TIN TỨC

Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-03-22 21:54:27
mail facebook google pos stwis
15 lượt xem

TRẦN NGỌC TUẤN

Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.

Tác giả Trần Ngọc Tuấn

 

Con người Nguyễn Tuân là vậy đó. Nếu Tô Hoài phải ngồi cả tuần lễ quan sát cách sinh hoạt của đàn kiến để viết một trang văn về truyện loài vật, thì Nguyễn Tuân – một “tay ăn” (cách Tô Hoài gọi Nguyễn Tuân trong hồi ký Cát bụi chân ai của mình) cũng phải mất hàng giờ để nếm cái vị phở, để viết về ẩm thực xứ sở Hà thành…

Trong văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Tuân luôn được xem là một hiện tượng độc đáo, một cây bút tài hoa và cá tính bậc nhất. Ông không chỉ để lại những tác phẩm đặc sắc về phong vị văn hóa và cái đẹp mà còn lưu dấu trong lòng bạn đọc bởi một đời sống phong phú những giai thoại đầy chất nghệ sĩ. Con người Nguyễn Tuân đi qua nửa đầu thế kỷ XX với bao biến động của lịch sử, nhưng điều chưa bao giờ thay đổi ở ông chính là bản lĩnh sống khác đời, quan niệm sáng tác nghiêm khắc và phong cách nghệ thuật đầy tài hoa, uyên bác.

Nguyễn Tuân – “tay chơi chữ nghĩa” bậc thầy

Nguyễn Tuân sinh năm 1910 tại Hà Nội, trong một gia đình nhà Nho lỡ vận. Cái “chất phong lưu, tài tử” dường như đã ngấm vào ông từ nếp nhà, từ không khí văn hóa cổ truyền, từ những ký ức về một xã hội đang chuyển dịch đau đớn giữa cũ và mới. Nguyễn Tuân là nhà văn của sự tài hoa. Nhưng để có được cái tài hoa đó, ông đã trải qua một đời sống đầy trải nghiệm: đi nhiều nơi, sống nhiều cảnh, kết giao đủ hạng người. Con người ông ham hiểu biết, sành điệu trong ăn uống, trong cảm thụ nghệ thuật, trong cả cách sống.

Một nét đặc trưng ở Nguyễn Tuân là niềm say mê cái đẹp và sự hoàn mỹ. Có giai thoại kể rằng, khi viết một đoạn văn tả dòng sông, ông sửa đi sửa lại hàng chục lần chỉ vì cho rằng chữ “lững lờ” chưa đủ “đằm”, chưa đủ “mượt”. Ông nổi tiếng là người giàu lòng tự trọng chữ nghĩa: viết phải chuẩn, phải đúng, phải đẹp và phải có khí phách. Với ông, nghề văn là một thiên chức, một hành trình khổ luyện và một thách thức đối với danh dự người cầm bút.

Văn Nguyễn Tuân mang đậm chất tài hoa, nghệ sĩ. Trong từng câu chữ, người đọc luôn cảm nhận một tâm hồn say mê cái đẹp, một trí tuệ sắc sảo và một bàn tay điêu luyện. Nhân vật trong tác phẩm Nguyễn Tuân thường không phải những con người tầm thường mà là những con người “có nghề”, đạt đến trình độ điêu luyện: như ông lái đò trong Người lái đò sông Đà, như những nghệ nhân trong Vang bóng một thời. Nguyễn Tuân nhìn họ như những nghệ sĩ trong lĩnh vực của riêng mình, và ông tôn vinh họ như biểu tượng của cái đẹp.

Văn Nguyễn Tuân giàu chất trí tuệ, uyên bác. Ông là một “từ điển sống” về văn hóa Việt Nam, am hiểu lịch sử, địa lý, mỹ thuật, âm nhạc, ẩm thực… Điều đó khiến trang viết của ông không chỉ đẹp mà còn sâu, gợi suy nghĩ. Mỗi tác phẩm là một bài học văn hóa, một hành trình khám phá tri thức. Ông không chỉ kể, không chỉ tả, mà còn bình, còn luận, khiến văn chương của ông nhiều lớp nghĩa. Đặc biệt, Nguyễn Tuân là bậc thầy của ngôn ngữ nghệ thuật. Câu văn của ông giàu tính tạo hình, có nhịp điệu, có sự biến hóa linh hoạt. Ông biết cách vắt kiệt khả năng biểu đạt của tiếng Việt để dựng lên những hình ảnh sống động.

Nguyễn Tuân – biểu tượng của nhân cách nghệ sĩ

Nếu chỉ tài hoa thôi thì chưa đủ để Nguyễn Tuân được kính trọng đến vậy. Ông còn khiến người đời nể phục bởi nhân cách nghệ sĩ trong sáng và trung thực. Ông không chấp nhận sự dễ dãi trong sáng tác cũng như trong cuộc sống. Cầm bút với ông là trách nhiệm, là danh dự. Chính vì vậy, tác phẩm của ông không bao giờ là sản phẩm vội vàng, mà là kết tinh của suy tư và lao động nghệ thuật nghiêm túc.

Nguyễn Tuân cũng là người có cá tính mạnh. Ông từng bị xem là “người thích xê dịch”, vì không chịu yên phận với nhịp sống tẻ nhạt (các tác phẩm Một chuyến đi, Thiếu quê hương). Trước Cách mạng tháng Tám, ông viết Vang bóng một thời như lời tiễn biệt đầy tiếc nuối một thế giới phong hóa đẹp đẽ đang dần mất đi. Sau cách mạng, Nguyễn Tuân không đối lập mình với thời đại mà tự làm mới mình, hòa nhập vào dòng chảy của cách mạng, tiếp tục viết và viết rất hay về những con người lao động, những chiến sĩ, những vẻ đẹp mới của đất nước.

Nhắc đến Nguyễn Tuân là nhắc đến một phong cách nghệ thuật riêng, có một không hai, hội tụ ba yếu tố nổi bật: tài hoa – uyên bác – giàu chất tạo hình.

Nhắc đến Nguyễn Tuân là nhắc đến một phong cách nghệ thuật riêng, có một không hai, hội tụ ba yếu tố nổi bật: tài hoa – uyên bác – giàu chất tạo hình. Nguyễn Tuân sống trọn vẹn với văn chương và cái đẹp. Ông đi nhiều, gặp gỡ nhiều, trải nghiệm nhiều không phải để thỏa chí lang bạt, mà để tích lũy thêm “vốn sống”, để nhìn đời sâu hơn và viết thật đúng, thật đằm. Cũng vì thế mà dù đã qua nhiều thế hệ, văn Nguyễn Tuân vẫn hấp dẫn, vẫn mới, vẫn khiến người đọc phải kính phục.

Những giai thoại thú vị về Nguyễn Tuân

Có lẽ hiếm nhà văn Việt Nam nào lại gắn với nhiều giai thoại như Nguyễn Tuân. Từ chuyện uống rượu, thưởng trà, ngắm hoa, đến chuyện đi đây đi đó chỉ để “xem cho thỏa mắt”, tất cả đều toát lên tinh thần “sống cho ra sống”, “làm gì cũng phải đến mức tận cùng của nó”. Chỉ tính riêng trong cuốn Giai thoại văn học (Nguyễn Hữu Đảng tuyển chọn, NXB Văn hóa dân tộc, HN, 2000) chúng tôi có được, thì chuyện về Nguyễn Tuân chiếm số lượng nhiều nhất so với các nhà văn nổi tiếng khác.

Một trong những giai thoại thường được nhắc đến là giai thoại về chiếc cầu Tràng Tiền. Khi vào Huế, người ta nói Nguyễn Tuân không chỉ nhìn cầu như một công trình mà như một tuyệt tác thẩm mỹ. Ông đứng thật lâu trước cầu, quan sát từng nhịp thép, từng ánh sáng phản chiếu, để rồi nói rằng: “Cái đẹp của cầu Tràng Tiền không phải chỉ để qua lại, mà là để nhìn, để sống với nó”. Hay ông đã đếm từng mảnh ván của cầu Hiền Lương trên sông Bến Hải để cảm được nỗi đau đất nước chia cắt. Chính cách nhìn đó đã giúp Nguyễn Tuân phát hiện vẻ đẹp lấp lánh của đời sống ở những nơi tưởng như bình thường nhất.

Lại có chuyện kể rằng, trong một bữa ăn, khi thấy người ta chế biến món ăn cẩu thả, Nguyễn Tuân lập tức bỏ đũa. Với ông, món ăn không chỉ để no mà còn là văn hóa, là nghệ thuật. Cũng như văn chương, nó cần được chế tác bằng sự tôn trọng. Người ta còn kể rằng ông có thể chỉ vì một câu chữ chưa “ưng tai” mà mất ăn mất ngủ, hoặc đi cả trăm cây số chỉ để xác minh một từ địa phương cho thật chuẩn. Những giai thoại ấy không chỉ để kể vui, mà còn phản ánh một phẩm chất xuyên suốt con người Nguyễn Tuân là “kẻ suốt đời đi tìm cái đẹp” và bảo vệ cái đẹp đến cùng. Vì vậy, ngày nay đọc văn Nguyễn Tuân thì không chỉ là thưởng thức văn chương mà còn là hành trình tiếp cận cái đẹp, cái tinh hoa của đời sống và văn hóa tinh thần Việt.

T.N.T

Nguồn: giaoduc.edu.vn

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm