TIN TỨC

Nguyễn Ngọc Hạnh - Hồn thơ reo mãi phía làng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-01-14 07:06:13
mail facebook google pos stwis
1782 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) – Sáng hôm qua, ngày 13/01/2024, tại TPHCM, nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ Đà Nẵng, đã tổ chức rất thành công tập thơ mới có tựa “Nắng dậy thì” của mình. Nhà văn Bích Ngân, Chủ tịch Hội Nhà văn TPHCM đã tới dự và tặng hoa chúc mừng và Văn chương TPHCM đã đưa tin ngay về sự kiện này. Hôm nay chúng tôi xin giới thiệu bài viết của nhà thơ Hoàng Thụy Anh về “Nắng dậy thì” cùng một số hình ảnh do PV trang web ghi được tại buổi ra mắt nhiều cảm xúc này.
 

HOÀNG THỤY ANH

Thời gian là vòng quay vĩnh hằng của vạn vật, bất kể sinh thể nào cũng không thể bước ra ngoài nó. Thời gian tồn tại mãi mãi, còn cõi người thì tàn phai, ngắn ngủi. Mỗi người đều có cách ứng đối thời gian khác nhau. Có người buông lơi, phó thác để thời gian trôi qua phí phạm những đam mê. Có người xoay thời gian theo dòng hồi ức, kỉ niệm để tái tạo và lưu giữ. Có người đồng hành với thời gian, trải nghiệm và chấp nhận những gì nó mang đến. Nhưng dù cuộc sống có nhiều biến thiên thì những gì thuộc về “quà tặng kí ức” vẫn khó nhạt nhòa, phôi phai.


Nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh

Nguyễn Ngọc Hạnh là một trong số những nhà thơ ý thức thâm canh trên cánh đồng làng. Với Nắng dậy thì, ông tìm kiếm sự bình yên, thanh thản giữa những va đập của cuộc sống bằng những giá trị nhân ái, những hoài niệm sơ nguyên.

Kí ức là tài sản riêng có của mỗi người. Mỗi người đều nương tựa vào “quà tặng kí ức” mà định hình tâm hồn, lẽ sống và tình yêu. Song, nếu chúng ta cứ mãi sống với kí ức, không giải phóng mình khỏi lớp sóng quá khứ, liệu chúng ta có đảm bảo được sự tốt đẹp ở hiện tại và sự bền vững ở tương lai? Vậy Nguyễn Ngọc Hạnh làm thế nào để “quà tặng kí ức” ấy hiện hữu trong thơ một cách sống động, ấn tượng ngay trong từng sát-na?

Tuổi thơ là quãng thời gian đẹp đẽ nhất trong cuộc đời của mỗi người. Đối với Nguyễn Ngọc Hạnh, tuổi thơ mãi gắn bó với làng, “quấn quít phía sông quê”. Để rồi, lúc nào hồn thơ ông cũng đong đầy nỗi nhớ, hồn quê.  Mỗi cuộc quay về, nhà thơ như được sống lại những năm tháng đẹp đẽ, đầm ấm bên gia đình. Nơi đó, kí ức tuổi thơ của ông bay khắp đồng làng”, neo đậu với “sông dọc bờ quê”,“lều tranh một mái”, “hoa cau rụng trắng”, “cối xay trầu của bà”, “tiếng chim dồng dộc hót”, người mẹ “sanh nở những niềm đau”, người cha “trĩu nặng bờ vai khổ nhọc”,…  Nơi đó, suối lòng ông một đời tan chảy, “cứ nhớ hoài lửa bếp cời than/ nhớ ngọn khói chiều mồ côi nương rẫy/ nhớ tiếng chim lạc bầy gọi mẹ/ nhớ bờ ao cạn cháy cơn mơ” (Lạc mất đường về).

Trên hành trình trở về của Nắng dậy thì, Nguyễn Ngọc Hạnh đã hữu hình hóa hoài niệm bằng sự sống động của không gian tâm hồn. Chúng ta bắt gặp ở đó vẻ đẹp của sự luyến lưu, trì níu, mắc cạn, mãi “cắm sào triền sông”, “lấm bờ đê đầu làng”… qua lời thủ thỉ, tâm tình của ông. Hương quê, tình quê được thể hiện qua những hình ảnh, âm thanh, mùi vị thân thương, gần gũi, tất cả quyện hòa như một bản nhạc êm đềm, ngày đêm ngân nga, mang đến những giá trị tinh thần vô biên: “mẹ một mình/ sanh nở những niềm đau/ bất chợt nhớ ngày xưa đến lạ/ mơ được một lần làm mẹ để sinh con” (Ngày mẹ sinh tôi).

Bè trầm kí ức, giản dị, mộc mạc nhưng lại là món quà không thể đong đếm đối với Nguyễn Ngọc Hạnh. Nhờ bè trầm kí ức, nhà thơ tìm được sự bình yên, điểm tựa vững chãi giữa những xô bồ, bon chen của phố phường. Cũng nhờ bè trầm này, nhà thơ đã tạo nên miền thơ chân thành, đậm vị làng quê, để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả.

Có thể nói, kí ức là điểm tựa để Nguyễn Ngọc Hạnh hóa giải những khổ đau, mất mát: “Nón che không hết mùa đông/ Phố che không hết nỗi buồn trần gian” (Lục bát qua sông). Nơi đó nhà thơ được tung tẩy tâm hồn, được tự do, được thổ lộ nỗi niềm mà không phải vướng bận bất cứ điều gì. Nhà thơ nghĩ về quá khứ để làm đẹp hiện tại và tương lai. Cách thức sở hữu “quà tặng kí ức” của Nguyễn Ngọc Hạnh do vậy đã minh chứng một hồn thơ giàu có nhân ái, một phong cách thơ đắm đuối, đậm chất quê kiểng rất riêng của mình.

Lẽ thường, vui chung buồn riêng. Chỉ ở những điểm đau, nút thắt tê tái, buốt xót mới chạm đến bản nguyên của cái tôi, mới thấy sức mạnh của nỗi đau. Sáng tạo là con đường hợp lý nhất để người nghệ sĩ giải toả, chiếm lĩnh và thăng hoa vẻ đẹp cái buồn. Khi họ vật lộn kịch liệt với bản ngã, truy tìm lối ra, họ mới đối diện trọn vẹn nhất cái tôi của chính mình, không bị trộn lẫn giữa nghìn trùng cá thể, mới phát tiết cái riêng, cái lạ, cái độc. Nỗi buồn, do vậy, là đặc ân, món quà vô giá mà tạo hóa ban tặng cho người nghệ sĩ như lời mở đầu của nhà thơ về tập thơ này: “Nỗi buồn trong Nắng dậy thì vẫn là nguồn mạch thơ tôi. Yêu cũng buồn, ghét cũng buồn, có được phút giây hạnh phúc cũng buồn, oan nghiệt càng buồn, bởi tất cả đó là niềm đau, là nỗi buồn chân thành, không hề tô vẽ”.

Nguyễn Ngọc Hạnh nhập vào nỗi buồn rồi lại tách mình ra khỏi nỗi buồn. Vì thế nỗi buồn càng lắng sâu trong một cái tôi đa nhân cách; vừa muốn quay về niềm xưa chốn cũ, vừa muốn chất vấn những hệ lụy, dư chấn của đời sống. Sự xung đột nội tâm này tạo nên những đối lập, mâu thuẫn cho thi tập: sự sống - cái chết, niềm vui - nỗi buồn, hiện thực - cõi mơ, có - không, đêm - ngày, sáng - tối,… Phản ứng của ông không phải đoạn tuyệt nỗi buồn, mà muốn cảm nhận sâu sắc hơn giá trị thặng dư của nỗi buồn. Ở vị trí hiện tại, những hành động mang tính chất “tác động”, xâm lấn vào miền kí ức của ông như “chạm”, “cúi”, “tìm”’, “trôi”, “cài”, “gối”, “hôn”, “gánh”, “níu”,… đã bày tỏ nỗi khát khao muốn nhập cuộc vào nỗi buồn một cách tuyệt đối. Nhưng nỗi buồn ấy cũng như một nam châm trái chiều, lại đẩy ông ra ngoài bản thể, để ông tiếp tục đối diện bản thể, chất vấn bản thể một cách cùng tận: “Biết lấy gì để tặng nỗi buồn/ Xin trích đời tôi ngày gió bão/ Trích phận em phập phù thiếu nữ/ Chẳng có ngày vui đàn bà// Biết lấy gì để tặng đời tôi/ Khi giấc mơ sắp khép lại rồi/ Biết trích vào đâu mà gửi lại/ Câu thơ còn nợ phía bèo trôi” (Nợ phía bèo trôi). Khoảng cách vừa gần vừa xa của nỗi buồn có khả năng thiết kế vũ điệu tâm hồn giúp ông thể nghiệm những trạng thái hiện sinh cũng như thể hiện vẻ đẹp bình dị của ngôn ngữ. Nỗi buồn chất chứa trong không gian hoài niệm và trước thực trạng đời sống của Nguyễn Ngọc Hạnh, do vậy không hề yếu đuối. Nỗi buồn đã làm cho cái tôi cá nhân của ông trở nên mạnh mẽ, bản lĩnh, quyết đoán hơn: “Ai hiểu được đâu là được mất/ Cứ gánh mà đi về phía thơ mình” (Gánh thơ).

Thi ca có sứ mệnh mang đến tiếng nói hòa điệu và chữa lành vết thương. Đọc thơ Nguyễn Ngọc Hạnh, tôi gặp lại bản thể rực rỡ tuổi thơ của chính mình. Vì vậy, có thể khặng định, hành trình chạm đến thuở “nắng sớm dậy thì” để “trong suốt” hôm nay và mai sau, đã làm nên thành công của ông.



MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ BUỔI RA MẮT SÁCH "NẮNG DẬY THÌ"

(Ảnh: Nguyên Hùng)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm