TIN TỨC

Nguyễn Ngọc Hạnh mắc nợ trần gian trong “Câu thơ mắc cạn”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-10-16 13:50:21
mail facebook google pos stwis
3832 lượt xem

NGUYÊN BÌNH

Tôi đọc bài thơ CÂU THƠ MẮC CẠN của nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh năm lần bảy lượt với tâm thế khám phá cái vị trí mà câu thơ đã “tát nhẹ” vào anh. Tuy thế, tôi vẫn đoan chắc là “câu thơ” không tát nhẹ vào đôi má nhà thơ hiền lành kia, mà nhắm vào nơi sâu thẳm nhất, mẫn cảm nhất và cũng dễ bị tổn thương nhất trong tâm hồn anh. Tất nhiên rồi, sau cái tát ấy, huyền thức trong anh bỗng “Sáng bừng” lên, chớp lóe lên tựa động năng của thiên thạch va đập vào ý thức, đảo lộn tư duy có sẵn, thay thế bằng một trường suy tưởng mới đầy ắp năng lượng.

Nếu nói rằng thơ Nguyễn Ngọc Hạnh “trung thành với cảm xúc nhân bản, trở về với bản thể” (Ngô Đức Hành) thì “Câu thơ mắc cạn” là cảm thức thơ mà ta có thể lấy làm cơ sở dẫn dụ để khai thác, phân tích nhận định thú vị này.

Cặp câu lục bát đầu tiên theo tôi là dư chấn của trạng thái ray rứt, từ lâu gậm nhấm tâm cảm, dường như không chịu thỏa hiệp với thực tại. Ý thức bất an co cụm, dồn nén, bỗng nhiên bộc phát bởi sự kích họat của tác động vô hình nào đó, câu thơ bật ra ngay từ giây đầu tiên của cảm xúc:

Lời ru hát lại lần đầu

Đường mòn

Lối nhỏ

Hẹp câu thơ buồn...

Cái gì khiến cho Nguyễn Ngọc Hạnh nhủ lòng phải “hát lại lần đầu” lời ru êm đềm với ánh hào quang của hành trình văn chương khá dày dặn của mình? Đến nỗi tác giả bỗng thấy con đường phía trước trở nên “hẹp câu thơ buồn”. Phải chăng cảm thức thơ, không gian thơ bấy nay chao đảo trong cái vòng tư duy luẩn quẩn, gượng ép, xa rời khát vọng nhân bản? Có phải chính vì lẽ đó mà thi nhân lặng lẽ bỏ rơi mình, lang thang đi tìm chân trời mới trong tâm thế cô đơn để mong hội ngộ cùng thơ: “Núi mờ một bóng đầu truông/Bàn chân lạc bước dặm đường cùng thơ”. Càng đi tìm, nhà thơ càng “lạc lối về” trong sự hoang mang ngờ vực, như chàng Siddhartha trong “Câu chuyện dòng sông” của Hermann Hesse trước khi thức ngộ:

Cầm hư ảo giữa bến bờ…

Đợi trông

Vừa như có lại như không

Ô hay cái sự đèo bòng cỏ cây

Như là gấp mở bàn tay

Như là sấp ngửa ai bày…

Trần gian

Trầm tích của bao nhiêu lỡ làng, nuối tiếc vì chưa được khai phóng khỏi cái ao bèo tù hãm, thi nhân rơi vào trạng thái say trong tỉnh thức, tâm tư ngổn ngang trăm mối: “Biết là chân thấp trời cao/Vầng trăng phía trước, bèo ao phía này”, có lúc lại đắm chìm vào cõi hoang khai túy lúy say men trời đất khi “dốc cạn trời mây”:

 

Thôi đành lỡ với đò ngang

Đi không cùng chuyến ngỡ ngàng

Chiêm bao

Biết là chân thấp trời cao

Vầng trăng phía trước, bèo ao phía này

Ruột gan cháy xé miệng cay

Tôi xin dốc cạn trời mây...

Rượu tràn

Có những tấu khúc ngôn ngữ mà ta không thể giải mã. Mà thơ đâu có cần giải bày cùng ai. Đến ngưỡng, thơ tự trần tình với thơ, như con thuyền độc thoại với dòng sông, như tâm linh độc thoại với tôn giáo, hay nói giản dị hơn, nhà thơ độc thoại với chính mình, giải bày trong vô thức:

Rượu nào là rượụ trần gian

Câu thơ mắc mớ chi càn khôn đâu

Mắc chi tôi với đêm sâu

Xin đừng cọ rửa vài câu lở bồi...

Ai người đẽo đọt bờ môi

Tôi như vừa mới là tôi sinh thành

Đâu là bả vọng hư danh

Câu thơ mắc cạn giữa vành môi cong…

Những dan díu trần gian kia chẳng qua là những mặc định mơ hồ, bởi: “Câu thơ mắc mớ chi càn khôn đâu” và tôi, tôi chỉ là “Tôi như vừa mới là tôi sinh thành”. Tôi ngưỡng mộ câu thơ này quá, có thể nói là một ẩn dụ vô biên. Vậy đó, tôi là nhân bản, ngu ngơ như đứa trẻ sơ sinh, thơ là tiếng khóc chào đời hồn nhiên, mắc mớ chi mà phải chịu đẽo gọt để: “Câu thơ mắc cạn giữa vành môi cong”. Phải chăng, Nguyễn Ngọc Hạnh “phơi cảm xúc của chủ thể về những nỗi niềm muôn thuở của con người… Thơ Nguyễn Ngọc Hạnh luôn chân thành với nỗi đau, với bao nỗi buồn của cuộc đời này. Nguyễn Ngọc Hạnh không kiểu cách giả tạo, màu mè với chữ nghĩa, làm dáng cách tân để lừa lọc người đọc…” (Ngô Đức Hành). Nhà thơ phơi phóng tâm cảm của mình trong giây phút thăng hoa và sau cùng là:

Nhiễu nhiên da lột mặt người

Câu thơ tát nhẹ vào tôi

Sáng bừng!

Tôi tin rằng, tia chớp sáng bừng ấy lại là động lực cho Nguyễn Ngọc Hạnh đi tiếp hành trình văn chương của mình mà không phải: Bàn chân vấp bước chân mình/Sắc không chân lại gập ghềnh bờ ao” dù có vẻ như định mệnh ràng buộc nhà thơ “mắc nợ trần gian từ quan niệm về thơ của mình…” (Ngô Đức Hành)      

Chúc nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh, một con người luôn “nhân ái, vị tha, thủy chung với bạn bè” (Ngô Đức Hành) vững vàng giữa trần gian này với tâm thế như một câu của Hermann Hesse viết trong bài thơ "Gestutzte Eiche“ (Cây sồi trần trụi): "Dù bị đau đớn quằn quại, tôi vẫn tha thiết yêu thương trần gian điên dại này”
 

Bà Rịa, ngày 29/8/2023
NB

 

Câu thơ mắc cạn
 

Lời ru hát lại lần đầu

Đường mòn

Lối nhỏ

Hẹp câu thơ buồn...

Núi mờ một bóng đầu truông

Bàn chân lạc bước dặm đường cùng thơ

 

Khôn ngoan cắt tiết dại khờ

Cầm hư ảo giữa bến bờ…

Đợi trông

Vừa như có lại như không

Ô hay cái sự đèo bòng cỏ cây

Như là gấp mở bàn tay

Như là sấp ngửa ai bày…

Trần gian

 

Thôi đành lỡ với đò ngang

Đi không cùng chuyến ngỡ ngàng

Chiêm bao

Biết là chân thấp trời cao

Vầng trăng phía trước, bèo ao phía này

Ruột gan cháy xé miệng cay

Tôi xin dốc cạn trời mây...

Rượu tràn

 

Rượu nào là rượụ trần gian

Câu thơ mắc mớ chi càn khôn đâu

Mắc chi tôi với đêm sâu

Xin đừng cọ rửa vài câu lở bồi...

Ai người đẽo đọt bờ môi

Tôi như vừa mới là tôi sinh thành

Đâu là bả vọng hư danh

Câu thơ mắc cạn giữa vành môi cong

 

Bàn chân vấp bước chân mình

Sắc không chân lại gập ghềnh bờ ao

Đâu là đất thấp trời cao

Đâu là dấu vết cồn cào đầy vơi

Nhiễu nhiên da lột mặt người

Câu thơ tát nhẹ vào tôi

Sáng bừng!
 

Nguyễn Ngọc Hạnh

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm