TIN TỨC

Nguyễn Ngọc Hạnh mắc nợ trần gian trong “Câu thơ mắc cạn”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-10-16 13:50:21
mail facebook google pos stwis
3375 lượt xem

NGUYÊN BÌNH

Tôi đọc bài thơ CÂU THƠ MẮC CẠN của nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh năm lần bảy lượt với tâm thế khám phá cái vị trí mà câu thơ đã “tát nhẹ” vào anh. Tuy thế, tôi vẫn đoan chắc là “câu thơ” không tát nhẹ vào đôi má nhà thơ hiền lành kia, mà nhắm vào nơi sâu thẳm nhất, mẫn cảm nhất và cũng dễ bị tổn thương nhất trong tâm hồn anh. Tất nhiên rồi, sau cái tát ấy, huyền thức trong anh bỗng “Sáng bừng” lên, chớp lóe lên tựa động năng của thiên thạch va đập vào ý thức, đảo lộn tư duy có sẵn, thay thế bằng một trường suy tưởng mới đầy ắp năng lượng.

Nếu nói rằng thơ Nguyễn Ngọc Hạnh “trung thành với cảm xúc nhân bản, trở về với bản thể” (Ngô Đức Hành) thì “Câu thơ mắc cạn” là cảm thức thơ mà ta có thể lấy làm cơ sở dẫn dụ để khai thác, phân tích nhận định thú vị này.

Cặp câu lục bát đầu tiên theo tôi là dư chấn của trạng thái ray rứt, từ lâu gậm nhấm tâm cảm, dường như không chịu thỏa hiệp với thực tại. Ý thức bất an co cụm, dồn nén, bỗng nhiên bộc phát bởi sự kích họat của tác động vô hình nào đó, câu thơ bật ra ngay từ giây đầu tiên của cảm xúc:

Lời ru hát lại lần đầu

Đường mòn

Lối nhỏ

Hẹp câu thơ buồn...

Cái gì khiến cho Nguyễn Ngọc Hạnh nhủ lòng phải “hát lại lần đầu” lời ru êm đềm với ánh hào quang của hành trình văn chương khá dày dặn của mình? Đến nỗi tác giả bỗng thấy con đường phía trước trở nên “hẹp câu thơ buồn”. Phải chăng cảm thức thơ, không gian thơ bấy nay chao đảo trong cái vòng tư duy luẩn quẩn, gượng ép, xa rời khát vọng nhân bản? Có phải chính vì lẽ đó mà thi nhân lặng lẽ bỏ rơi mình, lang thang đi tìm chân trời mới trong tâm thế cô đơn để mong hội ngộ cùng thơ: “Núi mờ một bóng đầu truông/Bàn chân lạc bước dặm đường cùng thơ”. Càng đi tìm, nhà thơ càng “lạc lối về” trong sự hoang mang ngờ vực, như chàng Siddhartha trong “Câu chuyện dòng sông” của Hermann Hesse trước khi thức ngộ:

Cầm hư ảo giữa bến bờ…

Đợi trông

Vừa như có lại như không

Ô hay cái sự đèo bòng cỏ cây

Như là gấp mở bàn tay

Như là sấp ngửa ai bày…

Trần gian

Trầm tích của bao nhiêu lỡ làng, nuối tiếc vì chưa được khai phóng khỏi cái ao bèo tù hãm, thi nhân rơi vào trạng thái say trong tỉnh thức, tâm tư ngổn ngang trăm mối: “Biết là chân thấp trời cao/Vầng trăng phía trước, bèo ao phía này”, có lúc lại đắm chìm vào cõi hoang khai túy lúy say men trời đất khi “dốc cạn trời mây”:

 

Thôi đành lỡ với đò ngang

Đi không cùng chuyến ngỡ ngàng

Chiêm bao

Biết là chân thấp trời cao

Vầng trăng phía trước, bèo ao phía này

Ruột gan cháy xé miệng cay

Tôi xin dốc cạn trời mây...

Rượu tràn

Có những tấu khúc ngôn ngữ mà ta không thể giải mã. Mà thơ đâu có cần giải bày cùng ai. Đến ngưỡng, thơ tự trần tình với thơ, như con thuyền độc thoại với dòng sông, như tâm linh độc thoại với tôn giáo, hay nói giản dị hơn, nhà thơ độc thoại với chính mình, giải bày trong vô thức:

Rượu nào là rượụ trần gian

Câu thơ mắc mớ chi càn khôn đâu

Mắc chi tôi với đêm sâu

Xin đừng cọ rửa vài câu lở bồi...

Ai người đẽo đọt bờ môi

Tôi như vừa mới là tôi sinh thành

Đâu là bả vọng hư danh

Câu thơ mắc cạn giữa vành môi cong…

Những dan díu trần gian kia chẳng qua là những mặc định mơ hồ, bởi: “Câu thơ mắc mớ chi càn khôn đâu” và tôi, tôi chỉ là “Tôi như vừa mới là tôi sinh thành”. Tôi ngưỡng mộ câu thơ này quá, có thể nói là một ẩn dụ vô biên. Vậy đó, tôi là nhân bản, ngu ngơ như đứa trẻ sơ sinh, thơ là tiếng khóc chào đời hồn nhiên, mắc mớ chi mà phải chịu đẽo gọt để: “Câu thơ mắc cạn giữa vành môi cong”. Phải chăng, Nguyễn Ngọc Hạnh “phơi cảm xúc của chủ thể về những nỗi niềm muôn thuở của con người… Thơ Nguyễn Ngọc Hạnh luôn chân thành với nỗi đau, với bao nỗi buồn của cuộc đời này. Nguyễn Ngọc Hạnh không kiểu cách giả tạo, màu mè với chữ nghĩa, làm dáng cách tân để lừa lọc người đọc…” (Ngô Đức Hành). Nhà thơ phơi phóng tâm cảm của mình trong giây phút thăng hoa và sau cùng là:

Nhiễu nhiên da lột mặt người

Câu thơ tát nhẹ vào tôi

Sáng bừng!

Tôi tin rằng, tia chớp sáng bừng ấy lại là động lực cho Nguyễn Ngọc Hạnh đi tiếp hành trình văn chương của mình mà không phải: Bàn chân vấp bước chân mình/Sắc không chân lại gập ghềnh bờ ao” dù có vẻ như định mệnh ràng buộc nhà thơ “mắc nợ trần gian từ quan niệm về thơ của mình…” (Ngô Đức Hành)      

Chúc nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh, một con người luôn “nhân ái, vị tha, thủy chung với bạn bè” (Ngô Đức Hành) vững vàng giữa trần gian này với tâm thế như một câu của Hermann Hesse viết trong bài thơ "Gestutzte Eiche“ (Cây sồi trần trụi): "Dù bị đau đớn quằn quại, tôi vẫn tha thiết yêu thương trần gian điên dại này”
 

Bà Rịa, ngày 29/8/2023
NB

 

Câu thơ mắc cạn
 

Lời ru hát lại lần đầu

Đường mòn

Lối nhỏ

Hẹp câu thơ buồn...

Núi mờ một bóng đầu truông

Bàn chân lạc bước dặm đường cùng thơ

 

Khôn ngoan cắt tiết dại khờ

Cầm hư ảo giữa bến bờ…

Đợi trông

Vừa như có lại như không

Ô hay cái sự đèo bòng cỏ cây

Như là gấp mở bàn tay

Như là sấp ngửa ai bày…

Trần gian

 

Thôi đành lỡ với đò ngang

Đi không cùng chuyến ngỡ ngàng

Chiêm bao

Biết là chân thấp trời cao

Vầng trăng phía trước, bèo ao phía này

Ruột gan cháy xé miệng cay

Tôi xin dốc cạn trời mây...

Rượu tràn

 

Rượu nào là rượụ trần gian

Câu thơ mắc mớ chi càn khôn đâu

Mắc chi tôi với đêm sâu

Xin đừng cọ rửa vài câu lở bồi...

Ai người đẽo đọt bờ môi

Tôi như vừa mới là tôi sinh thành

Đâu là bả vọng hư danh

Câu thơ mắc cạn giữa vành môi cong

 

Bàn chân vấp bước chân mình

Sắc không chân lại gập ghềnh bờ ao

Đâu là đất thấp trời cao

Đâu là dấu vết cồn cào đầy vơi

Nhiễu nhiên da lột mặt người

Câu thơ tát nhẹ vào tôi

Sáng bừng!
 

Nguyễn Ngọc Hạnh

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm