TIN TỨC

Nguyễn Bính Hồng Cầu tháng ngày nắm buộc chân mây cuối trời

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-10-19 06:09:01
mail facebook google pos stwis
2812 lượt xem

TRẦN MAI HƯỜNG

“Hạt cỏ lông chông” là tác phẩm thứ 7 của nhà thơ Nguyễn Bính Hồng Cầu. Lấy tên một loài hoa ở miền gió cát khắc nghiệt vẫn sắt son, mãnh liệt sống làm tên tác phẩm, chị đã gửi gắm bao nhiêu trăn trở cuộc đời vào từng ký tự. Với 36 bài thơ như 36 ga đời không ga xép. Mỗi ga khai mở một gương mặt riêng, rất riêng...

Tháng ngày nắm buộc chân mây cuối trời, trong rất nhiều câu thơ hay của chị, câu này cứ ám ảnh tôi. Chị, một người đàn bà làm thơ viết văn. Không như nhiều nữ nhà văn khác, gánh trên vai sứ mệnh văn chương từ cái tên mà người cha thương yêu, thi sĩ Nguyễn Bính đặt với bao kỳ vọng. Đi tiếp con đường chữ nghĩa, theo gót lãng du của cha, can trường, lặng lẽ, tài hoa và cô độc.

Chạm vào bài đầu tiên, những dòng thơ ám gợi thăm thẳm, đau đáu và đầy trách nhiệm với Tổ quốc. Mượn ta để nói về nhân sinh, tâm sự với mình mà con chữ bời bời thổn thức: Nghiêng ngửa sơn hà/ máu xương hòa nước mắt/ cột mốc biên cương/ chòng chành sóng dữ/ một trăm năm/ một ngàn năm/ vẽ vời ký tự/ văn bản nào/ thoát kiếp vong nô?/ Ta mù khơi giông gió tơi bời/ đối diện biển đêm tứ bề dựng sóng/ con đường nào ta đi bến bờ nào ta đến/ Tổ Quốc trong ta lặng tiếng thở dài...

Khúc ngày xanh như khúc xạ đời, lênh loang ngày xưa, những cột mốc đời chất chứa cả ngạ quỷ thiên đường. Ẩn mình vào phận cỏ lông chông, vẫn là những nỗi đau và buồn phản diện nhau giằng xé nhau, bằng nổi chìm phận sóng, bằng vọng âm của khúc cầm xưa day dứt: Cỏ Giêng Hai vẫn xanh thời con gái/ thuở chúng mình hai đứa bộn bề nhau/ sông bao năm đổi thay dòng chảy/ căn cớ gì ta phủi sạch trầu cau?

Vẫn mênh mang trong mỹ cảm ngôn từ: “Giữa hai bờ mê thức/ ban mai cuồng phong/ hoàng hôn cuộn sóng/ Con tàu tôi lao về phía không không. Phía không không ấy là phía dại khôn lẫn lộn, vô thức và vô minh. Trong bầu khí quyển của cảm xúc, chị đã thành công khi đọc đúng mình: Tôi dại khôn/ nửa người nửa ngợm/ vô thức vô minh/ đảo điên mộng tưởng/ xòe bàn tay níu giữ mây trời...

Trong tầng tầng lớp lớp cô đơn của nhà thơ Nguyễn Bính Hồng Cầu, sự hợp hôn của hoàng hôn với ban mai để có những vần thơ như dứt máu. Trong dằng dặc đêm không ấy là những nỗi đau huyễn hoặc đến tận cùng và nồng hương thân phận. Những mảnh vỡ của đêm cứ nhấn sâu nhấn sâu vào tim người. Cầm cố nụ cười mà buôn nước mắt, ấy là bản tính của người tài nữ: “Người đi nát những đam mê/ đêm gom hết nhớ ngày lê thê buồn/ Gầy tay níu giữ cánh chuồn/ Trăng Giêng quá lứa chiều buông quá mùa/ Nghiêng trời nắng hạn chờ mưa/ Em như cổ tích khuôn vừa chiêm bao/ Giấc nồng trốn biệt nơi nao/ Đêm giăng lưới nhớ chênh chao sóng ngày/ .../ Đành tôi cầm cố nụ cười/ Mà buôn nước mắt khóc người ngày xưa...”, “Đêm vỡ vụn/ mắt cay xè giằng níu/ Hai đầu đêm giấc nhớ dậy thì/ Miếng trầu tươi nợ nần cau quá lứa/ Treo ngược đời nhau gút thắt cuộc luân thường...”.

Trong bài viết về ông lão mù hành khất, những câu thơ ngắt dòng như những giọt buồn giữa trời đông giá, giữa ấm lạnh tình người. Tiếng sáo chơi vơi, mong manh không cất nổi phận người: Tiếng sáo mưu sinh/ của ông lão mù hành khất/ chết nghẽn giữa tầng không/ lọt thỏm xuống lòng đường/ ông lão ngồi lặng câm/ giữa chiều xuân/ hoàng hôn/ hóa đá.../ chút nhân tình/ buốt giá bàn tay...

Đi quá nửa đời người, trôi trong dòng cảm thức, vũ trụ riêng của chị là thơ, kết tinh từ những cảm xúc dị biệt của người cầm bút. Nỗi buồn đậm đặc và đầy tính triết luận. Gánh cả nỗi đau nhân tình thế thái và nỗi đau mình. Thơ chị sáng tạo và ẩn khuất. Cái ẩn khuất trừu tượng và duy lý: “Ta gom nhặt những khóc cười thiên hạ/ hong nóng mình/ sỏi đá chiều buông...”, “Gót thời gian vô tư nhảy nhót/ ngày đêm/ rượt đuổi nhau/ chơi trò cút bắt/ nhật nguyệt trốn tìm/ trăng sao mê đắm/ ta và người/ từng nhau chồng vợ/ ly rượu giao bôi ngọt đắng một đời/ tựa vào miền xưa để được mình mầm nụ/ khát nhớ ngày xanh ngọn lửa cháy qua mùa...”

Mạch suy tư của một nhà thơ từng trải đã gợi lên bao day dứt, tự vấn về sự hy sinh mất mát. Còn bao phận người không được bù đắp sự hy sinh cùng những đau thương trong kiếp sống: “Vòng thời gian quay ngược mùa tang tóc/ giọt chiều rơi đắng đót cõi hương hoa/ đốm lửa tàn nhang lạnh cong dấu hỏi/ tượng mẹ anh hùng nước mắt chảy về đâu”.

Hướng về cõi tâm linh xa xăm vời vợi, câu thơ là một dấu hỏi xoáy sâu vào tâm khảm người đang sống. Đức tin cần sự thành tâm, sự thành tâm cũng cần được thể hiện bởi những tấm lòng cùng với tri ngộ về cuộc sống, về tất yếu hiển linh trong thế giới đa tầng: Lấp lánh vàng sao/ đính trên đầu mộ chí/ Tổ quốc ghi công/ đền đài chất ngất/ có thật ấm lòng/ hai cõi âm dương?

Chị đã mang những vần thơ từ cõi thực tiệm cận với cõi hư không đầy suy tưởng trọng nghĩa, nặng tình. Sức mạnh của tâm thế thi ca hòa quyện cùng tâm linh đã trao cho chị một tình yêu đầy tỉnh thức, đầy bản lĩnh với cuộc sống đang hiện hữu hàng ngày: “Thánh giá gục đầu/ tử nạn/ Phật hồi sinh/ cứu rỗi dân gian/ ghì đất nước/ trong vòng tay/ không tưởng/ phận mỏng dân đen/ mặt trời chết đứng/ tôi hỗn mang/ băng giá tật nguyền”…

Không chỉ nỗi vương vấn đời thường mà đã là nỗi trăn trở trong hồn cốt về một lẽ sống, về con đường phía trước cần lựa chọn. Cũng không chỉ cho riêng mình mà chính là nỗi trăn trở cho quê hương đất nước của bản ngã chân nhân. Nhà thơ đã chọn cách tiếp cận trong tâm thế “lực bất tòng tâm” nhưng với tình yêu Tổ quốc tận lòng. “Cao ốc bồng bềnh/ trời xanh mây trắng/ tầng kê tầng kế tiếp chon von/ chồng lấp mảng bê tông/ đẵm máu xương người thợ/ Nỗi oan khiên buốt đau lòng mẹ/ vợ mất chồng gia đình xé lẻ/ con mất cha côi cút phận nghèo/ canh bạc đời sấp ngửa nông sâu”…

Cảm thương những phận đời, phận người, từ bức tranh toàn cảnh về cuộc sống, nhà thơ thể hiện một tình thương yêu con người khi mạng sống người lao động bị coi rẻ. Để rồi điều cao cả luôn được nhà thơ khẳng định: “Ta hạt cát nhỏ nhoi/ trong miên man miền cát/ khao khát mặt trời/ ao sâu đầm nước mắt/ bồng bế nụ cười/ băng qua miền bất hạnh/ lấp lánh phận người/ phận mình/ số phận nhân dân”.

Đó là số phận của mỗi con người cần luôn được trân trọng. Đó là quyền tự do được sống, được mưu cầu hạnh phúc chính đáng chứ không phải là những phận người bập bềnh trong may rủi được thua hoặc trở thành những quân cờ trong tay kẻ khác.

Với thơ lục bát, nhà thơ Nguyễn Bính Hồng Cầu có khúc trầm sâu lắng: Từ tôi cánh gió phập phồng/ Ru mình mắt bão chiều đông đắm đò/ .../ Tôi như kẻ đã phải bùa/ Nát tình mấy bận chưa chừa cuộc yêu.

Đâu chỉ là cuộc yêu đôi lứa mà mãi đã là cuộc yêu nhân thế mặc những chuyển dời, kệ những đổi thay. Trong cả tập thơ, chị đã dành lục bát cho tình yêu đôi lứa như một quy ước hay chính là duyên tiền định cõi xưa? Cho dù sự lựa chọn có chủ định hay ngẫu hứng thì đó cứ là sự “vận vào” của cơ duyên: Cầm xưa biệt khúc ru người/ Bóng thời gian đổ khóc cười bể dâu/ À ơi, con sóng bạc đầu/ Ru trăm năm đã từng nhau một thời.

Hạt cỏ lông chông” là một tập thơ trăn trở những tỉnh thức, vương vấn những phận đời cùng những chiêm nghiệm bứt lòng rút ruột từ sâu thẳm cõi tâm. Sự vượt trước thời thế của một tâm hồn nhạy bén, của sự kế thừa và sự từng trải, nữ sĩ Nguyễn Bính Hồng Cầu đã viết nên một bản tâm ca khắc khoải những nỗi niềm. Những câu hỏi mà lời giải đáp đang là chấm phá mông lung đầy suy ngẫm, với biên độ mở ẩn chứa khát khao về tương lai. Sự nặng lòng với đời đã mang đến cho thơ chị mạch nguồn lẽ sống cuồn cuộn bứt phá tầng sâu. Chị đã đi tới đích mà mình mong muốn bằng cả tình yêu thương và sứ mệnh được gửi trao.

Sài Gòn, tháng 3/2021

T.M.H (Nguồn: Báo Văn Nghệ).

Các nhà thơ Nguyễn Bính Hồng Cầu - Trần Mai Hường
tại một buổi sinh hoạt ở Hội thơ Nghệ Tĩnh tại TP.HCM

Các bạn văn tại Nhà lưu niệm Nguyễn Bính.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm