TIN TỨC

Nguyễn Bính Hồng Cầu - Thức với miền xưa

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-08-18 06:54:11
mail facebook google pos stwis
2478 lượt xem

TRÚC LINH LAN
(Về tập thơ “Thức với miền xưa”, NXB Hội Nhà văn)  

“Tôi không nghĩ mình làm thơ để tiếp nối con đường của cha mình. Mình là kẻ hậu sinh, chắc chắn không thể vượt qua bao nhiêu chữ nghĩa của người đi trước. Tôi đến với thơ như một cứu cánh để giãi bày những điều tưởng như mình không thể chịu đựng nổi. Rất may tôi đã được giải tỏa bằng thơ và tìm thấy sự đồng cảm, chia sẻ. Bạn tôi nói Hồng Cầu làm thơ như… ma nhập. Khi đó, tôi không thể không viết. Phải viết thì mới yên lòng” (tác giả tự bạch).


Nhà thơ Trúc Linh Lan (trái) và nhà thơ
Nguyễn Bính Hồng Cầu

Trong cái bóng quá lớn của người cha tài hoa, Nguyễn Bính Hồng Cầu đôi lúc cũng cảm thấy bị áp lực, nhưng chị không thể rời bỏ thơ vì đó không chỉ là cảm xúc của chị mà còn mang yếu tố di truyền. Cầm trên tay tập thơ “Thức với miền xưa” với 38 bài thơ khi đọc qua một lần, tôi vẫn chưa nhận biết được nốt trầm của trái tim nhà thơ nữ này ngân lên ở cung bậc nào. Tôi mãi miết đi tìm một Hồng Cầu ngày xưa thiếu nữ “… Đời xanh nõn giăng tơ/ nắng vàng ươm mật ngọt/ vành vạnh vầng trăng…sóng sánh tiếng cười/ trong vắt pha lê…”. Một cô gái mới lớn xinh đẹp, tràn đầy sức sống, hồn nhiên trong veo ánh mắt mang trong lồng ngực thanh tân:

                      “…một giấc mơ hồng

                      Mùa đương chin

                      Thơm mùi thiếu nữ

                      …vành vạnh vầng trăng

                                                                          (Bán cái không thể - tr.39)

Cái thời “Tuổi mười lăm/ Nghiêng mình soi bóng nước/ Ngỡ ngàng quen lạ thời thiếu nử/ Mắt huyền mơ má lúm đồng tiền/ Môi chúm chím sắc ô môi bừng nở/ Khẽ ngượng ngùng thoáng bóng con trai…”. Hình như bạn yêu thơ đang bắt gặp một nàng thơ Hồng Cầu rất duyên dáng, hồn nhiên trong trẻo quá, cả khi bước vào tình yêu đầu đời cũng đẹp: “…Tôi rạo rực bước qua miền thiếu nữ/ Nụ hôn đầu cong vành môi ký tự/ Chạm khắc đời nhau muối mặn gừng cay...” (Liên khúc ngày xưa - tr.68).  Nhưng dòng đời nghiệt ngã lắm, nó níu kéo số phận người phụ nữ qua bao đời từ người bà bên ô trầu canh khuya, người mẹ trên bậc cửa lõm mòn, người con gái quá lứa lỡ thì đau đáu ước mơ bên vầng trăng khuyết và rồi chị cũng tin vào số phận, yếu tố tâm linh cứu cánh của nỗi buồn: “Ai tính được vòng quay định số/ Thân phận khóc cười sấp ngữa bàn chân/ Cõng nẻo đời băng qua miền cát bụi/ Nhọc nhằn tay trắng phận người trôi…” (Khao khát mặt trời - tr.27), trái tim thơ giàu cảm xúc đành phải:

               “…Ta cất giấu hồn nhiên vào đáy mắt

                Ủ mặt trời trong lòng ngực thanh tân…”

Từ “ta” ở đây tác giả như nói với chính mình và cũng như thì thầm cùng bạn yêu thơ những câu thơ trăn trở, ray rức, đau đáu số phận con người, sân khấu ngôn từ thơ nhiều sắc màu nhiều tầng nghĩa chồng chất lên nhau có chút nào đó mạnh mẽ, hào sảng như một bậc nữ lưu hào kiệt đầy nhiệt huyết với quê hương, ghét cái ác, cái giả trá, lọc lừa… Nhưng tôi lại thích một Hồng Cầu đầy nữ tính, đầy yêu thương day dứt:

                 “Chiều nghiêng xuống

                 Chạm mùa đang cuối

                 Người đàn bà gắng giữ chút ngày

                 Phập phù rút mái thời gian nhóm lửa

                 Thả lên trời những vòng mộng tưởng…

Không gian thơ của Hồng Cầu quá nhiều tầng nghĩa: “chiều nghiêng” kết hợp với “mùa đang cuối”. Sao nghe thương cảm quá khi hình ảnh “Người đàn bà gắng giữ chút ngày” để rồi thả lên trời “…những vòng mộng tưởng”. Tôi bắt gặp được hồn thơ của chị cũng mềm yếu, cũng thương cảm và cũng rơi nước mắt:

                 “…Giọt nước mắt

                 Loay hoay không bến đổ

                 Ngày cạn”.

                              (Ngày cạn - tr.7)

Không có hình bóng con thuyền, không có dòng sông nhưng đầy ắp nỗi cảm thông số phận con người và là một người phụ nữ đa đoan giữa dòng đời đen bạc, giữa cuộc sống phù du đầy mệt mỏi này. Sao tình yêu là một cái gì đó xa vời vậy? Trái tim yếu đuối, dễ đau, dễ vỡ, mà luôn đón nhận bao đắng cay. Thương quá một Hồng Cầu với trái tim ấm áp, nhân hậu, dịu dàng đằm thắm ước mơ có một tình yêu tươi đẹp:

               “…Giấc mơ anh êm mượt

                    Thịt da bung nở

                    Giọt nước mắt thăng hoa

                    Đỉnh tình e ấp gọi…”

 

                    …..miền anh xoáy lốc

                    ta tan vào nhau

                    ….ảo ảnh vỡ òa

                    sóng khóc….”

“ta tan vào nhau” câu thơ đẹp. Chỉ là mơ thôi, một chút của xao động nồng nàn, một chút của rung cảm mãnh liệt, cháy bỏng. Nhưng giấc mơ đó đẹp quá, bất cứ người phụ nữ nào cũng có những giấc mơ như thế, mơ một tình yêu: “Khát cháy men tình/ giấc mơ buông thả/ vũ trụ quay cuồng/ miền anh rực lửa…”  sao tôi thích những câu thơ này của chị quá, rất phụ nữ, rất đàn bà… Với Hồng Cầu chỉ một chút thôi, rồi trả lại trang thơ một trái tim yếu đuối: “Ta trốn vào ta/ giấu biệt/ giấc mơ trần tục…/ ta giấu vào ta/ chôn giấc mơ trần thế”. Bạn yêu thơ bất gặp một tâm trạng thảng thốt, vừa thất vọng vừa hy vọng:

                         “…  Ngày nhú mộng

                          ta rơi chiều thẳng đứng

                          Trốn vào khát khao

                          Nuôi giấc mơ tình”.

                                                            (Trốn vào khát khao - tr.15)

Theo tôi giấc mơ đó rất đẹp, rất đời thường mà sao lại là “trần tục”? Chị lại  đưa ta đến một ngạc nhiên khác khi kết bài thơ với từ “nhú” mộng, “nuôi”  giấc mơ tình nghĩa là chị vẫn còn muốn chăm chút, giữ gìn một giấc mơ trần thế, dù chỉ lóe lên một ánh nắng ấm áp, một đóa hoa xuân đang rộ nở trong thực tại cõi người, dù trong cảm giác mệt mỏi, vẫn kiên trì: “…Tôi mệt nhoài/ cắt từng lát đêm/ ủ vào ngực áo/ nắng ngày lên/ chiêm bao” thương quá một trái tim luôn rực cháy yêu thương nhưng lại còn e dè cất giấu. Nghe đau đáu một nỗi niềm mòn mỏi: “Bóng dáng nào ta quên/ hình hài nào ta nhớ/ ai bây giờ/ ai ngày mai/ ai người năm cũ...” Ai, ai, ai… được lặp đi lặp lại, người đàn ông nào đó đi qua cuộc tình thời xuân sắc, thời yêu thương để bây giờ: “…nỗi nhớ không lối về/ nghe chừng…đêm đau”, Hồng Cầu ơi đêm đau hay người đau? Sao nghe nhói buốt trong lòng vậy!

Trong thơ chị chạm khắc số phận người phụ nữ “dâu bể” trong tình yêu, trái tim quá trĩu nặng nỗi buồn quá khứ, người đàn bà trong thơ luôn đi qua những cơn mơ dài, đi qua trận bão giông cuộc đời, giông bão tàn phá ngôi nhà, xé nát một cảnh đầm ấm ngọt mật, đổi lại những oán hơn, trách cứ: “…Yêu thương bốc hơi/ hóa kiếp căm thù/ những lằn roi ngôn từ/ quất vào nhau rát rạt…” một bức tranh đầy gam màu lạnh rất sống động: “Lũ nhỏ lóp ngóp bò/ qua cơn hồng thùy/ chới với ánh mặt trời/ tật nguyền tâm thế...”. Là phụ nữ, là một nhà thơ Hồng Cầu nhận ra rất rõ số phận những đứa trẻ sau cơn bão, không gian buồn của người thiếu phụ lẻ loi, trống vắng khi cơn bão cuộc đời đi qua để lại bao hậu quả bi thương. Hình ảnh người đàn bà ngồi bên cửa sổ đón hoàng hôn thật lạnh lẽo, hoảng hốt gom chút nắng với chút hy vọng nhỏ nhoi:

                “…tự làm ấm mình

               Trong ngôi nhà trống”

                                              (Ghi sau cơn bão - tr.23)

Hình như có tiếng thở dài trong cái nhập nhoạng của chiều, sự bất lực trước không gian trống trãi quạnh hiu: “…Còn ta/ nước mắt tràn trang giấy/ giọt mồ hôi mãi miết kiếm tìm/ không thấy tứ/ con chữ vô hồn/ phơi trắng câu thơ” (Còn ta - tr.35). Và rồi cũng chính nỗi đau đã làm nên câu thơ hay bởi sự dồn nén, sự đau xót, cô đơn, Nguyễn Bính Hồng Cầu đã thăng hoa cảm xúc viết nên những câu thơ rực sáng từ trái tim thơ nhạy cảm và tinh tế:

                   “…thời gian gõ nhịp nỗi đau

                   thoát thai nhập hồn ký tự

                   cảm xúc thăng hoa

                   pháo bông xòe con chữ

                   ngôn ngữ lấp lánh nỗi mình

                   thơ mọc cánh

                   Bay.”

                                             (Sân khấu ngôn từ - tr.25)

Ta cũng bắt gặp một Hồng Cầu thật tỉnh táo tự hỏi mình: “Lẽ nào mãi theo nhau/ đuổi hình bắt bóng/ kiêu hãnh nhân danh ngụy tạo/ giả dối đua chen/ bước lên cầu ảo ảnh.” (Lẽ nào - tr.37), đi tìm một hình bóng ngày xýa cách ðây bốn mýõi nãm trýớc: “…cũng hoa cười/ sóng sánh trăng rằm”, bây giờ trong lòng ngổn ngang bao sợi ưu tư thế cuộc, ưu tư những số phận da cam, những chàng trai đối mặt với sóng gió biển Đông, ưu tư cả phận mình: “…Hay là tôi con sóng ở trong lòng?…Chỉ trong tôi khuyết một bóng người”.

Sông thơ Hồng Cầu chảy qua cuộc chiến, chảy qua miền ký ức, chảy qua bao dòng đời người nghiệt ngã, vui, buồn, đau khổ, xót xa nhưng lại tràn đầy niềm tin, cấu trúc thơ chị với nhiều câu mang khoảng không gian thơ khoáng đạt, mạnh mẽ với sân khấu ngôn từ nhiều tầng nghĩa, đa sắc màu, biến hóa lấp lánh thông điệp nhà thơ muốn bày tỏ, muốn tâm sự với bạn yêu thơ sức chiêm nghiệm cuốc sống:

           “Ta cố nhặt

           Chút niềm tin rơi rụng

           Hy vọng mùa sau.”

                                             (Hy vọng mùa sau - tr.41)

Khép lại trang thơ cuối cùng tôi muốn mượn lời nhận xét của nhà thơ Ngọc Bái về nhà thơ Nguyễn Bính Hồng Cầu để kết thúc bài viết của mình: “Dễ nhận ra vẻ thuần hậu nữ tính trong một trái tim thơ chân phác và nhân ái. Những bài lục bát nhuần nhị như cố níu giữ bóng dáng của bậc sinh thành khả kính. Những bài thơ tự do nuôi dưỡng những ý tưởng mới mẻ. Những suy tư luôn muốn bứt phá khỏi cái vỏ hình thức thơ muôn thuở. Đấy là chút phóng khoáng của sông nước cỏ cây, của bình dị đồng quê miệt vườn. Tự tạo chân dung thơ bằng chính những điều giản dị như cuộc sống vốn có. Đấy là duyên thơ ân nghĩa được thừa hưởng của sự pha trộn huyết thống Bắc Nam. Đấy là chút phiêu du của người mê đắm tự do. Đấy còn là nỗi cực nhọc trần gian chỉ có ở người đa cảm hồn nhiên. Chừng ấy đủ để ta quý mến nhà thơ Nguyễn Bính Hồng Cầu (Nhà thơ Ngọc Bái).

Vâng chừng ấy cũng đủ để người ta yêu quý chị và cũng bởi trong câu thơ chị chúng ta cũng bắt gặp được chính mình hôm nay hoặc ngày mai.    

              “Ta bây giờ

               ngày mai

               tờ lịch rơi

              đầu thêm sợi trắng

              đêm bao la

              nỗi nhớ không màu.

                                              (Nỗi nhớ không màu - tr.21)

Cần Thơ, ngày 11 tháng 8 năm 2015

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”
Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.
Xem thêm
Chiến tranh và chiến tranh - Tiếng kêu thương thảm khốc!
László Krasznahorkai sinh năm 1954 tại Gyula, Hungary, học Luật, có bằng Ngôn ngữ Hung và Sư phạm. Nhà văn tự do từ năm 1982. Tiểu thuyết: Sátántangó (Sasantango, 1985), Az ellenállás melankóliája (The Melancholy ơf Resistance, 1989), Az urgai fology (The Prisoner ơf Urga, 1993), Háború és háború (War and War), 1999), Északról hegy, Délróltó, Nyugatról utak, Keletról folyó (From the North by Hill, From the South by Lek, From the West by Roads, From the East by River, 2003), Rombolás és bánat az Égalatt (Destruction and Sorrow beneath the Heavens, 2004), Seiobo járt odalent (Seiobo There Below, 2008), Báró Wenkheim hazatér (The Homecoming ơf Baron Wenkheim, 2016)…
Xem thêm
Cảm nhận về tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của tác giả Trương Văn Dân
Nhận được Bàn tay nhỏ dưới mưa tác giả gởi tặng cũng hơn nửa tháng rồi, tính nhâm nhi đọc nhưng cứ lần lữa mãi. Nay có thời gian thảnh thơi tôi mới có dịp thưởng thức tác phẩm của anh.
Xem thêm
Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương
Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức
Bài viết của nhà thơ Ngô Minh Oanh về tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong
Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc,
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm