TIN TỨC

Người lính trở về từ “cửa tử” thành cổ Quảng Trị

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-02-15 11:44:12
mail facebook google pos stwis
859 lượt xem

Tết đến, khi mỗi gia đình sum họp, ta càng nhớ đến những người đã hy sinh tuổi trẻ cho Tổ quốc. Bài ký "Người lính trở về từ cửa tử Thành cổ Quảng Trị" không kể lại một trận đánh, mà kể về cuộc đời sau chiến tranh – nơi một người lính sống sót vẫn mang theo thương tích, ký ức và cả nỗi đau truyền sang thế hệ sau. Hòa bình đã đến từ lâu, nhưng với nhiều cựu binh, chiến tranh vẫn chưa thật sự khép lại.

Đại tá, Luật sư PHAN HOÀNH SƠN

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kết thúc ngày 30/4/1975. Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng những hậu quả của nó vẫn hiện hữu qua nỗi đau của nhiều thế hệ: chất độc da cam khiến hàng trăm nghìn người bị nhiễm độc, thế hệ thứ hai, thứ ba vẫn mang dị tật bẩm sinh; hàng trăm nghìn liệt sĩ chưa tìm được hài cốt hoặc chưa xác định được danh tính; những bà mẹ Việt Nam anh hùng vẫn đau đáu chờ tin con; nhiều thương binh, bệnh binh trở về đời thường trong cảnh thiếu thốn, ngày đêm vật lộn với bệnh tật và “cơm áo, gạo tiền”…

Những vết thương lịch sử ấy nhắc chúng ta về giá trị của hòa bình – và về trách nhiệm đối với những người đã đi qua chiến tranh.

Ở một vùng quê nghèo xã Cát Ngạn (huyện Thanh Chương cũ), tỉnh Nghệ An, có một cựu chiến binh năm nay 75 tuổi. Ông gầy gò, khắc khổ, bước đi chậm chạp, hai tay run vì bệnh Parkinson. Ông là Hoàng Khâm (Hoàng Văn Khâm), sinh năm 1950 tại xã Thanh Nho (huyện Thanh Chương cũ), tỉnh Nghệ An – một trong những chiến sĩ đã đi qua “cửa tử” của chiến trường Quảng Trị, thuộc Trung đoàn 48, Sư đoàn 320B, trực tiếp chiến đấu trong 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị (28/6/1972 – 16/9/1972).

Từ tiếng gọi của Tổ quốc

Theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, tháng 8/1971, với tâm thế “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù”, chàng thanh niên Hoàng Văn Khâm viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Sau 3 tháng huấn luyện chiến sĩ mới tại Đoàn 22A (Quân khu 4), ông cùng đồng đội hành quân vào chiến trường miền Nam, biên chế trong đội hình Trung đoàn 48 – đơn vị mang danh hiệu “Trung đoàn Thạch Hãn”, thuộc Sư đoàn 320B.

Các chiến sĩ bảo vệ Thành cổ Quảng Trị ngày 15/8/1972 - (Ảnh Đoàn Công Tính, nguyên PV chiến trường Báo Quân đội ND cung cấp)

Trong chiến dịch Quảng Trị, Trung đoàn 48 mang mật danh “Quang Sơn”, được giao nhiệm vụ giữ vững Thành cổ Quảng Trị. Suốt 81 ngày đêm, ông cùng đồng đội chiến đấu trong mưa bom bão đạn, góp phần làm nên chiến thắng Quảng Trị, tạo sức ép trên bàn Hội nghị Paris, buộc Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Nhắc đến Thành cổ, nhiều người nghĩ đến một địa danh lịch sử. Nhưng với người lính, đó là nơi từng mét hào, từng ụ súng đều được giành giật bằng máu. Đó là nơi tiếng pháo, tiếng bom, tiếng B52 rải thảm và tiếng pháo hạm ngoài biển hầu như không ngớt. Ở đó, sự sống và cái chết chỉ cách nhau một khoảnh khắc.

Cuộc chiến bảo vệ Thành cổ vô cùng khó khăn và nguy hiểm. Tương quan lực lượng giữa ta và địch chênh lệch; cán cân nghiêng hẳn về phía đối phương. Mưa liên tục, nước sông Thạch Hãn lên cao khiến việc tiếp tế vũ khí, lương thực, thuốc men và đưa thương binh, tử sĩ ra tuyến sau vô cùng gian nan.

Địch huy động tối đa phương tiện chiến tranh hiện đại: pháo giàn, pháo hạm, không quân B52, xe tăng… tổ chức tấn công liên tục hòng chiếm bằng được Thành cổ. Trong bối cảnh ấy, Đảng ủy Trung đoàn 48 ra nghị quyết nêu cao quyết tâm: “Quang Sơn còn – Quảng Trị còn”, như một mệnh lệnh thôi thúc cán bộ, chiến sĩ giữ vững từng vị trí chiến đấu đến hơi thở cuối cùng.

Ông Khâm kể, có những ngày ta và địch giành giật nhau từng mét hào, từng ụ súng. Không ít đồng đội của ông chiến đấu ngoan cường rồi anh dũng hy sinh, mãi mãi nằm lại bên dòng Thạch Hãn.

Còn ông, trong một trận đánh tháng 9/1972, bị thương nặng, không còn khả năng chiến đấu. Đồng đội dùng thuyền cao su đưa ông vượt sông Thạch Hãn về tuyến sau, rồi tải thương ra miền Bắc theo đường giao liên.

Vết thương ổn định, ông được đưa về Đoàn An dưỡng 405 (Quân khu 4). Khi sức khỏe hồi phục, ông tiếp tục phục vụ trong quân đội. Tháng 7/1977, ông xuất ngũ trở về địa phương.

Ông từng là “dũng sĩ bảo vệ Thành cổ Quảng Trị”, chiến đấu dũng cảm, được thưởng Huân chương Chiến công.

Nhưng những phần thưởng ấy, với ông, không thể bù đắp được những mất mát của một thời tuổi trẻ và những vết thương sâu trong thân thể – cả trên da thịt lẫn tinh thần.

Hậu chiến: “cửa tử” thứ hai

Như bao người lính thời ấy, ông Khâm trở về hậu phương với hai bàn tay trắng. Miền quê nghèo sau chiến tranh chật vật đủ bề. Và rồi trận lụt lịch sử năm 1978 ập đến: nhà bị ngập nặng, toàn bộ giấy tờ như lý lịch quân nhân, giấy chứng nhận bị thương, quyết định phục viên, các bằng khen và huân huy chương… bị nước lụt cuốn đi mất.

Mất giấy tờ, ông không làm được chế độ thương binh, cũng không thể hoàn thiện hồ sơ liên quan chất độc da cam. Đồng đội cùng chiến đấu hoặc nhập ngũ cùng ông hy sinh gần hết; sau giải phóng, đơn vị cũ đã giải thể… nên ông không thể bổ túc hồ sơ để hưởng các chế độ chính sách theo quy định. Ông từng gõ cửa nhiều cơ quan có thẩm quyền, nhưng vì không đủ chứng cứ, tiêu chuẩn theo quy định nên mọi việc vẫn bế tắc.

Bằng chứng duy nhất ông còn giữ được là bức ảnh chụp ông tại chiến trường Thành cổ, do phóng viên chiến trường Báo Quân đội nhân dân Đoàn Công Tính chụp sau một trận chiến đấu ác liệt. Bức ảnh ấy hiện được trưng bày ở Bảo tàng Thành cổ Quảng Trị.

Dũng sĩ bảo vệ Thành cổ Quảng Trị - Hoàng Văn Khâm 19 tuổi (nhân vật trong bài), chiến đấu dũng cảm, được thưởng Huân chương chiến công - (Ảnh Đoàn Công Tính, nguyên PV Báo Quân đội ND cung cấp)

Có một nghịch lý đau xót: một người lính từng xông pha nơi tuyến lửa, từng được khen thưởng, giờ lại không có đủ giấy tờ để được thừa nhận đúng phần đời của mình. Với ông, hành trình “trở về” hóa ra dài hơn cả hành trình ra trận.

Ông Hoàng Khâm (Hoàng Văn Khâm) đứng bên bức ảnh của mình, chụp ngày 24/07/2016 tại Bảo tàng Quảng Trị

CCB chiến trường Quảng Trị - Hoàng Khâm, hiện sống tại quê, hàng ngày phải chống chọi với bệnh tật, do vết thương tái phát mỗi khi trái gió trở trời.

Tuổi già ập đến cùng bệnh tật. Parkinson khiến đôi tay run rẩy; bước chân chậm chạp. Nhưng có một nỗi đau khiến ông day dứt hơn cả thương tật: đứa cháu nội mang di chứng da cam. Chiến tranh đã qua, nhưng nỗi đau như vẫn tiếp tục, truyền sang thế hệ sau bằng một hình hài bé nhỏ.

Ở tuổi xế chiều, người lính Thành cổ sống lặng lẽ trong cảnh khó khăn. Ông không kể nhiều về mình, càng không thích phô bày công trạng. Song ký ức về đồng đội – những người đã nằm lại dưới lòng đất Quảng Trị, dưới dòng Thạch Hãn – thì không lúc nào nguôi.

Tết đến, càng nhớ công ơn người đã hy sinh

Có những ngày thường ta bận rộn, dễ quên. Nhưng cứ đến Tết, khi nhà nhà sum họp, tiếng cười trẻ nhỏ vang lên, lòng người lại chùng xuống một nhịp. Ta nhớ công ơn những người đã hy sinh để đất nước có hòa bình; nhớ những người may mắn trở về nhưng mang theo thương tích, bệnh tật, và cả những thiệt thòi kéo dài.

Câu chuyện của ông Hoàng Văn Khâm nhắc chúng ta rằng tri ân không chỉ là vài ngày lễ, vài vòng hoa tưởng niệm, mà phải là sự quan tâm thiết thực với đời sống của cựu chiến binh – nhất là những trường hợp thiệt thòi vì mất hồ sơ, thiếu chứng cứ, hoặc vì di chứng chiến tranh kéo dài qua nhiều thế hệ.

Hòa bình là giá trị lớn nhất. Và trong những ngày đầu năm, khi nhắc đến hai chữ “bình yên”, có lẽ chúng ta càng thấm thía: bình yên ấy được đổi bằng máu xương của biết bao người – trong đó có những người như ông Khâm, đã bước ra từ “cửa tử” Thành cổ Quảng Trị để trở về, rồi tiếp tục đi qua “cửa tử” của đời thường.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Một hải trình để những bến bờ xa gần lại
Khi tàu KN 491 đã cập bến Lữ đoàn 125 sau 8 ngày đi biển, tôi vẫn có cảm giác mình còn lênh đênh trên sóng. Sóng không còn dưới chân, nhưng tiếng sóng vẫn ở trong lòng. Những hòn đảo đã lùi lại phía sau, nhưng từng gương mặt, từng cái bắt tay, từng màu áo lính, từng ngọn đèn trên biển vẫn hiện lên rõ ràng như mới vừa đây thôi.
Xem thêm
Muộn màng - Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có một kiểu âm thanh mà chỉ khi đi qua phân nửa đời người, người ta mới bắt đầu thấy sợ. Đó không phải là tiếng còi xe cấp cứu xé màn đêm, cũng chẳng phải tiếng sấm sét đùng đùng trước cơn giông. Đó là tiếng cái gậy mây gõ tốc... tốc... xuống nền gạch tàu cũ kỹ vào mỗi năm giờ sáng.
Xem thêm
Thương nhớ những mùa trăng – Tản văn Trà Bình
- Ai trong đời cũng có một tuổi thơ hồn nhiên gắn liền với những mùa trăng thật đẹp. Tôi cũng vậy, ánh trăng của những mùa Tết Trung thu năm xưa luôn là miền ký ức dịu dàng, trong trẻo. Bây giờ, dù đã trưởng thành, tôi vẫn giữ nguyên thói quen mong đợi đêm rằm – khoảnh khắc khiến lòng lại ngập tràn niềm vui như thuở bé.
Xem thêm
Bão tháng 9 - Tản văn của Vũ Minh Phúc
Trong tất cả những điều này – như sự nổi giận của nhiên nhiên, bầu không khí an nhiên và trong lành bị nghiêng ngả bởi làn gió thổi liên hoàn không biết từ đẩu từ đâu, mặt trời bị biến dạng, không còn xuất hiện nữa, bức tranh cuộc sống đầy tiếng thở dài nặng nhọc, thậm chí chẳng ai có thể làm nổi việc nữa, mọi thứ đều phải dừng lại – nhưng việc người ta có thể làm trong lúc này là ngồi chờ đợi trong nhà và ước gì bão sẽ qua đi.
Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm
Pha Đin – Nơi đỉnh trời vương vấn – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Trên cửa ngõ của chiến trường Điện Biên, tôi nghĩ đèo Pha Đin quả là một huyền thoại. Huyền thoại không phải chỉ được hiểu theo nghĩa là một phương pháp sáng tác trong văn học dân gian nhằm giải thích, phân chia ranh giới của hai tỉnh Sơn La và Điện Biên như người Thái từng kể, mà là cách gọi một hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường như người ta nghĩ. Cái hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường ấy không có gì khác ngoài sự khốc liệt của chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ đất nước diễn ra trên con đèo.
Xem thêm
Vận dụng nghệ thuật chỉ huy tác chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 - 25/8/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thành kính tưởng nhớ, tri ân sâu sắc công lao to lớn của vị Tổng Tư lệnh văn võ song toàn, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Xem thêm
Ngoại tôi – Tản văn Nguyễn Đức Hải
Nhớ hồi nhỏ, ngoại và tụi bạn cùng trang lứa trong ấp lội đồng bắt cá, chân lấm tay bùn vô tư lắm. Bắt được con cá lóc, cả đám gom rơm rạ khô trui ngay bên bờ cỏ, da cá cháy xém, mùi thơm phức lan tỏa trong gió chiều. Cá chín được xé ra nóng hổi, chấm muối ớt cay xé lưỡi, đứa nào cũng hít hà, miệng mồm đen nhẻm. Những ký ức thời tuổi thơ ấy đã làm nên một tuổi trẻ thấm đẫm hồn quê miền Tây, vừa hồn hậu, vừa nguyên sơ. Ngoại mỉm cười, ánh mắt đong đầy bao hoài niệm của một thời đã xa.
Xem thêm
Trái tim xanh của Bắc Kinh
Vào những ngày nóng nắng nhất đầu tháng 8, tôi cùng đoàn nhà văn TP.HCM hăm hở kéo va ly sang Bắc Kinh.
Xem thêm
Nhà văn Khuynh Diệp nằm hầm bí mật và tình yêu với TP Hồ Chí Minh
Cuộc thi “50 năm thành phố trong tôi” giúp nhà văn Khuynh Diệp lan tỏa ký ức, gửi gắm tình yêu dành cho TPHCM – nơi ông đã đi qua chiến tranh, trưởng thành trong nghề viết và gắn bó hơn nửa thế kỷ.
Xem thêm
Bát pin – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Có những kỷ niệm tưởng đã lùi rất xa vào dĩ vãng, vậy mà chỉ cần một âm thanh quen thuộc bất chợt vang lên là tất cả lại hiện về rõ ràng như mới hôm qua. Với tôi, đó là tiếng nói ấm áp phát ra từ chiếc đài bán dẫn cũ – thứ âm thanh từng thắp sáng những ngày tháng gian khó nơi miền quê chưa có điện. Và mỗi lần nhớ về chiếc đài ấy, tôi lại nhớ đến “bát pin” – một sáng kiến vụng về nhưng chứa đựng biết bao niềm hy vọng của một thời thiếu thốn mà đầy khát khao.
Xem thêm
Dòng suối mát trong rừng Mạn Ngược – Tùy bút Phương Uyên
Quê hương tôi có thể chưa nổi tiếng trên những bản đồ du lịch, nhưng với tôi, dòng suối giữa đại ngàn luôn là món quà đẹp nhất mà thiên nhiên đã ban tặng. Đó là vẻ đẹp của sự giản dị, thuần khiết và bền bỉ, như chính tâm hồn của những con người miền núi luôn chân thành, mộc mạc mà nghĩa tình.
Xem thêm
Mồ hôi và nước mắt tìm kiếm liệt sĩ
Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nửa thế kỷ, nhưng dư âm của những năm tháng máu trộn bùn non vẫn còn khắc sâu trên từng tấc đất quê hương, trong tâm trí của triệu triệu người con đất Việt. Những người lính Cụ Hồ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, những chiến sĩ biệt động và dân quân du kích năm ấy, khi dấn thân ra trận, tuổi đời hãy còn rất trẻ; các anh, các chị mang theo những hoài bão thanh xuân mãnh liệt và cả những ước mơ còn dang dở. Rồi trong khói lửa đạn bom khắc nghiệt, các anh, các chị đã anh dũng ngã xuống, hóa thân thành hồn thiêng sông núi, trở thành một phần máu thịt của đất trời Tổ quốc. Hưởng ứng hành trình 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ đang được triển khai sâu rộng trên toàn quốc, hàng triệu trái tim lại thổn thức, cùng hướng về một cuộc hành trình lặng thầm nhưng vô cùng cao cả: tìm kiếm, đón các anh, các chị về với đất mẹ, về với vòng tay ôm ấp của gia đình, người thân và quê hương xứ sở.
Xem thêm
Sắc tím bàng vuông - Tản văn Nguyễn Thu Hà SG
Tháng sáu, hoa bàng vuông nhà mình năm nay nở đặc bông. Thứ hoa chẳng được bày trưng bao giờ, cứ bung rực ra sắc tím tươi như những lời hẹn ước. Đôi khi em bắt gặp con đứng cạnh lồng chim và đăm đăm ngắm chùm hoa đang rộ. Tiếng con nhồng kêu lanh lảnh “ Cha về! Cha về!” làm thằng bé chợt giật mình…
Xem thêm
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ - Bút ký của Vũ Minh Phúc
Năm ấy, tôi được cử lên Điện Biên Phủ để tường thuật về sự kiện 1.000 anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Những con người anh hùng nhất, dũng cảm nhất, hôm ấy giữa Hội trường khang trang rộng lớn, ai cũng thổn thức kể chuyện đời mình. Những tấm huân, huy chương lấp lánh và cao quý nhất trên ngực những người lính già, nó được dành để trao tặng cho những con người đã hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc. Cuộc gặp gỡ qua đi, tôi về nhà, nhưng những câu chuyện ấy chẳng bao giờ qua đi, nó như cứ trở đi trở lại trong những giấc mơ.
Xem thêm
Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu
Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.
Xem thêm
Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng
Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi.
Xem thêm