TIN TỨC

Nguyễn Minh Tâm với ‘Ấm lạnh pháp đình’

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-09-02 14:37:48
mail facebook google pos stwis
2371 lượt xem

NGUYỄN VĂN HÒA

 (Nhân đọc tập thơ Ấm lạnh pháp đình của Nguyễn Minh Tâm, Nxb Hội Nhà văn, 2023)  

Ấm lạnh pháp đình là tập thơ thứ 3 của nhà thơ, luật sư Nguyễn Minh Tâm. Đây là một tập thơ khá đặc biệt, bởi tác giả tập thơ là người hành nghệ luật chứ không phải hoạt động bên lĩnh vực văn chương. Và tất cả 104 bài thơ đều xoay quanh vấn đề pháp đình. Để thể hiện và chuyển tải những vấn đề nơi pháp đình bằng thơ với những vần thơ đậm chất trữ tình, sâu lắng thì không phải ai cũng có thể làm tốt như Nguyễn Minh Tâm.

Ấm lạnh pháp đình, hiển hiện rất nhiều những sự việc, tình huống với nhiều cung bậc sắc thái mà nhân vật trữ tình là người chứng kiến, thậm chí những hình ảnh đó đã trở thành nỗi ám ảnh thường trực trong tâm hồn. Vì thế, xuyên suốt trong thi tập là những vấn đề được nói đến rất thành thực, bộc lộ rõ những tâm tư, nỗi lòng của một con người có trái tim nhân ái, biết đau nỗi đau của người khác, biết cảm thông cho những phận người bé mọn trong cõi nhân sinh rộng lớn này.

Một đời mải miết bôn ba

Ước mong tìm một bài ca nhân tình

Nắng mưa ấm lạnh pháp đình

Thương bao thân phận bập bình nổi trôi…

Ấm lạnh pháp đình là nhật ký hành trình cả trong hiện thực lẫn trong tâm tưởng. Ở đó là tấm lòng, là thái độ sống với những suy ngẫm, triết luận sâu sắc của một người sống có trách nhiệm, có nghĩa khí và hơn hết là con người sống có tâm. Nhà thơ, luật sư Nguyễn Minh Tâm không phải chỉ sống cho bản thân mà luôn nghĩ về người khác, những người có số phận, hoàn cảnh đáng thương.

Tôi đã từng được nghe anh kể về những câu chuyện nhói lòng sau mỗi phiên tòa xét xử. Mỗi gia đình, mỗi số phận, mỗi hoàn cảnh đều có những nỗi niềm riêng. Nhưng cái hiện hữu vẫn là tình người. Không ở đâu thấy rõ sự đau đớn, chua chát, phân ly và rất nhiều câu chuyện bi hài như ở những phiên tòa. Là vị “lão làng” trong ngành luật như Nguyễn Minh Tâm thì hơn ai hết anh thấu rõ điều đó. Có lẽ, với chuyên môn thâm niên như anh cộng với sự nhạy cảm, tinh tế của một tâm hồn thi sĩ đã giúp Nguyễn Minh Tâm “phóng bút” để cho ra những vần thơ da diết, thấm đẫm nỗi đời, nỗi người, nỗi nhân tình thế thái như thế. Cái tôi triết luận của Nguyễn Minh Tâm được đúc kết từ sự trải nghiêm của bản thân, từ những chiêm nghiệm, suy nghĩ thật chín chắn nên rất mực chân thành và có sức thuyết phục.

Điều làm nên sự khác biệt và cũng là điểm nổi bật trong thơ Nguyễn Minh Tâm dường như dù có nói đến những nỗi buồn, nỗi đau, sự trăn trở, khát vọng, hoài nghi... nhưng vẫn thấy đằng sau đó có chút hóm hỉnh. Cái hóm hỉnh của một người giàu trải nghiệm và đậm chất trí tuệ.

- “Anh một nửa khô cằn như pháp luật/ Một nửa mình lại ướt đẫm thi ca/ Hai nửa ghép thành trái tim u uất/ Nên chẳng giọt máu nào nở được thành hoa”.

- “Quá nửa đời mải miết đi/ Vẫn chưa tìm được cái gì.../ Chán chưa/ Thì quay về với muối dưa/ Chấm thêm chút nắng chút mưa cho nồng/ Chan thêm một chút đèo bòng/ Rồi sùm sụp húp.../ Cho lòng/ đỡ vênh!!!” (Tìm).

Hiện thực xã hội càng trở nên nhức nhối do tác động của nền kinh tế thị trường với những lối sống phức tạp. Chính vì thế, nơi pháp đình cũng có nhiều những điều cần phải xem xét lại. Thế nhưng, đôi lúc Nguyễn Minh Tâm cũng phải tự thán:

“Công lý vốn dĩ công bằng

Chả phân biệt ông với thằng đâu em

Chỉ vì thời buổi nhá nhem

Thì thằng, ông mới nhập nhèm thế thôi”.

Nỗi buồn trong thơ Nguyễn Minh Tâm còn đến từ cảm giác bất lực trong việc nhận thấy đạo đức xã hội đang băng hoại, xuống cấp một cách nghiêm trọng.

Những trạng huống bi - hài trong đời sống trở nên phổ biến nhưng tận trong sâu thẳm tâm hồn người thi sĩ, luật sư Nguyễn Minh Tâm vẫn còn niềm tin và khát vọng về những điều tốt đẹp ở phía trước. Không chỉ lạnh lẽo, giá băng ở nơi pháp đình mà ở đó vẫn còn những ấm áp của tình thương, tình người, sự ấm áp của công lý, của lẽ phải và những giá trị nhân bản vĩnh hằng.


Nhà thơ Nguyễn Minh Tâm và tác giả (TP.HCM, ngày 31/8/2024)

Trong Ấm lạnh pháp đình, Nguyễn Minh Tâm đã tạo ra nhiều tiếng nói, nhiều đối tượng để đối thoại nhưng kỳ thực là nhà thơ đang nói với chính mình. Bộc lộ một cái tôi muốn bứt phá vượt qua mọi giới hạn để thể hiện tình yêu thương da diết, sự cảm thông sâu sắc đến thân phận con người.

Nhà thơ có những khoảnh khắc phơi trải đến tận cùng nỗi buồn, sự trăn trở, hoài nghi. Đây không phải là sự suy nghĩ tiêu cực của nhà thơ mà đó là một thực tế. Nguyễn Minh Tâm nhận thức rõ điều đó để khẳng định cá tính và nhân cách của chình mình.

Chỉ mong sao công lý/ Đừng đội nón ra đi/ Cho niềm tin còn lại/ Khỏi đến ngày suy vi (Đại, tiểu).

Là người có thâm niên trong nghề luật nhưng đôi lúc anh cũng tỏ ra hoài nghi về kết quả của một số phiên tòa.

Lại cái chuyện oan khuất/ Ám ảnh suốt mười năm/ Cứ dằng dai dai dẳng/ Bây giờ lại sủi tăm!// Bản án vô thiên lý/ Bất cần cả Đạo Đời/ Xói vào Luật Nhân Quả/ Cứ như là khoái chơi!// Này nọ kia là thế/ Vì oan khuất ở đời/ Chẳng còn là cá biệt/ Thiên lý Nhân lý ơi !!!// Ngồi lặng thương thân chủ/ Lặng lẽ viết thành thơ/ Nghe lòng mình rỉ máu/ Suốt mười năm đến giờ...

Vì thế, Nguyễn Minh Tâm có nỗi đau riêng của chính anh, của nghề mà anh đã và đang làm. Ở đó, anh tự dặn mình phải sống và làm việc cho đúng với đạo đức, lương tâm của người thực thi công lý. Trong bài thơ Đau nghề, người đọc sẽ thấy rõ điều đó.

Đau cho thế thái nhân tình

Buồn cho hai chữ nhục vinh của đời

Đau cho nghề lắm, nghề ơi

Coi chừng chết đuối khi bơi giữa dòng

Ta đau như muối xát lòng

Nỗi đau vón cục ở trong dạ này

Tưởng là xuân đến trong tay

Ai hay tuyết lạnh còn bay giữa trời

Thương con trẻ dạ non người

Buồn vui lẫn trộn khóc cười thế gian

Đường nghề còn lắm gian nan

Có đâu chỉ một cung đàn này thôi...

Ngẩng đầu nhìn bóng mây trôi

Cái tôi nào cũng là tôi vô thường

Ta đau trong một niềm thương

Vẫn tin con vững trên đường mai sau...

Nỗi niềm của chính những người trong ngành lại làm cho những người ngoài cuộc cũng cảm thấy xót xa.

Cái tôi thao thức, trăn trở trước những điều đã và đang diễn ra trong đời sống là hoàn toàn có cơ sở. Công việc và cuộc sống đã cho nhà thơ, luật sư Nguyễn Minh Tâm những chiêm nghiệm sâu sắc về lẽ đời, tình người.

Người đời sẵn căm thù cái ác/ Bất lực nhìn cái ác cứ lên ngôi/ Bao điều thiện rẻ ròng như cỏ rác/ Thiện lương ơi?/ Người ngủ ở đâu rồi?// Trưa không ngủ lão nằm trơ mắt ếch/ Thơ lên tiếng kêu dưới đáy giếng cạn dòng/ Vòm trời rộng trên cao xanh tít tắp/ Có áng mây nào ghé xuống giếng này không?”.

Người đọc dễ nhận ra, trong Ấm lạnh pháp đình, Nguyễn Minh Tâm dùng nhiều cặp phạm trù đối lập. Nhằm làm nổi bật những mảnh đời, những hoàn cảnh, số phận con người thật đáng thương tâm trước bao đảo điên, phi lý. Đó là thực tế đáng buồn.

Vấn đề mang tính thế sự, đạo đức đang hiện diện. Ở đó còn có những bất công, ngang trái, những tiếng kêu oan rên xiết thấu trời, bởi:

“Hành luật mà bất luật/ Thì luật sẽ bị hành/ Vì đã biến luật thật/ Thành luật của rừng xanh// Và những lúc như thế/ Oan khuất sẽ xảy ra/ Tiếng kêu oan thảm thiết/ Sẽ rung cả sơn hà”.

Và ở đó, nhà thơ, luật sư Nguyễn Minh Tâm còn đưa ra lời cảnh báo:

“Kẻ gây ra oan khuất/ Bất kể động cơ gì/ Nếu ngày xưa chắc chắn/ Sẽ phạm tội: tru di// Đạo lý đang thầm thì:/ Quay đầu là bờ đấy”.

Đọc Ấm lạnh pháp đình của Nguyễn Minh Tâm tôi càng trân quý hơn tấm lòng, phẩm hạnh của người luật sư có tâm hồn thi sĩ sống nghĩa khí, trách nhiệm như anh! Anh dám nói lên những sự thật, sự thật đang hiện hữu, ai cũng biết nhưng có thể nhiều người ngại nói hoặc không dám nói.

Nhiễu từ tên xuống dưới/ Nhiễu từ dưới lên trên/ Nhiễu ba bề bốn bên/ Chẳng biết đâu mà tính// Cái hôm qua tưởng chính/ Hôm nay lại hóa tà/ Tưởng đã có đường ra/ Ai ngờ đâu ngõ cụt// Cũng từ một ngọn bút/ Vẽ đảo đủ mọi chiều/ Vừa ghét đấy lại yêu/ Cứ xoay như chong chóng// Vừa mở ra lại đóng/ Chả ai biết thế nào/ Nhấp ly cà phê nóng/ Tự mình ngồi chiêm bao (Nhiễu).

Để rồi, có lúc Nguyễn Minh Tâm lại tự vấn, độc thoại với chính mình trước những biến động xảy ra trong cuộc sống lẫn trong chiều sâu tâm cảm.

Có những lúc ta ngồi vơ vẩn/ Đằm mình trong chuyện nọ chuyện kia/ Lại có khi tự mình ngơ ngẩn/ Cứ loay hoay trong ruột ngoài rìa/ Lại có lúc thờ ơ mọi thứ/ Đưa mình về một ốc đảo hoang vu/ Như Robinson của câu chuyện cũ/ Giữ lòng trong không một gợn mây mù/ Và có lúc cuộn sôi dữ dội/ Như khơi xa ào ạt sóng xô bờ/ Em - bờ cát cứ trơ mình vô cảm/ Để con sóng hữu tình vỗ ất vỗ ơ/ Cũng có lúc.../ Thôi chả cần nói nữa/ Tâm trạng kia có gì lạ đâu mà/ Đời dẫu lạnh như băng, có cồn cào như lửa/ Thì với mình ta vẫn cứ là ta (Độc thoại).

Ấm lạnh pháp đình là một tập thơ mang nhiều nỗi trắc ẩn của một người đi qua những thăng trầm của cuộc sống, của hoạt động nghiệp vụ chuyên môn. Bên cạnh những hoài nghi, trăn trở, thao thức Nguyễn Minh Tâm còn có niềm tin vào những điều thiện lương tốt đẹp ở phía trước.

Ta vẫn giữ một niềm tin có thật/ Vầng trăng kia sẽ tỏa sáng bầu trời/ Như Công lý dẫu xa mờ trong đục/ Sẽ có ngày như trăng đấy, trăng ơi… (Vầng trăng).

Với nhà thơ, luật sư Nguyễn Minh Tâm thì dù rơi vào tình huống bi đát nhưng nếu chúng ta có niềm tin, có sự kiên trì, tinh thần lạc quan thì mọi thứ cũng sẽ dần được hóa giải.

“Đêm tối như hũ nút/ Có một vầng sáng xa/ Cứ đi về hướng ấy/ Sẽ gặp một bao la// Phải kiên trì nhẫn nại/ Trái tim thắp sáng mình/ Khi vượt qua đêm tối/ Sẽ òa một bình minh// Với niềm lạc quan ấy/ Dẫu dò từng bước đi/ Sẽ nghe tiếng chim hót/ Vọng trong ta thầm thì…”.

Ấm lạnh pháp đình, Nguyễn Minh Tâm đã tạo ra được một hệ thống từ ngữ mang nét riêng, vừa trữ tình, sâu lắng, vừa chân thành, triết lý, chiêm cảm. Tất cả những nét riêng này được đặt trong từng chỉnh thể của mỗi bài thơ trong một không - thời gian khác nhau tạo thành một giọng điệu thơ Nguyễn Minh Tâm rất riêng. Ấn tượng nhất là không gian, thời gian ở pháp đình, ngôn ngữ chuyên môn về chốn pháp đình được dùng với tần số cao. Cùng với đó là cách vận dụng linh hoạt các thể thơ, các biện pháp tu từ: so sánh, ẩn dụ, nhân hóa và cả phép đối lập... Điều này đã tạo nên một thế giới nghệ thuật thơ đa thanh với những sáng tạo mới mẻ: vừa hiện thực, triết luận, vừa truyền thống, vừa cách tân, vừa bình dị nhưng cũng vừa trang trọng.

Ấm lạnh pháp đình của Nguyễn Minh Tâm là tiếng lòng của một nhà thơ, một luật sư sống có tinh thần trách nhiệm với công việc, sự quan tâm, sẻ chia với mọi người xung quanh, sống nghĩa tình trước sau trọn vẹn.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm