnh trưởng Kiến Hòa.Diệu Thúy hồi hộp mở thư ra đọc: “Gửi cô Diệu Thúy. Việc cô nhờ tôi đã có kết quả, đúng 11 giờ trưa nay, cô đưa cậu Hai đến dinh tỉnh trưởng, phải đúng giờ”. Bức thư làm Diệu Thúy hiểu và bắt đầu lo. Bởi vì, kể ra cô cũng liều thật, bây giờ ngài trung tá tỉnh trưởng làm được theo lời khẩn cầu của cô, nghĩa là cô phải đáp đền những đề nghị của ngài, mà cái đề nghị đó mới oái oăm làm sao.
Xem thêm