TIN TỨC

Nguyễn Trọng Tạo mà đời vẫn say, mà hồn vẫn gió

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-06-12 10:19:31
mail facebook google pos stwis
1617 lượt xem

LÊ THIẾU NHƠN

Hôm nay 12/6, Nhà lưu niệm nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo (1947-2019) được khánh thành tại đội 6, xã Diễn Hoa, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo

Dù ghét dù yêu thế nào, cũng không thể phủ nhận, Nguyễn Trọng Tạo là một nhân vật tài hoa trong làng nghệ thuật Việt Nam. Mọi trường lớp đào tạo chính quy đều không có ý nghĩa với Nguyễn Trọng Tạo, chủ yếu ông mày mò tự học và thành danh theo cách lãng tử của mình: “Vẽ tôi mực rượu giấy trời/ Nửa say nửa tỉnh nửa cười nửa đau”.

Nguyễn Trọng Tạo có tố chất thi sĩ thiên bẩm. Ngay từ những bài thơ đầu tiên viết tại nơi chôn nhau cắt rốn như “Quê cát” đã cho thấy Nguyễn Trọng Tạo có một giọng điệu riêng: “Quê cát đựng một trời gió cát/ Bãi lau thưa nhọn hoắt nắng hè/ Nhà bạn nhỏ bên kia con đường đất/ Mà muốn sang, tìm trước bóng cây che…/ Xác máy bay cùng hố bom tội lỗi/ Cát cứ vùi như cát có bàn tay/ Lớp trẻ chúng tôi lớn lên làm chiến sĩ/ Cát quê hương thành chuyện kể đường dài”.

Rời quân ngũ, Nguyễn Trọng Tạo nhanh chóng nổi tiếng nhờ tác phẩm và nhờ giai thoại. Một trong những điều kỳ lạ nhất ở Nguyễn Trọng Tạo là khả năng sáng tác ca khúc, khi chưa chơi được bất kỳ loại nhạc cụ nào và cũng rất mù mờ về ký âm. Đầu thập niên 80 của thế kỷ 20, chỉ cần đồng nghiệp Nguyễn Phan Hách đưa bài thơ “Làng quan họ quê tôi” cho đọc thử, Nguyễn Trọng Tạo ê a bắt nhịp hát luôn mà thành ca khúc lừng lẫy.

Về sau, Nguyễn Trọng Tạo có nghiên cứu chút ít khúc thức và giai điệu, nhưng cũng không mấy rành rọt kỹ thuật âm nhạc. Vậy mà, ông vẫn có thêm “Khúc hát sông quê” phổ thơ Lê Huy Mậu, làm nức lòng nức dạ giới mộ điệu.

Tương tự, Nguyễn Trọng Tạo vẽ bìa sách và trình bày báo cũng chính bằng những cảm giác thẩm mỹ run rẩy trời cho, bố cục và màu sắc rất bình thường nhưng lại rất cá tính!

Nguyễn Trọng Tạo có nhiều năm gắn bó với mảnh đất cố đô. Ông từng có một gia đình êm ấm ở đó, với không ít niềm riêng: “Đất trời lướt khướt dìu nhau bước/ Đắc đạo rượu ngon đắc đạo tình/ Bạn bè ở Huế thương nhau thiệt/ Một đứa vợ la... chục đứa kinh”. Hôn nhân đổ vỡ, Nguyễn Trọng Tạo ra Hà Nội dấn thân vào miên man thơ, nhạc, rượu… để thỉnh thoảng lại giật mình: “Một năm là mấy cuộc chơi/ Một đời đâu dễ kết người mỹ nhân/ Trở về căn hộ độc thân/ Cắm nồi cơm điện. Rân rân mi mày”.

Lúc cao hứng, Nguyễn Trọng Tạo thường tự hào xem mình như một hậu sinh kế thừa của hai bậc tiền bối Văn Cao và Nguyễn Đình Thi. Nghĩa là cũng nòi đa tài, nghiêng bên phải đụng thơ, nghiêng bên trái chạm nhạc. Công bằng mà nói, âm nhạc của Nguyễn Trọng Tạo không thể so với Văn Cao và Nguyễn Đình Thi, nhưng thơ của Nguyễn Trọng Tạo thì hoàn toàn không thua kém Văn Cao và Nguyễn Đình Thi.

Nếu thơ của Văn Cao và Nguyễn Đình Thi hơi chú trọng chất suy tưởng, thì thơ Nguyễn Trọng Tạo lại lấp lánh bởi cái dan díu và cái hoang mang của một kẻ nặng nợ phiêu dạt. Bài thơ “Đồng dao cho người lớn” có thể xem là một dấu ấn tiêu biểu cho thơ Nguyễn Trọng Tạo: “Có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi/ Có con người sống mà như qua đời/ Có câu trả lời biến thành câu hỏi/ Có kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cưới/ Có cha có mẹ có trẻ mồ côi/ Có ông trăng tròn nào phải mâm xôi/ Có cả đất trời mà không nhà ở/ Có vui nho nhỏ có buồn mênh mông/ Mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ/ Mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió/ Có thương có nhớ có khóc có cười/ Có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi”.

Nguyễn Trọng Tạo tung tẩy ở nhiều lĩnh vực, nhưng gia tài lớn nhất mà ông để lại cho nhân gian là thơ. Nguyễn Trọng Tạo quan niệm: “Trên con đường vô định, tôi đã đi tìm thơ gần trọn cuộc đời, để quay lại với ngôn ngữ thơ ca nhịp chẵn của Việt Nam mình. Thơ lục bát, thơ bốn tiếng, thơ tám tiếng... bao giờ cũng tạo nên những cặp đôi thủy chung bền vững như một đặc tính vĩnh cửu của tâm hồn người Việt Nam”.

Những mỹ nhân có thể đến với Nguyễn Trọng Tạo một cách hân hoan rồi rời xa Nguyễn Trọng Tạo một cách nhẹ nhàng. Còn thơ thì không, thơ bám lấy Nguyễn Trọng Tạo và Nguyễn Trọng Tạo cũng bám lấy thơ, để song hành tồn tại, để an ủi cưu mang: “Buồn đốt hết ngày/ Đêm dày tàn tro/ Buồn đốt bài thơ/ Bài thơ thành khói/ Nào ngờ... khói cay”.

Nguyễn Trọng Tạo thích xê dịch, thích tụ bạ, thích bù khú, thích xã giao… nhưng thơ ông vẫn giữ được thao thức thường trực: “Ngày vung vãi đức tin/ Đêm gặp mình đơn độc/ Ranh khôn giữa muôn nghìn/ Trở về thành thằng ngốc/ Mướn niềm vui kẻ khác/ Có gì như tham lam/ Mướn nỗi buồn kẻ khác/ Có gì như nhàm nhàm/ Cây khế nở hoa cam/ Cây bàng nở hoa bưởi/ Ăn mãi món mật ong/ Biết đâu đời đắng lưỡi?”.

    L.T.N      

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”
Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.
Xem thêm
Chiến tranh và chiến tranh - Tiếng kêu thương thảm khốc!
László Krasznahorkai sinh năm 1954 tại Gyula, Hungary, học Luật, có bằng Ngôn ngữ Hung và Sư phạm. Nhà văn tự do từ năm 1982. Tiểu thuyết: Sátántangó (Sasantango, 1985), Az ellenállás melankóliája (The Melancholy ơf Resistance, 1989), Az urgai fology (The Prisoner ơf Urga, 1993), Háború és háború (War and War), 1999), Északról hegy, Délróltó, Nyugatról utak, Keletról folyó (From the North by Hill, From the South by Lek, From the West by Roads, From the East by River, 2003), Rombolás és bánat az Égalatt (Destruction and Sorrow beneath the Heavens, 2004), Seiobo járt odalent (Seiobo There Below, 2008), Báró Wenkheim hazatér (The Homecoming ơf Baron Wenkheim, 2016)…
Xem thêm
Cảm nhận về tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của tác giả Trương Văn Dân
Nhận được Bàn tay nhỏ dưới mưa tác giả gởi tặng cũng hơn nửa tháng rồi, tính nhâm nhi đọc nhưng cứ lần lữa mãi. Nay có thời gian thảnh thơi tôi mới có dịp thưởng thức tác phẩm của anh.
Xem thêm
Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương
Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức
Bài viết của nhà thơ Ngô Minh Oanh về tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong
Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc,
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm