TIN TỨC

Người làm lệch nhịp thời gian

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-12-07 23:15:58
mail facebook google pos stwis
1775 lượt xem

Mai Văn Phấn

Nếu những tập thơ trước đây của Nguyễn Quang Thiều tựa như dòng sông cuộn xiết vào mùa hạ, mang bao khát vọng, nỗi trăn trở réo gào khi chảy qua những khúc quanh, ghềnh đá..., thì đến "Nhật ký người xem đồng hồ" (NXB Hội Nhà văn, 2023) vừa xuất bản, người đọc được chứng kiến một dòng sông đang tan băng vào cuối xuân, song hành cùng những biến động của cuộc sống đương đại. Dòng sông ấy cuốn đi, đôi lúc phát ra tiếng nổ của những tảng băng bị rạn nứt. Từ vết nứt sắc lạnh và tối giản của ngôn từ trong tập thơ này, ta bỗng nhìn thấy những hình ảnh, tứ thơ lạ lẫm, tuyệt đẹp hiện ra trong những khoảnh khắc ngổn ngang, lo đâu, đầy bất an của đời sống thường nhật.  

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều

 

Nước vẫn chảy trong đó

Cây vẫn mọc lên

Lửa không bao giờ tắt

 

Giọng nói người thợ gốm

Chứa đầy khoảng rỗng chiếc bình.

(Bình gốm)

Tập thơ là bước tiến mới trong lộ trình sáng tạo, cách tân thơ của Nguyễn Quang Thiều. Về thơ ông, có lần tôi đã viết: Bóng dáng thời đại và cách tân thi pháp là hai vấn đề lớn và quan trọng xuyên suốt hành trình sáng tạo của Nguyễn Quang Thiều. Thơ ông tỏa sáng trong nhiều đề tài với những cách biểu đạt phong phú và đa dạng. Với tập thơ ngắn này, Nguyễn Quang Thiều thêm một lần nữa khẳng định sự thành công của ông trong cách tân thi pháp.

Ở "Nhật ký người xem đồng hồ", nhà thơ đã ghi dấu những thăng trầm của cảm xúc, thời khắc đột sáng của tư duy trong những chuyển dịch của đời sống đương đại. Trong thế giới nghệ thuật của Nguyễn Quang Thiều, những sự vật và hiện tượng xuất hiện thường không tuân theo quy luật của đời sống, mà phụ thuộc vào những biến cố trong tâm hồn ông, những khát vọng và tư duy thẩm mĩ của riêng ông. Vì thế hình tướng của nó luôn khác thường, mang những vẻ đẹp độc đáo và dị biệt. Bạn đọc sẽ ngỡ ngàng khi bước vào cõi thơ của ông, gặp lại những hình ảnh quen thuộc trong cuộc sống, nhưng giờ đây, chúng đã biến hóa, không nhận ra được nữa. Những sự vật và hiện tượng ấy như vừa được tái sinh, chuyển động theo quy luật riêng, hóa thành tấm gương phản chiếu đời sống và chính nó. Nhà thơ là người đã điều khiển những chuyển động này, làm cho dòng chảy thời gian trong đó như lệch nhịp, lúc tăng tốc, hỗn loạn, lúc trì níu, ngưng đọng.

Đồng hồ trên tay tôi

4:11’

Tôi nhận một lời khen

Và lần đầu tôi biết

Tột cùng của sự xấu hổ

Khi tôi rời khỏi căn phòng

Một kẻ bắn thủng gáy tôi

Bằng hai hốc mắt

 

Đồng hồ trên điện thoại người bên cạnh

4:11’

Không có tôi ở đó

(Lúc 4:11’)

Bằng cách thay đổi nhịp điệu thời gian, nhà thơ đã dẫn bạn đọc tới chính nơi họ đã và đang trải nghiệm, nhận chân các giá trị, nhìn thấy hướng đi khác mà trước đó họ không dễ dàng nhận biết. Đời sống ấy trước đây đã từng hiện ra khắc khoải, đau đớn, quặn thắt trong thơ Nguyễn Quang Thiều. “Chúng ta sống quờ quạng trong những tháng năm bóng tối nham nhở. Nhiều hơn thành phố vùi sâu vào đất” ("Nhân chứng của một cái chết", rút từ tập thơ "Bài ca những con chim đêm", NXB Hội Nhà văn, 1999). Nhưng đến tập thơ này, nó được phơi bày ở khắp mọi nơi bằng diện mạo khác, bạo liệt và tàn ác hơn những gì chúng ta đã biết. Những câu thơ sắc lạnh, chính xác như bản tin thông tấn được tác giả sử dụng khá nhiều trong tập thơ này.

 

Viên cảnh sát da trắng

bắn tám viên đạn vào một thanh niên da đen

(Bản tin ngày)

 

Thời khắc những cô gái trẻ

Vừa ngáp vừa đếm lại tiền

(Lúc 1g sáng)

 

Hay:

 

Nơi ngã tư một chiếc xe tải

Cán nát một cô gái

(Nhật ký ghi dưới gốc cây gần quảng trường)

Hiện thực đời sống trần trụi, gai góc, phũ phàng trong những câu thơ trên như đẩy người đọc xuống cái hố sâu vốn đã ngổn ngang rác rưởi trong đó. Hiện thực ấy như bề mặt của lớp vỏ xấu xí, thô ráp, thường được Nguyễn Quang Thiều khắc họa, tốc ký vào những thời khắc nhất định trong đời sống chúng ta. Nó như "Đặt giữa chúng ta một chiếc bàn không có mặt bàn" (Một ghi chép tháng sáu). Câu thơ ấy gợi cảm giác trống rỗng, hoang hoải trong những mối quan hệ người, giữa con người với xã hội, môi trường sống. Một câu hỏi đặt ra: đời sống này thật hay ảo? Cái ta đang cầm trên tay là của ta hay chỉ là cú lừa ngoạn mục? v.v... Những câu nghi vấn luôn chợt đến với con người trong mọi hoàn cảnh. Đoạn thơ sau cho bạn đọc hình dung những người vừa thức dậy qua một cơn ác mộng. Họ băn khoăn không biết mình vừa trải qua cung đoạn nào, kiếp sống nào, hạnh phúc hay bất hạnh, vinh quang hay cay đắng...? Cơn mộng ấy hung hiểm ra sao, chỉ riêng họ biết.

Chúng ta có chết không?

Một người thức giấc hỏi.

Nhưng chẳng có câu trả lời nào.

(Những con mồi)

 

Những dòng "nhật ký" như cố ý sao chụp lại hiện thực đời sống một cách trung thực, chính xác đến từng ký tự, không bình luận, và, như cố giấu đi cảm xúc của người viết. Nhưng qua đó, ta vẫn dễ dàng đọc được những ẩn ý và đồng cảm với tác giả trong cách lý giải về bản chất sự vật, hiện tượng đang diễn ra.

Từ một thế giới nanh vuốt được công khai

Đến một thế giới nanh vuốt được che giấu

Và những cái chết không chảy máu

(Hóa mèo)

 

Hiện thực đời sống trong "Nhật ký người xem đồng hồ" thường phồn tạp, có lúc làm ta choáng váng bởi sự xấu xa, ghê rợn của nó. Đó là một hiện thực đời sống "bắt chúng ta viết lại" (Một sáng chủ nhật). Và nhà thơ có lần đã nhìn thấy "Một người lao công/ Đi thu dọn chúng ta" (Người lao công).

Nhưng có một bản hợp đồng

Chúng ta không chịu ký

Là bản hợp đồng

Thiết kế lại chúng ta

(Bản hợp đồng)

 

Cách biểu đạt hiện thực, như tôi vừa nêu, chính là thủ pháp tương phản giữa ánh sáng và bóng tối mà Nguyễn Quang Thiều thường sử dụng trong thơ và hội họa của ông. Sự tương phản sáng-tối có lúc làm cho vật thể biến dạng và tạo cho chúng những đường nét kỳ diệu. Trên nền (background) thẫm đen, u tối, nhà thơ thường cho ánh sáng đột ngột xuất hiện nhằm đẩy xung đột lên cao, khơi lộ rõ ý tứ cần biểu đạt. Trong những trường hợp này, những tứ thơ lạ, rực rỡ làm ta ngỡ ngàng, tựa như nhìn thấy một con cá đang bơi dưới khe nứt của tảng băng dưới dòng nước giá lạnh, mà trước đấy ngỡ như sự sống ấy đã chết. Đó là vẻ đẹp lung linh của đóa hoa loa kèn chợt xuất hiện qua "một lỗ thủng" trong ngôi nhà tối đen mà nhà thơ đã nhìn thấy.

Tôi lần mò về phía lỗ thủng

Và nhận ra

Một đóa loa kèn.

(Hoa loa kèn)

 

Đó là:

 

Bóng những cái cây bị đốn gục

Từ từ đứng dậy

Đi tìm những cái rễ của mình

(Người lao công)

Mỗi bài thơ trong "Nhật ký người xem đồng hồ" đều mang tinh thần của cái cây "bị đốn" biết tự đứng dậy đi tìm "những cái rễ" của mình. Chúng hé mở cho ta một hy vọng nhỏ nhoi, tựa một mầm cây, một bông hoa bật lên từ vết nứt của trái đất, của dòng chảy thời gian. Để kiến tạo những "vết nứt" này, Nguyễn Quang Thiều thường cho thời gian và vạn vật chuyển động chậm lại, hoặc ngưng đọng trong khoảng khắc.

 

Chiếc đồng hồ hỏng

Dừng ở 10:3'10''

...

Nhưng chiếc kim giờ giữ mãi

Dáng một kẻ bệnh hoạn

Với cái lưỡi hôi thối

Chọc thủng ngàn cái tai

 

Và chiếc kim phút

Một người bị phản bội

Chết đứng đến giờ

(10:3'10'')

 

Tôi nhìn thấy

Con cá bị kẹt trong nước

(Bản tin ngày)

 

Tất cả các phím im lặng

Để soạn thảo ký ức

(Máy chữ cũ)

 

Sự đứng hình đúng thời điểm này cho ta nhìn thấy toàn bộ cảnh quan, khung nền ở phía sau bức hình. Những câu thơ trên như đẩy ta ra xa một khoảng cách nhất định, để tự do cảm nhận, chiêm ngẫm. Lối kiến tạo những thi ảnh này, giống như khi trưng bày hiện vật trong bảo tàng, người ta cố ý chọn góc độ ánh sáng tối ưu để mở ra không gian đa chiều cho khán giả chiêm ngưỡng.

Và đây là tình huống khác. Tác giả làm cho thời gian lệch nhịp, bằng cách cho nó chết lâm sàng, rồi tái hiện trong sự phục sinh.

Vào lúc 9h

Kim giây

Của chiếc đồng hồ đã chết

Bắt đầu ngồi dậy

(Lúc 9h)

 

Những "vết nứt" thời gian trong thơ Nguyễn Quang Thiều hé lộ cho ta nhìn thấy những góc khuất của đời sống đầy gai góc và tàn ác. Ở những góc nhìn này, tác giả khắc họa sự khốc liệt, tha hóa của đời sống đương thời, đồng thời tạo sự đa nghĩa trong liên tưởng và cảm nhận.

Đấy là giờ trên mặt đất

Những kiếp người trôi dạt

Trên những nẻo đường

Với một tài sản duy nhất mang theo

Đói, khát và hoảng sợ

(Giờ G)

 

Hay, đoạn thơ dưới đây cho thấy sự khốc liệt, tương phản giữa cái đẹp và cái chết trong hai sự hủy diệt:

Một người trồng hoa khác

Như một kẻ điên

Đang nhổ từng khóm hồng

Để tìm một người

Bị giết trong đêm tối

Xác vùi dưới một khóm hồng.

(Những người trồng hoa)

 

Bên cạnh những bài thơ thế sự, Nguyễn Quang Thiều đã dành những dòng cảm xúc chân thành, cảm động cho gia đình, người thân, bè bạn. Ông có nhiều bài thơ hay về Mẹ. Mẹ của ông chính là Làng Chùa quê hương ông, là hiện thân của bao bà mẹ Việt Nam tảo tần, gồng gánh trên vai những vinh quang và mọi đau buồn của lịch sử. Bên cạnh những bài thơ hay viết về mẹ, như "Sông Đáy", "Giấc mộng trưa", "Thư gửi Mẹ",... Nguyễn Quang Thiều có bài thơ "Mưa gần sáng" thật lay động trái tim khiến ta nhớ về Mẹ của mình:

Mẹ lau nước mắt cho con

Trên biên giới mùa thu mây trắng

 

Có một đứa trẻ vừa gọi mẹ vừa lớn

Chợt già đi trong những cúc thẫm chiều..."

(Mưa gần sáng)

 

Hình ảnh đứa trẻ, người mẹ và những bông cúc trong đoạn thơ trên như tan ra, nhòa đi trong cảm xúc, rồi kết tinh thành những giọt nước mắt trong suốt, đẫm tình mẫu tử. Tình cảm ấy dâng đầy trái tim ta, thấm trong cỏ cây, đất đai của Mẹ.

Hay bài thơ dưới đây về bức thư của con gái nhà thơ lúc 3 tuổi. Ngôn ngữ của trẻ thơ thật đáng yêu, ngộ nghĩnh, được thể hiện bằng những dự cảm từ vô thức.

Con không phải nhà tiên tri

Nhưng tất cả những gì cha đang sống bây giờ

Con đã viết ra từ lúc đó

(Thư của con gái lúc 3 tuổi)

 

Mối liên kết huyết hệ đó tựa mạch nguồn liên tục tuôn chảy trong những vần thơ Nguyễn Quang Thiều viết về cháu mình:

Và tôi bế cháu tôi lên dưới vừng dương rực rỡ

Người ban tặng cháu tôi những hạt giống vàng

Để gieo xuống cánh đồng người năm tháng

Những mùa màng nhân ái mãi lên xanh.

(Đưa cháu về quê nội)

 

Ngôn ngữ trong tập thơ "Nhật ký người xem đồng hồ" gần với cách nói đời thường, hướng tới sự tối giản. Tôi thực sự thích thú những hình ảnh lạ lùng và tuyệt đẹp trong tập thơ này, điều ấy chứng tỏ tác giả có trữ lượng sáng tạo dồi dào, rất mạnh mẽ:

Một que diêm

Đẹp như trẻ sơ sinh" (Cúc dại).

 

Ông cũng đặc biệt chủ ý tiết chế, lược bỏ các tính từ, thán từ, sử dụng nhiều động từ nhằm đẩy các chuyển động của thi ảnh đi nhanh hơn.

 

Hai bàn tay đưa lên

Hai cành cây đang mọc

Đôi mắt Quận khép lại

Gương mặt thì mở ra

Hoa đang nở trái mùa

Trên cánh đồng tóc Quận

(Phạm Long Quận lúc 4:33')

 

Những hình ảnh siêu thực, tượng trưng cũng được nhà thơ sử dụng trong tập thơ này. Đoạn thơ dưới đây cho ta liên tưởng tới những bức tranh của Marc Chagall - được mệnh danh là danh họa của những ước mơ:

Một tấm lưới khổng lồ trôi trên những nóc nhà

Và một con Sơn ca mất giọng

rúc sâu trong da thịt chúng ta

(0g17 phút)

 

So sánh thơ Nguyễn Quang Thiều bây giờ với những tập đã in trước đây, ta thấy, ở những bài thơ có liên tưởng mở và vang vọng cảm xúc, thơ của ông ngày càng tinh lọc, nén chặt, và cũng quyến rũ hơn. Đây là đoạn thơ trước đây, trích trong tập "Cây ánh sáng" (NXB Hội Nhà văn, 2009):

Và lúc này chàng nghe thấy tiếng chân những đàn bà xanh như nước biển bước đi như không bao giờ hết qua ngôi nhà chàng

Và lúc này những cái cây trên thế gian, những ngọn nến xanh khổng lồ thắp lên trên tất cả con đường…

(Cây ánh sáng)

 

Và, đây là đoạn trong "Nhật ký người xem đồng hồ":

Dưới tán cây chiều nay hai người im lặng

Những hạt cây xếp bên nhau chuẩn bị khai mùa

Và bầy chim mỏ ngà từ trời xanh đậu xuống

Tán cây vàng

                      Nhặt họ

                                   Bay đi.

(Những hạt cây)

 

Dõi theo thời gian được ghi dưới mỗi bài thơ cho thấy, đa số những bài trong "Nhật ký người xem đồng hồ" được sáng tác trong thời gian gần đây. Ngoài ra, một số bài được viết rải rác từ thời điểm ra đời tập thơ "Ngôi nhà tuổi 17" (1990) đến nay, nhưng chúng có cùng một phong cách nên được xếp chung trong tập thơ này.

Tập thơ mới của Nguyễn Quang Thiều là sự bung phá mạnh mẽ trong trào lưu cách tân thi pháp, góp phần thúc đẩy quá trình đổi mới thơ hiện nay. Một số bài trong tập tựa những mũi khoan dở dang, những tảng đá lớn vừa được khai phá. Tôi coi đó là sự dấn thân mạnh mẽ, dũng cảm của người đi khai sơn phá thạch. Đây là cuốn "Nhật ký" thơ của một Thi sĩ đã đặt nền móng cho khuynh hướng cách tân thơ Việt sau 1986. Với thủ pháp làm lệch nhịp thời gian, cuốn nhật ký bằng thơ này tràn đầy những hình ảnh ba chiều, tiếp nối nhau và khúc xạ, chuyển động theo một dòng chảy cuộn xiết. Dù vạm vỡ hay mỏng mảnh, mọi bài thơ của Nguyễn Quang Thiều đều sáng rỡ và vững chắc một thi pháp riêng biệt, âm vang giọng thơ độc đáo của một tác giả tầm cỡ của thơ Việt Nam đương đại.

 

Hải Phòng, 11/11/2023

M.V.P

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”
Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.
Xem thêm
Chiến tranh và chiến tranh - Tiếng kêu thương thảm khốc!
László Krasznahorkai sinh năm 1954 tại Gyula, Hungary, học Luật, có bằng Ngôn ngữ Hung và Sư phạm. Nhà văn tự do từ năm 1982. Tiểu thuyết: Sátántangó (Sasantango, 1985), Az ellenállás melankóliája (The Melancholy ơf Resistance, 1989), Az urgai fology (The Prisoner ơf Urga, 1993), Háború és háború (War and War), 1999), Északról hegy, Délróltó, Nyugatról utak, Keletról folyó (From the North by Hill, From the South by Lek, From the West by Roads, From the East by River, 2003), Rombolás és bánat az Égalatt (Destruction and Sorrow beneath the Heavens, 2004), Seiobo járt odalent (Seiobo There Below, 2008), Báró Wenkheim hazatér (The Homecoming ơf Baron Wenkheim, 2016)…
Xem thêm
Cảm nhận về tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của tác giả Trương Văn Dân
Nhận được Bàn tay nhỏ dưới mưa tác giả gởi tặng cũng hơn nửa tháng rồi, tính nhâm nhi đọc nhưng cứ lần lữa mãi. Nay có thời gian thảnh thơi tôi mới có dịp thưởng thức tác phẩm của anh.
Xem thêm
Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương
Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức
Bài viết của nhà thơ Ngô Minh Oanh về tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong
Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc,
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm