TIN TỨC

“Nghiêng” đã làm nên thương hiệu thơ Hồ Bá Thâm

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-05-15 07:34:12
mail facebook google pos stwis
2173 lượt xem

NGUYỄN VĂN HÒA

Hồ Bá Thâm vốn là một Tiến sĩ Triết học, làm khoa học và giảng dạy là công việc chính, nhưng làm thơ cũng là một nhu cầu tự thân, như một thú vui tao nhã của ông sau những giờ làm việc căng thẳng, nó bất chợt đến như một “người tình”. Nên thơ còn là một người bạn tình, một người bạn đời, bạn tâm giao để cùng chia sẻ, tâm sự buồn vui , trở trăn nhân thế với mình và với người...

Ông không chỉ là một nhà thơ có tài mà còn là một trí thức mẫn cảm trước thời cuộc. Thơ làm cho triết gần đời hơn, xanh hơn mà triết lại lắng đọng vào thơ ngời lên ánh ngọc trong bể đời bãi dâu… Vì thế, khi đọc thơ của Hồ Bá Thâm, người đọc nhận ra chất trữ tình, lãng mạn và cả những chiêm nghiệm sâu sắc về thế sự nhân sinh, những thông điệp từ trái tim mà ông muốn ký gửi.


Tác giả Nguyễn Văn Hòa và Tiến sĩ - nhà thơ Hồ Bá Thâm

Đúng là với Hồ Bá Thâm, thơ chính là người bạn tri âm để ông gửi gắm nỗi niềm, sau bao buồn vui của cuộc sống. Ta biết nói gì với mai sau/ Thời gian vun vút thổi qua đầu/ Câu thơ còn lại cùng ta hát/ Nốt nhạc đời xanh góp một gam màu.

Đến thời điểm này, Hồ Bá Thâm đã xuất bản 13 tập thơ dày dặn với nhiều góc nhìn, cảm trí và cảm xúc. Có trữ tình về tình yêu đôi lứa, về quê hương đất nước, về đồng đội một thời khói lửa đau thương và anh dũng, trữ tình chính luận, triết luận về thời cuộc. Nhưng nhắc đến Hồ Bá Thâm người ta biết đến nhiều nhất và ấn tượng nhất vẫn là bài thơ dài: Nghiêng. Đúng là nhiều nhà thơ xưa này đã viết nhiều bài thơ có từ NGHIÊNG, nhưng nghiêngsay, nghiêng… lạ đến như Hồ Bá Thâm thì quả là hiếm có, phải nói là “có một không hai” như có người đã viết bài bình luận!

Nghiêng của Hồ Bá Thâm là một bài thơ đặc biệt, độc đáo. Bài thơ gồm 11 liên khúc, với 288 câu thơ và có đến 296 từ Nghiêng, dòng thơ nào cũng có từ nghiêng, thậm chí hai từ Nghiêng. Chính sự đặc biệt, độc lạ này mà khi nhắc đến bài thơ là người ta nhớ đến ông và ngược lại nhắc đến ông thì người ta nhớ ngay đến bài thơ. Nghiêng đã làm nên thương hiệu thơ của Hồ Bá Thâm. Và ông đã được trao Bằng Kỷ lục gia Việt Nam, người sáng tác thơ có nhiều từ "nghiêng" nhất vào năm 2012.

Tôi lấy làm lạ, nên đọc đi đọc lại bài thơ nhiều lần, càng đọc càng thấy hay vì có nhiều thông điệp ẩn hiện, thấp thoáng ẩn hiện từ chiều sâu từ ngữ, âm điệu, sắc thái, thâm ý, ý tại ngôn ngoại mà tác giả muốn chuyển tải, gửi gắm. Tôi cũng vô cùng khâm phục lối tư duy và cách dùng từ độc đáo của nhà thơ Hồ Bá Thâm để chuyên chở, phản ánh, bày tỏ quan điểm, thái độ của mình trước những vấn đề đã, đang và sẽ diễn ra trong đời sống.

Đọc hết bài thơ Nghiêng, hiển hiện một thế giới đa sắc màu, đa điệu đàng, mọi góc cạnh, mọi phương diện của đời sống được Hồ Bá Thâm khéo léo chuyển tải vào trong từng hình ảnh, lời thơ vừa dân gian vừa bác học trong sự hài hòa tâm trí. Ở đó có vui, buồn, được mất, nhân ái, bao dung và cả những bất cập, những điều không hay, không tốt, nếu không muốn nói là “xấu xa” đang hiện hữu trong mọi hoạt động của đời sống.

Khi chưa gặp và chưa trò chuyện với Hồ Bá Thâm, tôi cứ tưởng bài thơ được ông sáng tác trong một thời gian khá dài, qua nhiều lần chỉnh sửa mới có một bài thơ giàu trữ lượng “thông tin”, thi ảnh, đầy ắp và ẩn chưa “kiến thức” trong sự xâu chuỗi, liên tưởng độc đáo như thế. Chính tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần để chọn in trong tập Thơ Bạn Thơ 1, do vợ chồng nhà thơ Nguyễn Nguyên Bảy và Lý Phương Liên làm Chủ biên.

Nhưng may mắn là trong một lần gặp Tiến sĩ Hồ Bá Thâm tại Sài Gòn, suốt hơn mấy giờ đồng hồ trò chuyện với ông, tôi mới hiểu rõ hơn về con người, tính cách cũng như phong thái làm việc của một trí thức chân chính, nghiêm cẩn như ông. Điều đặc biệt, Hồ Bá Thâm say sưa nói về từ Nghiêng, bài thơ Nghiêng và những cảm xúc của mình khi sáng tác. Ông bảo cũng có đôi dòng thơ nghiêng đã viết vô tình khá lâu, nhưng bài thơ Nghiêng này nhớ lại rồi viết một mạch, hết vỉa này đến vỉa khác, từ chiều này đến góc kia… cứ tuôn chảy. Cảm xúc cứ tuôn trào, ông cứ thế mà viết, và những câu chữ cùng với các thi ảnh vụt hiện, như sự tích tụ từ lâu giờ bỗng tuôn chảy. Hồ Bá Thâm hoàn thành bài thơ Nghiêng chỉ trong thời gian ngắn (viết và hoàn chỉnh trong vòng một tuần (về sau có chỉnh sửa đôi chút). Bài thơ lúc đầu đăng trên Website của Hội Nhà văn Việt Nam là 10 khúc thơ Nghiêng sau điều chỉnh lại là 11 khúc. Từ đó mọi thắc mắc của bản thân tôi dần được sáng tỏ. Được diện kiến ông, nghe ông kể chuyện đời, chuyện người, kể về những năm tháng ông đã trải qua trên hành trình cuộc đời đầy chông gai, lắm thử thách của chính mình. Vì thế, tôi càng trân trọng và ngưỡng mộ ông hơn.

Bàn về thơ và công việc sáng tác thơ, Hồ Bá Thâm cho rằng: “Thơ là kết tinh và thăng hoa cả cảm xúc và trí tuệ bằng ngôn ngữ, hình ảnh và có nhạc điệu trong một cảnh huống của đời người, muốn bày tỏ tấm lòng và thông điệp. Thơ phản ánh cuộc đời nhưng nó là thế giới khác của cuộc đời vừa thực, vừa ảo, vừa buồn, vừa vui, vừa hoài niệm, vừa hy vọng. Thơ là bất chợt nhưng thực ra đã nung nấu dài lâu. Làm thơ cả đời viết nhiều hay viết ít nhưng được bài thơ như ý và được bạn đọc đón nhận dài lâu là rất ít! Thơ có nhiều dạng, loại ngắn, dài, nặng về cảm xúc hay trí tuệ, giản dị hay cầu kỳ, dễ hiểu hay khó hiểu, nói thẳng hay vòng vo, kín đáo hay bộc lộ, triết lý hay giãi bày, trí cảm hay xúc cảm... Nhưng nói chung phải có chiều sâu, đa nghĩa, hạn chế thơ mặt phẳng, cố gắng thơ đa không gian và ý tại ngôn ngoại càng hay! Viết thơ cho ra thơ không dễ chút nào. Làm được thơ cho ra thơ là khó! Tìm được tứ lạ, ngôn ngữ lạ, hình ảnh lạ là rất hiếm! Thơ phải có xúc cảm và trí cảm. Nhưng không phải khi nào cũng viết được như thế”. Ông yêu thơ và làm thơ từ thời còn ở chiến trường. Khi đi học đại học, sau khi từ Trường Sơn trở về, ông tìm hiểu nhiều, đọc nhiều về thơ và phê bình tiểu luận thơ. Rồi ông làm thơ nhiều về thời chiến trường và tình quê hương đất nước khi có cảm xúc, với những hồi ức, suy tư, nhung nhớ, dẫu lúc đó việc học là chính mà lại học khoa học triết học và lý luận chính trị.  Khi ra trường rồi lao vào làm việc, tất cả vì “miếng cơm manh áo”. Sau này, nhất là khi đã lớn tuổi, ông có nhiều chiêm nghiệm và trải đời nên thích làm thơ. Nhưng việc chính, cái say chính vẫn là nghiên cứu viết sách triết học và chính trị xã hội. Đôi khi bất chợt, bất ngờ thi hứng đến thì ông viết thơ, tâm tình cùng “nàng thơ”. Thơ là ngẫu hứng. Ông có bài thơ Bất chợt, hơn 30 câu và hầu như câu nào cũng có từ bất chợt. Câu cuối là: “Tôi viết bài thơ hát về bất chợt/ Thêm hiểu cuộc đời từ những thẳm sâu/ Từ những trăn trở dài lâu…”.

Ý thức và cảm nhận sâu sắc được về thơ, công việc làm thơ, đặc trưng thi pháp thơ... nên Hồ Bá Thâm đã cần mẫn thực hành theo cách của riêng mình và ông đã rất thành công ở bài thơ Nghiêng. Bài thơ với lối tư duy logic, biện chứng tự nhiên từ bên trong câu chữ, tình ý nhưng không kém phần lãng mạn, tinh tế và tài hoa. Có lẽ với vốn sống, vốn văn hóa, sự trải nghiệm và lối tư duy ẩn chứa triết học, minh triết nên Hồ Bá Thâm mới có thể viết một mạch bài thơ dài mang tính trữ tình triết lý độc - lạ, viết một mạch với điệp từ nghiêng dày đặc mà lãng mạn, nhuần nhị và có ý nghĩa sâu xa, thâm thúy như thế. Với 288 câu thơ, 296 từ nghiêng, câu nhiều nhất có 2 chữ nghiêng nhưng được dùng một cách uyển chuyển, hợp lý, hợp tình. Cái hay của Hồ Bá Thâm là dù đưa từ nghiêng vào một cách liên tục, dày đặc, cứ tưởng sẽ khiên cưỡng, khô khan, trùng lắp và làm mất đi sự tinh tế, lãng mạn nhưng ngược lại làm tăng thêm giá trị và sự độc đáo của bài thơ.

Nghiêng trong bài thơ được Hồ Bá Thâm sử dụng một cách linh hoạt ở cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng trong nhiều góc độ, nhân tình thế thái của đời sống và cảm thức.

Nhà ai nghiêng sườn núi

Tiếng khèn nghiêng lứa đôi

Bé cười nghiêng vú mẹ

Tình say nghiêng một đời!

 

Đường về nghiêng lối cũ

Em đi nghiêng chốn nào?

Bâng khuâng nghiêng nỗi nhớ

Nao nao nghiêng mình tôi!

 

Nỗi buồn nghiêng một nửa

Niềm vui nghiêng cả hai

Mặt trời nghiêng qua núi

Cháy nghiêng nỗi sầu đời

Nghiêng với hàm ý sâu xa, đa sắc màu, giàu tính triết luận: “Trời nghiêng đất vô tận/ Đất nghiêng trời bao la/ Âm dương nghiêng vũ trụ/ Ta ôm nghiêng thiên hà” trong câu kết. Khép lại mà mở ra một thế giới Thiên - Địa - Nhân hợp nhất, dung thông... Nó vừa cổ điển vừa hiện đại như một sự liên kết lượng tử tức thời, nhanh hơn tốc độ ánh sáng kiểu thần giao cách cảm. Có lẽ câu thơ, tứ thơ này được gợi mở bằng trí tưởng tượng triết học thi ca hay đi trước Triết học lượng tử của ông hôm nay?

Không chỉ thế. Thơ Nghiêng của ông nhiều lúc cũng gần gũi, dễ hiểu, dễ lay động, tạo nên sự trắc ẩn, thú vị từ chiều sâu văn hóa và mang đậm chất dân ca… Thực mà mộng, mộng mà thực làm sao? Ai đã và sẽ còn đọc mấy câu thơ này trong những tiệc liên hoan gặp gỡ hay hò hẹn bạn bầu, đôi lứa tỏ tình:

Ly rượu nghiêng làn môi

Gió thổi nghiêng bầu trời

Trăng nghiêng dòng suối nhỏ

Mắt em nghiêng lòng tôi…

Và ngày xưa lại về từ khúc dân ca nghiêng ba miền đất nước:

Yếm đào nghiêng quan họ

Vọng cổ nghiêng ghe chiều

Bài thơ nghiêng nón Huế

Ca trù nghiêng liêu xiêu..

Nghiêng được dùng, được hiểu, được thấm, được cảm linh hoạt trong từng hoàn cảnh, không gian, thời gian, chiều kích...của lòng nhân thế mà lại rất tự nhiên như cuộc sống vậy. Thơ không còn là… thơ nữa mà lại rất… thơ:

Quần hồng nghiêng cánh đu

Cù quay nghiêng mắt trẻ

Hoa nở nghiêng e lệ

Cánh bướm nghiêng ao làng…

 

Hội về nghiêng đô vật

Con cờ nghiêng sân chơi

Lì xì nghiêng túi nhỏ

Tết nghiêng lời chào mời

 

Lưng trâu nghiêng tiếng sáo

Ai trèo nghiêng ngọn dừa

Nàng hứng nghiêng bao quả

Chàng nghiêng trái gió đưa?

 

Bờm nghiêng cái quạt mo

Phú ông nghiêng trâu bò

Bờm cười nghiêng cười ngửa

Cục xôi nghiêng đói no!

 

Trạng nghiêng bao mưu lược

Võng vua nghiêng băng hà!

Tiền nào nghiêng sự nghiệp

Nghiêng sấp ngửa dối lừa

Nghiêng là cách để Hồ Bá Thâm cảm nhận, chia sẻ, tỏ bày những trăn trở, day dứt của ông trước hiện thực đa dạng, đa chiều của đời sống.

Thư ký nghiêng áo ngực

Ghế giám đốc nghiêng theo

Lả lơi nghiêng trời đất

Lập trường nghiêng cheo leo

 

Lợi nhuận nghiêng công lý

Giá cả nghiêng thị trường

Sự thật nghiêng từ gốc

Đạo đức nào ngả nghiêng

 

Tiền nghiêng lách cửa hậu

Bao quan bà nghiêng lòng

Làm quan ông nghiêng ghế

Tay quan ông nghiêng còng!

 

Ngả nghiêng trong bão tiền

Bao quan ông nghiêng khám

Chế độ có ngả nghiêng?

Nghiêng ngã tay chèo chống!

 

Nghiêng vũ trường chung thủy

Ích kỷ nghiêng nghị trường

Em nghiêng tai nhắc khéo

Nghiêng đất đai mưa dầm

Dân dã là thế mà bác học cũng là thế! Ta có cảm giác không phải tác giả “làm thơ” mà là tâm tình bằng thơ từ cõi lòng mình!

Hiện thực cuộc sống, trong cảm nhận, sự quan sát tinh tế để đưa vào thơ như ở 5 khổ thơ trên là điều đáng để mỗi người trong chúng ta mãi thổn thức, suy ngẫm.

Ngả nghiêng trong bão tiền

Bao quan ông nghiêng khám

Chế độ có ngả nghiêng?

Nghiêng ngã tay chèo chống!

Thực tế, đã có biết bao vị quan to đã vì tiền, vì lợi ích, vì tư lợi cá nhân mà bất chấp luật pháp, coi thường nhân dân. Họ đã vào vòng lao lý vì đã làm tổn thất đến đất nước, đến nhân dân. Hồ Bá Thâm đặt ra câu hỏi đầy lo lắng trước sự tha hóa, biến chất của cán bộ từ hơn 15 năm trước (bài thơ viết năm 2009) mà đến bây giờ vẫn còn có ý nghĩa thời sự. Dân sẽ mất niềm tin, chế độ sẽ thế nào?

Chế độ có ngả nghiêng?

Nghiêng ngã tay chèo chống?

Hồ Bá Thâm sáng tạo thơ bởi sự thôi thúc tự nhiên đến của con tim, của những khắc khoải, ẩn ức chuyển hóa thành cảm hứng nghệ thuật.

Bao nỗi đau nghiêng ngửa

Trang giấy nghiêng sinh thành

Máu nghiêng từ ruột đất

Nghiêng một màu xanh xanh

 

Đắng cay nghiêng cả đời

Mồ hôi nghiêng đồng ruộng

Con trâu nghiêng luống cày

Mùa vàng nghiêng cánh nhạn

 

Bút xoay nghiêng chế độ[1]

Bài thơ nghiêng nhân tình

Nốt nhạc nghiêng thời thế

Em hát nghiêng đời anh!

Nghiêng được dùng với nghĩa hàm ẩn, đa nghĩa, bóng gió, như thật, như đùa, như có, như không. Nghiêng được cảm thức với nhiều khía cạnh đa nhịp, đa thanh, đa tình, đa cảnh, đa chiều, rất phong phú và sâu sắc... Do vậy nghiêng không chỉ đơn giản là tính từ hay động từ… theo nghĩa thông thường mà nghiêng trở thành nỗi ám ảnh, mối lo âu, trăn trở khôn nguôi, chất chứa tình ý đối với bao người. Đôi lúc có sự bông đùa, dí dỏm, giăng mắc vào lòng người những hoài niệm, suy tư nhưng lại rất chân thành. Tác giả đã dùng rất nhiều câu hỏi tu từ đan xen khó nói.  

Bạc đâm nghiêng nh nghĩa

Trắng đen nghiêng tiền nào

Cán cân nghiêng phải trái

Công lý nghiêng vào đâu?

 

Bao trò chơi nghiêng ngửa

Thật giả nghiêng chính tà

Dại khôn nghiêng đâu hết

Bao lần nghiêng vào ta?!

Hồ Bá Thâm đã không ngừng trăn trở, suy tư, thẩm thấu NHỮNG TRIẾT LUẬN NGHIÊNG - một sự liên thông, tác động lẫn nhau, ảnh hưởng, thẩm thấu lẫn nhau của vạn vật và vạn nhân sinh, con người và vũ trụ, đẹp xấu, dở hay, cao sang, thấp hèn, hiện tại quá khứ và tương lai hòa vào như một, mà hai, mà ba… Nhưng là qua những dòng thi ca sâu sắc về cuộc đời, về tình yêu, thế sự trong những mối tương quan đa dạng, phức tạp bằng cảm thức nghệ thuật thơ. Nhà thơ đã ký thác được nhiều cung bậc, sắc màu… khác nhau của đời sống, của trái tim từ sự lắng đọng/ đúc kết của bản thân, từ những chiêm nghiệm, khám phá từ miền sâu thẳm trong tâm hồn con người và thời cuộc tạo nên một thế giới thực - ảo trong thơ.

Nghiêng như lời tự sự đậm chất trữ tình, nhấn nhá, cắt cứa vào tâm hồn người đọc với đầy đủ mọi sắc thái trí cảm.

Em nghiêng gầu tát nắng

Bông lúa nghiêng chín vàng

Nhớ nghiêng mồ hôi chảy

Múc ánh vàng nghiêng trăng

 

Mở đường nghiêng Trường Sơn

Nụ cười nghiêng bên suối

Hoa chuối nghiêng nghiêng chào

Quân đi nghiêng mặt trận.

 

Nghiêng mình trước nghĩa trang

Thiêng liêng nghiêng hương khói

Hướng dương nghiêng như nói

Ánh sáng nghiêng soi đường

 

Nhớ trăng nghiêng đỉnh dốc

Em nghiêng đầu bên anh

Hương sả nghiêng sao xanh

Nghiêng trái tim tình tự…

 

Trường Sơn nghiêng mùa lũ

Vai ta nghiêng đẩy xe

Trời ghen nghiêng một nửa

Cười nghiêng ngửa bạn bè

 

Em về nghiêng trên đồng

Lưng cháy nghiêng chân rạ

Nụ cười nghiêng vất vả

Hội ca nghiêng lời em…

 

Trăng về nghiêng bên mộ

Hương thơm nghiêng thưở nào

Hồn anh nghiêng nao nao

Lòng bên anh nghiêng mãi…

Cái gốc rễ sâu xa tạo nên hồn thơ bay bổng và trầm lắng Hồ Bá Thâm nói chung và ở bài thơ Nghiêng nói riêng, đó chính là ở chiều sâu ý thức, quan điểm, thái độ sống, sự ngân vọng của những lớp trầm tích văn hóa được thẩm thấu, tinh lọc qua con mắt tinh đời, trái tim nhân hậu dễ cảm của nhà thơ.

Đã có rất nhiều lời nhận xét, đánh giá rất cao về “sự tìm tòi khám phá mới” (từ của nhà thơ Mai Quỳnh Nam) ở bài thơ Nghiêng của các nhà nghiên cứu, nhà thơ, nhà văn, bạn đọc và cả những người bạn thân thiết của Hồ Bá Thâm. Tất cả đều dành những lời ngợi khen, thán phục về Nghiêng. Nghiêng như “súng hai nòng”, Một cách tiếp cận kiểu "súng hai nòng" rất độc đáo và thú vị” (Nhà thơ, nhà nghiên cứu Tuấn Đỗ Minh ngày 08 tháng 9 năm 2013). Đúng là Hồ Ba Thâm đã tạo ra một thế giới thơ nghiêng đầy sống động, “thách thức những người cầm bút”. Bởi Hồ Bá Thâm đã viết Nghiêng bằng cả tấm lòng, sự suy tư, chiêm cảm, minh triết của một con người giàu trắc ẩn, có thiên phú “tư duy triết học”; ở đó còn hiện lên chân dung của một nhà khoa học, nhà triết học uyên bác, góc cạnh, có phần “quẫy đạp về ngôn từ” (nhà thơ Phan Trung Thành) mà chỉn chu; một nhà thơ tài hoa, tinh tế và lãng mạn.  Cũng có bạn đọc nói “sao nghiêng nhiều thế”, sao lại lẫn cả thơ trữ tình yêu đương và trữ tình thế sự vào một bài…? Nhưng rõ ràng nhà thơ Hồ Bá Thâm đã rất thành công với bài thơ Nghiêng. Thế giới thơ nghiêng như thế giới thơ say và bất chợt… thế thôi! Nó bắt đầu và tự kết thúc như là một sự có sẵn, không có sự đặt bày của trí cảm, hay dở, dài ngắn như tự nhiên vậy! Bài thơ Nghiêng như từ trên trời rơi xuống, như một quả tặng của tạo hóa vậy!

Hồ Bá Thâm đã làm nên kỷ lục trong thơ Việt Nam đương đại - “Bài thơ có nhiều chữ nghiêng nhất”. Ông làm hàng trăm bài thơ, có bài thơ cũng đã phổ nhạc nhưng đời thơ với một bài thơ Nghiêng như thế cũng đủ là thi sĩ để đời, còn nhớ, còn đọc, còn nghe như gió, như nắng, như âm vang đất trời… 

Nhà thơ dùng thể thơ 5 chữ truyền thống (trong dân ca Ngệ Tĩnh) để thuận lợi trong diễn tiến nội dung sự việc diễn ra một cách tự nhiên không gượng ép. Nhưng có lẽ không phải ông chọn mà nó chọn ông ở bài thơ Nghiêng độc lạ và rất hiện đại này. Nội dung thơ bắt nguồn từ hiện thực với những hình ảnh của cuộc sống thông qua cách diễn đạt phong phú, đặc sắc của Hồ Bá Thâm. Trong bài thơ, thi sĩ Hồ Bá Thâm có đến 24 lần dùng dấu chấm cảm (!), 16 lần dùng dấu ba chấm (...), 7 câu hỏi tu từ (?) ... Mạch cảm xúc, cách diễn ngôn của của trí cảm hấp dẫn, thể hiện rõ nét một tâm hồn nhạy cảm trước cuộc sống, một cách nhìn thông thái, sắc sảo mà kín đáo thâm trầm của thi nhân. Bài thơ NghiêngThơ tình triết học (in trong tập thơ cùng tên, Nhà xuấ bản Thanh Niên, 2009).

Đến như nhà thơ tài hoa, rất khắc khe về từ ngữ và yêu cầu mới lạ về thơ như nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm hay nhà thơ Nguyên Hồ vậy mà khi đọc bài thơ Nghiêng cũng đã phải thốt lên: “Bài thơ Nghiêng hay và có nhiều chi tiết thú vị, độc đáo”.

Khi ra mắt tập Thơ Tình triết học, nghe đọc bài thơ Nghiêng, một người bạn của ông đã làm ngay bài thơ ngắn với lời đề tặng: Thân tặng Tiến sĩ /Thi sĩ Hồ Bá Thâm:

Đồng tiến sĩ xuất thân

Quan trường hàng ngũ phẩm

Đủ cả phúc cả phận

Còn thêm phần thi nhân!

Thơ làm mềm câu triết

Triết làm nhuận ý thơ

Chơi chữ hàng thượng thừa

Ba trăm lần nghiêng ngã…

Nghiêng thế thì chào thua!

Nhưng đừng say sưa quá

Cái gì cũng nghiêng ngả!

….

Vững nền là nhân văn!            

(10-2011, Nguyễn Như Biên)

Có lẽ bài thơ của Nguyễn Như Biên viết tặng Hồ Bá Thâm như là lời tổng kết đầy đủ và đã nói lên tất cả!

Cũng cần nói thêm rằng Hồ Bá Thâm làm bài thơ Nghiêng không phải dể phô diễn hay thuần túy chơi chữ mà là để tri ân cả vũ trụ, tri ân cuộc đời, tri ân đồng đội, bạn bè, quê hương, đất nước, tri ân quá khứ, tri ân hiện tại và cả tương lai, tri ân tình thương yêu, nghĩa khí và tất cả, trên hết là người Mẹ của mình, vì đó cũng là người Mẹ Việt Nam:

Trời một lần nghiêng cốc

Rót nghiêng sữa tình đời

Như mẹ nghiêng bầu vú

Nuôi tôi nghiêng cả đời…

Thế thì còn mãi…

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm