TIN TỨC

Người làm lệch nhịp thời gian

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-12-07 23:15:58
mail facebook google pos stwis
1887 lượt xem

Mai Văn Phấn

Nếu những tập thơ trước đây của Nguyễn Quang Thiều tựa như dòng sông cuộn xiết vào mùa hạ, mang bao khát vọng, nỗi trăn trở réo gào khi chảy qua những khúc quanh, ghềnh đá..., thì đến "Nhật ký người xem đồng hồ" (NXB Hội Nhà văn, 2023) vừa xuất bản, người đọc được chứng kiến một dòng sông đang tan băng vào cuối xuân, song hành cùng những biến động của cuộc sống đương đại. Dòng sông ấy cuốn đi, đôi lúc phát ra tiếng nổ của những tảng băng bị rạn nứt. Từ vết nứt sắc lạnh và tối giản của ngôn từ trong tập thơ này, ta bỗng nhìn thấy những hình ảnh, tứ thơ lạ lẫm, tuyệt đẹp hiện ra trong những khoảnh khắc ngổn ngang, lo đâu, đầy bất an của đời sống thường nhật.  

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều

 

Nước vẫn chảy trong đó

Cây vẫn mọc lên

Lửa không bao giờ tắt

 

Giọng nói người thợ gốm

Chứa đầy khoảng rỗng chiếc bình.

(Bình gốm)

Tập thơ là bước tiến mới trong lộ trình sáng tạo, cách tân thơ của Nguyễn Quang Thiều. Về thơ ông, có lần tôi đã viết: Bóng dáng thời đại và cách tân thi pháp là hai vấn đề lớn và quan trọng xuyên suốt hành trình sáng tạo của Nguyễn Quang Thiều. Thơ ông tỏa sáng trong nhiều đề tài với những cách biểu đạt phong phú và đa dạng. Với tập thơ ngắn này, Nguyễn Quang Thiều thêm một lần nữa khẳng định sự thành công của ông trong cách tân thi pháp.

Ở "Nhật ký người xem đồng hồ", nhà thơ đã ghi dấu những thăng trầm của cảm xúc, thời khắc đột sáng của tư duy trong những chuyển dịch của đời sống đương đại. Trong thế giới nghệ thuật của Nguyễn Quang Thiều, những sự vật và hiện tượng xuất hiện thường không tuân theo quy luật của đời sống, mà phụ thuộc vào những biến cố trong tâm hồn ông, những khát vọng và tư duy thẩm mĩ của riêng ông. Vì thế hình tướng của nó luôn khác thường, mang những vẻ đẹp độc đáo và dị biệt. Bạn đọc sẽ ngỡ ngàng khi bước vào cõi thơ của ông, gặp lại những hình ảnh quen thuộc trong cuộc sống, nhưng giờ đây, chúng đã biến hóa, không nhận ra được nữa. Những sự vật và hiện tượng ấy như vừa được tái sinh, chuyển động theo quy luật riêng, hóa thành tấm gương phản chiếu đời sống và chính nó. Nhà thơ là người đã điều khiển những chuyển động này, làm cho dòng chảy thời gian trong đó như lệch nhịp, lúc tăng tốc, hỗn loạn, lúc trì níu, ngưng đọng.

Đồng hồ trên tay tôi

4:11’

Tôi nhận một lời khen

Và lần đầu tôi biết

Tột cùng của sự xấu hổ

Khi tôi rời khỏi căn phòng

Một kẻ bắn thủng gáy tôi

Bằng hai hốc mắt

 

Đồng hồ trên điện thoại người bên cạnh

4:11’

Không có tôi ở đó

(Lúc 4:11’)

Bằng cách thay đổi nhịp điệu thời gian, nhà thơ đã dẫn bạn đọc tới chính nơi họ đã và đang trải nghiệm, nhận chân các giá trị, nhìn thấy hướng đi khác mà trước đó họ không dễ dàng nhận biết. Đời sống ấy trước đây đã từng hiện ra khắc khoải, đau đớn, quặn thắt trong thơ Nguyễn Quang Thiều. “Chúng ta sống quờ quạng trong những tháng năm bóng tối nham nhở. Nhiều hơn thành phố vùi sâu vào đất” ("Nhân chứng của một cái chết", rút từ tập thơ "Bài ca những con chim đêm", NXB Hội Nhà văn, 1999). Nhưng đến tập thơ này, nó được phơi bày ở khắp mọi nơi bằng diện mạo khác, bạo liệt và tàn ác hơn những gì chúng ta đã biết. Những câu thơ sắc lạnh, chính xác như bản tin thông tấn được tác giả sử dụng khá nhiều trong tập thơ này.

 

Viên cảnh sát da trắng

bắn tám viên đạn vào một thanh niên da đen

(Bản tin ngày)

 

Thời khắc những cô gái trẻ

Vừa ngáp vừa đếm lại tiền

(Lúc 1g sáng)

 

Hay:

 

Nơi ngã tư một chiếc xe tải

Cán nát một cô gái

(Nhật ký ghi dưới gốc cây gần quảng trường)

Hiện thực đời sống trần trụi, gai góc, phũ phàng trong những câu thơ trên như đẩy người đọc xuống cái hố sâu vốn đã ngổn ngang rác rưởi trong đó. Hiện thực ấy như bề mặt của lớp vỏ xấu xí, thô ráp, thường được Nguyễn Quang Thiều khắc họa, tốc ký vào những thời khắc nhất định trong đời sống chúng ta. Nó như "Đặt giữa chúng ta một chiếc bàn không có mặt bàn" (Một ghi chép tháng sáu). Câu thơ ấy gợi cảm giác trống rỗng, hoang hoải trong những mối quan hệ người, giữa con người với xã hội, môi trường sống. Một câu hỏi đặt ra: đời sống này thật hay ảo? Cái ta đang cầm trên tay là của ta hay chỉ là cú lừa ngoạn mục? v.v... Những câu nghi vấn luôn chợt đến với con người trong mọi hoàn cảnh. Đoạn thơ sau cho bạn đọc hình dung những người vừa thức dậy qua một cơn ác mộng. Họ băn khoăn không biết mình vừa trải qua cung đoạn nào, kiếp sống nào, hạnh phúc hay bất hạnh, vinh quang hay cay đắng...? Cơn mộng ấy hung hiểm ra sao, chỉ riêng họ biết.

Chúng ta có chết không?

Một người thức giấc hỏi.

Nhưng chẳng có câu trả lời nào.

(Những con mồi)

 

Những dòng "nhật ký" như cố ý sao chụp lại hiện thực đời sống một cách trung thực, chính xác đến từng ký tự, không bình luận, và, như cố giấu đi cảm xúc của người viết. Nhưng qua đó, ta vẫn dễ dàng đọc được những ẩn ý và đồng cảm với tác giả trong cách lý giải về bản chất sự vật, hiện tượng đang diễn ra.

Từ một thế giới nanh vuốt được công khai

Đến một thế giới nanh vuốt được che giấu

Và những cái chết không chảy máu

(Hóa mèo)

 

Hiện thực đời sống trong "Nhật ký người xem đồng hồ" thường phồn tạp, có lúc làm ta choáng váng bởi sự xấu xa, ghê rợn của nó. Đó là một hiện thực đời sống "bắt chúng ta viết lại" (Một sáng chủ nhật). Và nhà thơ có lần đã nhìn thấy "Một người lao công/ Đi thu dọn chúng ta" (Người lao công).

Nhưng có một bản hợp đồng

Chúng ta không chịu ký

Là bản hợp đồng

Thiết kế lại chúng ta

(Bản hợp đồng)

 

Cách biểu đạt hiện thực, như tôi vừa nêu, chính là thủ pháp tương phản giữa ánh sáng và bóng tối mà Nguyễn Quang Thiều thường sử dụng trong thơ và hội họa của ông. Sự tương phản sáng-tối có lúc làm cho vật thể biến dạng và tạo cho chúng những đường nét kỳ diệu. Trên nền (background) thẫm đen, u tối, nhà thơ thường cho ánh sáng đột ngột xuất hiện nhằm đẩy xung đột lên cao, khơi lộ rõ ý tứ cần biểu đạt. Trong những trường hợp này, những tứ thơ lạ, rực rỡ làm ta ngỡ ngàng, tựa như nhìn thấy một con cá đang bơi dưới khe nứt của tảng băng dưới dòng nước giá lạnh, mà trước đấy ngỡ như sự sống ấy đã chết. Đó là vẻ đẹp lung linh của đóa hoa loa kèn chợt xuất hiện qua "một lỗ thủng" trong ngôi nhà tối đen mà nhà thơ đã nhìn thấy.

Tôi lần mò về phía lỗ thủng

Và nhận ra

Một đóa loa kèn.

(Hoa loa kèn)

 

Đó là:

 

Bóng những cái cây bị đốn gục

Từ từ đứng dậy

Đi tìm những cái rễ của mình

(Người lao công)

Mỗi bài thơ trong "Nhật ký người xem đồng hồ" đều mang tinh thần của cái cây "bị đốn" biết tự đứng dậy đi tìm "những cái rễ" của mình. Chúng hé mở cho ta một hy vọng nhỏ nhoi, tựa một mầm cây, một bông hoa bật lên từ vết nứt của trái đất, của dòng chảy thời gian. Để kiến tạo những "vết nứt" này, Nguyễn Quang Thiều thường cho thời gian và vạn vật chuyển động chậm lại, hoặc ngưng đọng trong khoảng khắc.

 

Chiếc đồng hồ hỏng

Dừng ở 10:3'10''

...

Nhưng chiếc kim giờ giữ mãi

Dáng một kẻ bệnh hoạn

Với cái lưỡi hôi thối

Chọc thủng ngàn cái tai

 

Và chiếc kim phút

Một người bị phản bội

Chết đứng đến giờ

(10:3'10'')

 

Tôi nhìn thấy

Con cá bị kẹt trong nước

(Bản tin ngày)

 

Tất cả các phím im lặng

Để soạn thảo ký ức

(Máy chữ cũ)

 

Sự đứng hình đúng thời điểm này cho ta nhìn thấy toàn bộ cảnh quan, khung nền ở phía sau bức hình. Những câu thơ trên như đẩy ta ra xa một khoảng cách nhất định, để tự do cảm nhận, chiêm ngẫm. Lối kiến tạo những thi ảnh này, giống như khi trưng bày hiện vật trong bảo tàng, người ta cố ý chọn góc độ ánh sáng tối ưu để mở ra không gian đa chiều cho khán giả chiêm ngưỡng.

Và đây là tình huống khác. Tác giả làm cho thời gian lệch nhịp, bằng cách cho nó chết lâm sàng, rồi tái hiện trong sự phục sinh.

Vào lúc 9h

Kim giây

Của chiếc đồng hồ đã chết

Bắt đầu ngồi dậy

(Lúc 9h)

 

Những "vết nứt" thời gian trong thơ Nguyễn Quang Thiều hé lộ cho ta nhìn thấy những góc khuất của đời sống đầy gai góc và tàn ác. Ở những góc nhìn này, tác giả khắc họa sự khốc liệt, tha hóa của đời sống đương thời, đồng thời tạo sự đa nghĩa trong liên tưởng và cảm nhận.

Đấy là giờ trên mặt đất

Những kiếp người trôi dạt

Trên những nẻo đường

Với một tài sản duy nhất mang theo

Đói, khát và hoảng sợ

(Giờ G)

 

Hay, đoạn thơ dưới đây cho thấy sự khốc liệt, tương phản giữa cái đẹp và cái chết trong hai sự hủy diệt:

Một người trồng hoa khác

Như một kẻ điên

Đang nhổ từng khóm hồng

Để tìm một người

Bị giết trong đêm tối

Xác vùi dưới một khóm hồng.

(Những người trồng hoa)

 

Bên cạnh những bài thơ thế sự, Nguyễn Quang Thiều đã dành những dòng cảm xúc chân thành, cảm động cho gia đình, người thân, bè bạn. Ông có nhiều bài thơ hay về Mẹ. Mẹ của ông chính là Làng Chùa quê hương ông, là hiện thân của bao bà mẹ Việt Nam tảo tần, gồng gánh trên vai những vinh quang và mọi đau buồn của lịch sử. Bên cạnh những bài thơ hay viết về mẹ, như "Sông Đáy", "Giấc mộng trưa", "Thư gửi Mẹ",... Nguyễn Quang Thiều có bài thơ "Mưa gần sáng" thật lay động trái tim khiến ta nhớ về Mẹ của mình:

Mẹ lau nước mắt cho con

Trên biên giới mùa thu mây trắng

 

Có một đứa trẻ vừa gọi mẹ vừa lớn

Chợt già đi trong những cúc thẫm chiều..."

(Mưa gần sáng)

 

Hình ảnh đứa trẻ, người mẹ và những bông cúc trong đoạn thơ trên như tan ra, nhòa đi trong cảm xúc, rồi kết tinh thành những giọt nước mắt trong suốt, đẫm tình mẫu tử. Tình cảm ấy dâng đầy trái tim ta, thấm trong cỏ cây, đất đai của Mẹ.

Hay bài thơ dưới đây về bức thư của con gái nhà thơ lúc 3 tuổi. Ngôn ngữ của trẻ thơ thật đáng yêu, ngộ nghĩnh, được thể hiện bằng những dự cảm từ vô thức.

Con không phải nhà tiên tri

Nhưng tất cả những gì cha đang sống bây giờ

Con đã viết ra từ lúc đó

(Thư của con gái lúc 3 tuổi)

 

Mối liên kết huyết hệ đó tựa mạch nguồn liên tục tuôn chảy trong những vần thơ Nguyễn Quang Thiều viết về cháu mình:

Và tôi bế cháu tôi lên dưới vừng dương rực rỡ

Người ban tặng cháu tôi những hạt giống vàng

Để gieo xuống cánh đồng người năm tháng

Những mùa màng nhân ái mãi lên xanh.

(Đưa cháu về quê nội)

 

Ngôn ngữ trong tập thơ "Nhật ký người xem đồng hồ" gần với cách nói đời thường, hướng tới sự tối giản. Tôi thực sự thích thú những hình ảnh lạ lùng và tuyệt đẹp trong tập thơ này, điều ấy chứng tỏ tác giả có trữ lượng sáng tạo dồi dào, rất mạnh mẽ:

Một que diêm

Đẹp như trẻ sơ sinh" (Cúc dại).

 

Ông cũng đặc biệt chủ ý tiết chế, lược bỏ các tính từ, thán từ, sử dụng nhiều động từ nhằm đẩy các chuyển động của thi ảnh đi nhanh hơn.

 

Hai bàn tay đưa lên

Hai cành cây đang mọc

Đôi mắt Quận khép lại

Gương mặt thì mở ra

Hoa đang nở trái mùa

Trên cánh đồng tóc Quận

(Phạm Long Quận lúc 4:33')

 

Những hình ảnh siêu thực, tượng trưng cũng được nhà thơ sử dụng trong tập thơ này. Đoạn thơ dưới đây cho ta liên tưởng tới những bức tranh của Marc Chagall - được mệnh danh là danh họa của những ước mơ:

Một tấm lưới khổng lồ trôi trên những nóc nhà

Và một con Sơn ca mất giọng

rúc sâu trong da thịt chúng ta

(0g17 phút)

 

So sánh thơ Nguyễn Quang Thiều bây giờ với những tập đã in trước đây, ta thấy, ở những bài thơ có liên tưởng mở và vang vọng cảm xúc, thơ của ông ngày càng tinh lọc, nén chặt, và cũng quyến rũ hơn. Đây là đoạn thơ trước đây, trích trong tập "Cây ánh sáng" (NXB Hội Nhà văn, 2009):

Và lúc này chàng nghe thấy tiếng chân những đàn bà xanh như nước biển bước đi như không bao giờ hết qua ngôi nhà chàng

Và lúc này những cái cây trên thế gian, những ngọn nến xanh khổng lồ thắp lên trên tất cả con đường…

(Cây ánh sáng)

 

Và, đây là đoạn trong "Nhật ký người xem đồng hồ":

Dưới tán cây chiều nay hai người im lặng

Những hạt cây xếp bên nhau chuẩn bị khai mùa

Và bầy chim mỏ ngà từ trời xanh đậu xuống

Tán cây vàng

                      Nhặt họ

                                   Bay đi.

(Những hạt cây)

 

Dõi theo thời gian được ghi dưới mỗi bài thơ cho thấy, đa số những bài trong "Nhật ký người xem đồng hồ" được sáng tác trong thời gian gần đây. Ngoài ra, một số bài được viết rải rác từ thời điểm ra đời tập thơ "Ngôi nhà tuổi 17" (1990) đến nay, nhưng chúng có cùng một phong cách nên được xếp chung trong tập thơ này.

Tập thơ mới của Nguyễn Quang Thiều là sự bung phá mạnh mẽ trong trào lưu cách tân thi pháp, góp phần thúc đẩy quá trình đổi mới thơ hiện nay. Một số bài trong tập tựa những mũi khoan dở dang, những tảng đá lớn vừa được khai phá. Tôi coi đó là sự dấn thân mạnh mẽ, dũng cảm của người đi khai sơn phá thạch. Đây là cuốn "Nhật ký" thơ của một Thi sĩ đã đặt nền móng cho khuynh hướng cách tân thơ Việt sau 1986. Với thủ pháp làm lệch nhịp thời gian, cuốn nhật ký bằng thơ này tràn đầy những hình ảnh ba chiều, tiếp nối nhau và khúc xạ, chuyển động theo một dòng chảy cuộn xiết. Dù vạm vỡ hay mỏng mảnh, mọi bài thơ của Nguyễn Quang Thiều đều sáng rỡ và vững chắc một thi pháp riêng biệt, âm vang giọng thơ độc đáo của một tác giả tầm cỡ của thơ Việt Nam đương đại.

 

Hải Phòng, 11/11/2023

M.V.P

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm