TIN TỨC

Nguyên Hùng với nghệ thuật lắp ghép, sắp đặt - hai trong một

Người đăng : vanchuong
Ngày đăng: 2024-10-16 20:25:44
mail facebook google pos stwis
1165 lượt xem

Nguồn:

Nhà văn KAO SƠN

Năm 2017 Nguyên Hùng đã nhặt nhạnh, tìm kiếm tới hàng ngàn mảnh rời rạc rồi sàng lọc, sắp xếp chúng lại cho khả dĩ có thể qua đó phần nào lột tả được dù chỉ một phần nhỏ gương mặt 102 người văn. Và anh gọi đó là những mảnh ghép văn nhân. Lần này là “81 ký họa thơ”.  Nghĩa là cũng như lần trước, Nguyên Hùng dùng thơ để vẽ chân dung bạn văn. Mục đích vẫn là để tri ân, tri âm, tri tình với những người mà anh yêu mến.

“Đây chưa phải là tập hợp những nhân vật tiêu biểu được chọn (trong số hàng ngàn nhà văn nhà thơ Việt Nam) mà chỉ chỉ gồm các phác họa về những tác giả thân quen hoặc những tên tuổi mà tôi được đọc hoặc ít nhiều hiểu về họ và đem lòng quý mến”. Bên cạnh đó anh cũng nói rõ, ưu tiên cho những nhà văn nhà thơ (kể cả người đã mất hay còn hoạt động) trong lĩnh vực quốc phòng, lực lượng quân đội, vũ trang nhân dân… đồng thời khiêm tốn: “Tác giả coi tác phẩm này như một cuốn Kỷ yếu nho nhỏ và hy vọng nó có thể giúp bạn đọc biết thêm hoặc nhắc nhớ về tác phẩm của các nhà văn nhà thơ…”. Thế thôi. Rất rõ ràng.

Hai lần với hai tác phẩm có thể coi là giống nhau cả về Chủ đề, Mục đích và Nghệ thuật lắp ghép, sắp đặt. HAI TRONG MỘT - Sẽ là khó nếu như non tay với cảm giác trùng lặp. Nhưng Nguyên Hùng đã vượt qua. Anh viết cẩn trọng hơn và dùng từ “ký họa”. Vẫn là chân dung nhưng ở dạng ký họa. Nghĩa là chỉ chọn lấy những đường nét cơ bản nhất, có ý nghĩa nhất, cô đọng nhất và tập trung vào cái Thần thái là chính. Không cần phải bày hàng. Không cần tốn nhiều bút mực để mô tả, dựng dã. Dẫu vậy, đã gọi chân dung thì phải giống. Phải nhìn ảnh, nhìn họa mà thấy người. Viết, dùng chữ để vẽ chân dung, một chân dung theo đúng nghĩa đen của nó, lại càng không dễ. Bởi cái chân dung ấy không thể nhìn bằng con mắt thường mà phải bằng trái tim. Dùng trái tim để nhìn trái tim và rồi để vẽ một trái tim. Trái tim không cùng nhịp đập thì vẽ nhau là không trúng, không giống. Có thể “đẹp” hơn nhưng ít giá trị. Mặt khác, nếu chỉ là ký họa lại không thể dùng tới quá nhiều đường nét, màu sắc. Thế thì cần rất nhiều một dồn nén, một chọn lọc tinh xảo.

Mỗi con người mang một số phận bí ẩn. Để nhận diện được họ một cách chân xác hoàn toàn không hề dễ. Khoa học có cách để giúp các nhà quản lý định danh gắn chip, nhận diện khuôn mặt, thậm chí có thể quản lý mọi hành vi của mỗi cá thể, nhưng để biết họ nghĩ gì thì không. Mà nghĩ lại là thuộc tính người cơ bản nhất. Với các nhà văn, các nghệ sỹ lại càng khó. Bởi mỗi người trong số họ đều là những vì sao cô đơn với hành trình riêng biệt không thể định danh. Cho dù vănngười. Đã có không ít những văn nghệ sỹ mà hành động sống, những biểu hiện bên ngoài của họ khác xa với tác phẩm mà họ sáng tạo nên. Bởi tác phẩm chứa đựng lòng mong mỏi, khao khát vươn tới chứ không đơn thuần là biểu hiện hiện tại. Cái bản thể của mỗi văn nghệ sỹ chứa trong nó một con tim luôn cựa quậy, luôn trăn trở với bao nênkhông nên. Muốn không muốn. Cùng đó là mơ ước. Còn phải, phải thế nọ, phải thế kia lại là ý chí, sản phẩm được hình thành từ kinh nghiệm, từ du nhập kiến thức của bộ não. Nhìn ra được, vẽ được cái “hồn Trương Ba” ẩn bên trong lớp “da hàng thịt” của mỗi người văn mới khó nhưng cũng là tuyệt nhất.

Chất liệu là tên các tác phẩm tiêu biểu, những câu thơ hay của “người mẫu”. Nhưng “khó” thì tất nhiên là rất khó. Với các nhà văn, nhà thơ lại càng khó. Văn là người. Ai cũng bảo thế. Văn của họ bày ra bằng giấy trắng mực đen, giữa thanh thiên bạch nhật, chả cần kính lúp cũng nhìn rõ từng dấu chấm phảy, chấm than, chấm… lửng lơ… Vậy mà… Nói là cứ lấy những tiêu đề tác phẩm, câu thơ nổi tiếng… của họ rồi ghép, khéo léo chút là được… thực không hề dễ. Phải “biết” nhau lắm mới làm nổi. Biết ở đây có nghĩa là đã từng quen thân, đã từng tâm tình chia sẻ. Hay chí ít cũng đã đọc nhau nhiều, thậm chí “phải lòng” những tác phẩm của nhau. Đọc nhau, hiểu cái căn cốt của nhau qua từng câu chữ. Và một điều quan trọng: Dù là một nhà thơ “chính hiệu, có nhãn mác, có thương hiệu” và dùng thể loại thơ để bày đặt, lắp ghép hay thay cho cây cọ, nhưng Nguyên Hùng không “làm thơ”, không “sáng tác” về họ theo nghĩa đen của từ này. Anh tôn trọng sự việc như khi viết một bút ký. Tất cả đều lấy từ chất liệu chính là tác phẩm của “người mẫu” nhưng được chọn lọc rất công phu. Giống như người họa sỹ theo trường phái sắp đặt đứng giữa ngổn ngang những đồ vật bắt mắt. Và cũng lại giống như người thợ dùng những chất liệu thô mộc để tạo bức tượng. Nhưng cát, xi măng, sỏi đá hay thạch cao, sắt thép gì thì cũng phải cái nào ra cái nấy. Không tạm bợ, vá víu. Không vay mượn. Không quàng qué cho xong. Nghĩa là tất cả đều được sàng sảy kỹ lưỡng. Cũng là đồ vật, chất liệu chứa trong bờ bãi ấy, quặng mỏ của vùng đất ấy nhưng dù có lóng lánh, bắt mắt đến mấy nhưng nếu không hợp với ý đồ, công việc thì dứt khoát không dùng. Nhiều người mẫu có lượng tác phẩm được liệt kê ra là khá nhiều nhưng, như Nguyên Hùng đã nói, khi đó, những liệt kê ấy chỉ có tác dụng làm một thông tin trong “cuốn kỷ yếu mini”. Còn chân dung về họ có khi lại chỉ được khắc họa bằng một vài nét cọ, nhát đẽo, dăm ba con chữ tiêu biểu. Ngắn nhưng nói hết được ý, lột tả hết được thần tướng, bày tỏ hết được nỗi lòng… thế là OK.

Có những bài người đọc đọc lên và rồi quên những câu chữ in nghiêng trong đó không còn là tên tác phẩm của người mẫu nữa mà là câu thơ, là tình của Nguyên Hùng rót vào. Ngay bài đầu tiên khi dựng chân dung nhà thơ Nguyễn Bính đã có cảm giác như vậy. Hoặc là Nguyễn Bính linh thiêng đã “tri bách dư niên hậu” sẽ có gã khùng Nguyên Hùng nào đó dùng những chữ của mình để vẽ chân dung mình chăng? Chi tiết ở Huế khi tết đến, nằm suông nhớ nhà “thuốc lào hút mãi người ra khói” trong thơ Nguyễn Bính được một lần nữa tái hiện “Ông lão mài gươm phun bã khói/ Một mình làm cả cuộc phân ly”… thì... thật giỏi. Nó không chỉ gói được cái bệnh nghiện thuốc lào ngày càng nặng, hút đến nuốt hết khói, chỉ còn “bã khói” của người mẫu. Kèm đó là tính cách sống ngang tàng của kẻ quân tử sinh bất phùng thời. Rồi cả cách bỏ hạ giới ra đi, một mình cưỡi mưa gió về giời chả giống ai của Nguyễn Bính nữa. Cô đơn một đời và cô đơn đến chết. Cách sống và cách chết của một con đại bàng.

Với Hoàng Cầm lại như một truyện ngắn, một câu chuyện về đời riêng người mẫu. Có Kiều Loan với bao niềm vui sướng / Vẫn lên đường tìm mãi lá diêu bông. Lấy ngay tên bài thơ nổi tiếng nhất của Hoàng Cầm để vẽ chân dung ông, cuộc đời riêng và cả tính “đa tình” của ông.

Văn Cao: Tự lúc nào trong âm thầm gác tối / Buồn tàn thu ám vận suốt một đời? Một phác họa mà khái quát tổng kết được cả đời người trong một câu thơ. Hé mở định mệnh. Thế thôi. Thế là đủ.

Hoàng Cát:  Một chân mất bởi chiến tranh/ Một chân còn lại ông Lành bẻ đôi... Tưởng đâu thanh thản cuối đời…/ Mà sao khổ nạn cõi người chưa buông... Là kể, là liệt kê. Như một khúc trong một bút ký ngắn.

Lưu Quang Vũ: Có phải vì buông lời ông không phải là bố tôi/ Đành ngậm ngùi dắt yêu thương rời cõi tạm? / Người trong cõi nhớ ơi, ai là thủ phạm/ Để công lý được đòi bất chấp những chiếc ô? Một nghi án được nêu lên từ mấy chục năm không lời giải được nhắc lại như một trăn trở một day dứt không nguôi. Ngầm nói đến những bất trắc vô thường mà những văn nghệ sỹ chân chính phải đón nhận. Sinh nghề tử nghiệp là vậy.

Hoàng Nhuận Cầm lại là một lối chiết tự tinh nghịch: Vẫn tỉ tê thơ tuổi hai mươi / đằng sau cánh cửa /Để nhuận vợ mấy lần vẫn cầm tuổi hoàng hôn.

Và như vậy, sự trân trọng chiết xuất từ tấm lòng mến mộ, cảm phục và yêu quý của Nguyên Hùng với đối tượng đã được bộc rộ rất rõ. Có câu thơ như đúc kết cho một đời người, đời văn. Có câu lại như một ám chỉ, một nhắc nhớ đến một sự cố nào đó mà người mẫu từng bị hứng chịu.

Có một khác biệt đáng chú ý. Khi viết về chân dung một vài nhà văn có tên tuổi khá nổi đình đám (ví dụ Huy Cận, Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh…) một số người thường đưa ra các nhận định, có thể là khen hoặc chê. Điều này thuộc về quyền của người viết khi họ thể hiện đúng theo cảm nghĩ, cách nhìn nhận của mình. Đúng sai tùy thuộc trình độ, góc đứng trong hệ quy chiếu riêng và hoàn toàn chấp nhận được. Nhưng nếu lại vì một thiên kiến có chủ ý, hoặc vì một mục đích cá nhân mà hơi quá… thì lại khác. Mất khách quan. Không có cái nhìn toàn cục, toàn diện. Nó có thể gây tạo nên một sự tò mò thích thú cho một đám đông vốn xem các scandal trong giới văn nghệ sỹ như một trò tiêu khiển. Nguyên Hùng vẫn dựng lại về nhân vật nổi tiếng ấy, vẫn dùng đến những tác phẩm của họ làm chất liệu nhưng theo cách nhìn của riêng anh. Thường là ấm áp, nhân hậu hơn, có sự thấu hiểu về hoàn cảnh điều kiện và chính vì thế cũng công bằng, hợp lí hơn. Anh ý thức được trách nhiệm của mình và nghiêm túc khi thực hiện trách nhiệm đó. Không bôi hồng tô son, không ngợi ca kiểu tung hô, đánh bóng. Không quét sơn lên thần tượng. Nhưng cũng không né tránh. Anh không bi kịch hóa, không vơ đũa cả nắm, không quy chụp vội vàng, không săm soi chỉ một khía cạnh, một góc mà luôn có cái nhìn mẫn cảm hơn, thấu hiểu và bao dung trong cái nhìn tổng quát, rộng lớn hơn. Và cũng có nghĩa, để làm được điều đó rất cần một bản lĩnh một cái tâm trong sáng, cùng một trái tim yêu thương, nhân ái chân thành.

Đặc biệt trong cuốn sách này, do thời điểm xuất bản trùng với kỉ niệm 80 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam nên Nguyên Hùng dành nhiều thời lượng, bút mực, sắc màu cho những “người mẫu” là các nhà văn, nhà thơ đã từng, hoặc vẫn đang đứng chân trong lực lượng vũ trang. Tác phẩm cùng những hy sinh cống hiến của họ khi còn trong quân ngũ được anh thể hiện với một sự trân trọng đặc biệt. Lưu Quang Vũ, Nguyễn Trường, Khuất Quang Thụy, Hữu Thỉnh, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Đức Mậu, Trần Mạnh Hảo, Hoàng Cát…v.v. Không phân biệt cấp bậc, rất bình đẳng, công tâm và đầy yêu mến.

Với một chân dung văn học, thì dù cho là một bài thơ ngắn, một ký họa hay một vài mảnh ghép đi nữa thì “chất văn học” vẫn luôn là một yêu cầu không thể xem nhẹ. Mọi cái nhìn, cách đánh giá, và ngay cả cách biểu đạt, có thể kinh viện, nghiêm túc, có thể đùa vui, thậm chí tếu táo chút kiểu thận mật bạn bầu… nhưng cuối cùng vẫn luôn phải đảm bảo tính văn trong đó. Nhân văn, không ác ý, không tầm thường hóa giá trị. Và nói chung phải là một tác phẩm văn học, một sản phẩm văn hóa. Nếu không nó không có chỗ đứng trong nền văn học và sẽ không được chào đón.

Một lần nữa xin lại được “leng keng” cùng Nguyên Hùng và hy vọng sẽ có nhiều ngọn gió lành ấm áp thổi đến cùng vui với anh.

Sài Gòn, mùa Thu 2024 - K.S

Nguồn:

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm