TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Nhà thơ Nguyên Hùng với “Ký họa thơ” và “Trăm khúc hát một chữ duyên”

Nhà thơ Nguyên Hùng với “Ký họa thơ” và “Trăm khúc hát một chữ duyên”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-10-03 09:37:49
mail facebook google pos stwis
1515 lượt xem

XUÂN TRƯỜNG
(Phát biểu chia sẻ tại buổi ra mắt 2 tập sách "Trăm khúc hát một chữ duyên" và "Ký họa thơ" của Nguyên Hùng)

Tôi quen rồi biết Nhà thơ Nguyên Hùng hơn mười năm nay. Anh người phóng khoáng, rộng lòng, giàu tính quảng giao kết nối văn chương. Một nhà khoa học làm thơ tính lãng mạn đã nâng anh lên và thổi hồn vào những công trình kiến thiết ngày mai nhằm chăm lo cho thân phận con người hòa vào thiên nhiên mà thành nhịp sống.

Anh luôn luôn ra phía trước không phải để khoe khoang mà là để kết nối văn chương, giúp đỡ bạn bè khi thì môt video làm tư liệu cho lúc ra mắt tác phẩm, khi thì những pô hình nghệ thuât để lưu giữ các hoạt động nghệ thuât, văn chương. Có lúc vô vi khi thì kiêu bạc, anh hoạt đông nghệ thuật là vì thế thôi, không cầu danh vọng gì do vậy mà thoải mái, không bị áp lực nào, giúp được ai cái gì thì giúp đó cũng là cách thể hiện tính nhân văn của văn chương. Anh cũng có cái duyên với đất trời nên được đi nhiều, biết nhiều, giàu trải nghiệm cuộc sống, và rồi anh đã chọn cho mình một thái độ sống ôn hòa, không để bụng lâu dài những bất đồng không cần thiết giữa chốn văn chương. Trong anh tôi thấy có chút hào hoa của Hà Thành, chút lo âu tận tụy của miền Trung và rộng lòng cảm mến của phương Nam, tất cả đã làm nên một Nguyên Hùng thơ vậy.  Có lẽ cái dữ dội, bão tố phong ba của miền trung đã phát tiết ra những câu thơ gan ruột khi anh đứng trước biển “Anh lớn lên trên sóng / Nên say hoài biển xanh / Biển đưa ngàn cánh võng / Ru bồng bềnh hồn anh” hoặc là “Hòn Ngư, Hòn Mắt chung chiêng / Sóng không từ biển - từ miền em thôi / Ngồi đây ai cũng có đôi / Thương về phương ấy một trời một em”. Trước biển mỗi người đều có cẩm nhận khác nhau, ở Nguyên Hùng thì cái vô hạn của sóng biến vẫn không dữ dội bằng cái vô hạn của sóng lòng em, người em không cụ thể ấy đã nâng bước chân lãng du thi ca của Nguyên Hùng trên đầu sóng. Thơ Nguyên Hùng đa đề tài, đa cách thể hiện, có thiên nhiên có phận người. Gần đây anh lại quan tâm về chân dung văn học, ký họa thơ:


Nhà thơ Xuân Trường tham gia phát biểu tại buổi ra mắt sách

1. Chữ nghĩa của ai mang gương mặt người ấy. Người xưa nói: đọc văn biết người, nhìn chữ viết biết người, “văn dĩ tải đạo” văn chương chở đạo đời. Dựa trên tinh thần ấy thì ký họa thơ của Nguyên Hùng là một sự sáng tạo nghệ thuật, sâu sắc và thật hữu ích cho quá trình văn chương, mà chúng ta đáng quan tâm. Nguyên Hùng đã thực sự chọn khó khăn cho mình, để làm được việc ký họa này thật không dễ chút nào. Đây là một sự công phu, kiên trì và chỉn chu lâu dài mới thực hiện được. Khác với Xuân Sách và Đỗ Hoàng, Nguyên Hùng đã dày công khái quát lý lịch văn học của từng tác giả, người còn kẻ mất nên việc sưu tầm cũng lắm bôn ba, thật ra nếu không tâm huyết với văn chương thì ít có người thực hiện được vì nó quá tốn thời gian và đầu tư, mà đời thì còn cơm áo nữa. Do vậy tôi xin cảm kích và trân trọng Nguyên Hùng qua tác phẩm ký họa này. Bằng tên những tác phẩm của các nhà văn, anh đã dùng những câu thơ của mình để kết nối lại thành những nét ký họa chân dung cho mỗi người. Với những câu thơ, ngôn ngữ bình thường nhưng đầy khôn ngoan và uyển chuyển để kết nối thành những nét ký họa sâu sắc tạo nên diện mạo của mỗi nhà văn giúp cho ta khi cảm nhận dễ nhìn ra, vì bên cạnh có tiểu sử văn học và những dấu ấn phong sương trên nét mặt mỗi người. Tôi rất tâm đắc với anh khi anh ký họa nhà thơ Thanh Tùng: Cái ngày xưa ấy - thời hoa đỏ / Còn cháy lòng ai tận cuối trời / Anh - con sông chảy tự lòng phố / Mỗi nàng thơ là mỗi chiếc thuyền đời // Rời cửa sóng dạt trôi về miền nắng / Để ngày ngày cất khúc hát xa quê / Anh từng khóc cho mối tình xa vắng / Cụng ly cùng hoa phượng tiếng ve…// Nhớ một thời trai trẻ say mê. Trong bài ký họa này những câu: “Cái ngày xưa ấy - thời hoa đỏ”, “con sông chảy từ lòng phố”, “thuyền đời”, “rời cửa sóng”, “khúc hát xa quê” là những tác phẩm của Thanh Tùng từng làm lay động lòng người, từ mọi giơi tinh hoa và đại chúng, ai mà không chết điếng lòng mình khi đọc Thời hoa đỏ, Nguyên Hùng đã cho nhà thơ Thanh Tùng hiển hiện trước mặt tôi, với ly rượu trưa dưới nắng khóm trúc trước cổng nhà anh ở đường Phạm Ngọc Thạch quận 3 TP Hồ Chí Minh, ôi Thanh Tùng tuyệt vời của tôi luôn mới mẻ trong bút pháp và ngôn ngữ, hinh tượng và cách nói mê hoặc lòng người.

2.  Ngôn ngữ của Nguyên Hùng mở ra vùng giao thoa với nhạc điệu. Đây Nguyên Hùng bảo là cái duyên của nhà thơ và nhạc sĩ, đúng vậy ngày xưa trong chiến tranh, người làm thơ ở ngoài dặm ngàn sương gió, nhịp đi chiến trường, người nhạc sĩ, cũng đâu đó đầu sông cuối ghềnh, thế mà thơ vẫn được phổ thành nhạc, thành những khúc hát để đời, đôi khi nhà thơ đến lúc qua đời cũng chưa biêt mặt người nhạc sĩ. Ngày nay trong điều kiện thanh bình dễ đến gần nhau do vậy môi trường giao thoa sẽ rộng hơn sự trao đổi và thống nhất sẽ làm cho thơ vẫn giữ được hồn cốt của mình, và nhạc sẽ cất cánh cho thơ bay xa trong một môi trường rộng hơn và thơ cũng là bệ phóng cho nhạc điệu vang lên. Do vậy mà ngày nay thơ phổ nhạc được hai phía đều quan tâm. Tuy nhiên không phải thơ nào cũng phổ nhạc được và cũng không phải giai điệu nào cũng phải có thơ. Nói như vậy để chúng ta thấy rằng thơ Nguyên Hùng trước tiên phải giàu chất nhạc, không dưng mà đến hơn một trăm bài thơ của anh đã được phổ thành những ca khúc và đã được các ca sĩ biểu diễn ở nhiều nơi. Tôi lại thích nhất ca khúc Sóng không từ biển của anh được nhạc sĩ Lê An Tuyên phổ từ hai bài thơ: “Biển và em” và “Cửa Hội” với nhịp 2/4 tự tị tin bền vững, hai bài thơ này khi chưa thành ca khúc nếu có anh Thanh Tùng ngày xưa hay Trần Huy Minh Phương bây giờ cũng đã hát lên được khi nó chưa hòa với nhạc điệu.

Chúc mừng nhà thơ Nguyên Hùng, cùng một lúc cho ra đời hai tác phẩm thơ và thơ phổ nhạc thật là một sức sáng tạo nghệ thuật vượt trội, trong khi đời còn nhiều thứ phải làm. Một lần nữa xin chúc mừng anh.


Nhà thơ Nguyên Hùng cảm ơn nhà thơ Xuân Trường về phần chia sẻ, trong đó có nhắc tới bài thơ Thanh Tùng trong tập "Ký họa thơ"

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm