TIN TỨC

Nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy: Giữ lại một ngày ta như lá

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-10-01 06:09:54
mail facebook google pos stwis
3716 lượt xem

LÊ THIẾU NHƠN

Khi đang là sinh viên khoa Văn ở Trường Đại học Sư phạm Huế, Tôn Nữ Thu Thủy viết bài thơ đầu tiên về mối tình tưởng tượng với ý định để dành tặng người yêu của mình, không ngờ giây phút đó lại thành khởi điểm để chị gắn bó một đời cùng thi ca.

Nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy

Suốt hành trình sáng tạo, chỉ bằng giọng điệu thì thầm của một phụ nữ gốc gác cố đô, nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy chinh phục bạn đọc theo cách lặng lẽ và nhẹ nhàng “Trồng cây tùng để làm tin/ Mở lồng thả hết cánh chim cho trời”.

Sinh ra và lớn lên bên bờ sông Hương, tâm hồn Tôn Nữ Thu Thủy được nuôi nấng bằng những cơn gió khe khẽ qua những hàng cây im ắng trong Đại Nội. Nguồn mơ mộng ấy ngỡ cho chị một cuộc sống yên bình nơi chôn nhau cắt rốn, không ngờ số phận lại đẩy đưa chị phải rời xa những tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga mỗi chiều.

Năm 1976, cô giáo trẻ Tôn Nữ Thu Thủy 23 tuổi đến tỉnh Khánh Hòa làm giáo viên ở Cam Ranh, mang theo bao nhiêu ngổn ngang thương nhớ “Mái nhà cha mẹ thôi đành/ Xa xăm ở giữa nội thành xa xăm”. Sau khi lấy chồng, chị chuyển về dạy học ở Nha Trang. Những ngày tha hương và những ngày bận bịu ở đô thị ven biển giúp chị gần gũi hơn với thơ. Rồi vần điệu của Tôn Nữ Thu Thủy cũng không thể tiếp tục dan díu với từng con sóng trắng xô dạt tít tắp Hòn Tằm, Hòn Yến, Hòn Mun…

Năm 1988, chị lại cùng gia đình chuyển vào định cư tại TP Hồ Chí Minh. Mảnh đất mới chộn rộn hơn, con người mới chen lấn hơn, Tôn Nữ Thu Thủy từ giã bục giảng để đi làm báo và làm sách. Những ngày xuôi ngược tầng thấp tầng cao giăng mắc nỗi niềm, chị tập đối diện chính mình “Giá như bao giờ cũng biết/ Buồn vui là tự nơi mình/ Giá như đừng cô đơn quá/ Núi xanh mở lối gập ghềnh”, và chị tập an ủi chính mình “Sương vừa rơi giữa đêm nay/ Để mềm chiếc bóng của ngày hôm qua”.

Nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy cư ngụ trong một con hẻm nhỏ ở quận 8, sự ồn ào không làm chị bức bối, sự đơn điệu không làm chị hiu quạnh: “Trong không gian trắng/ Có người biết mình yêu điều gì, cần phải làm gì/ Cặm cụi bên những vi mạch từng ngôn ngữ kết nối sinh sôi cho đời…”.

Chị may mắn có được người chồng là nhạc sĩ, luôn thấu hiểu và khích lệ vợ mình bên ngọn đèn bàn viết xanh xao chữ nghĩa. Những tập thơ nối tiếp nhau ra đời “Viết tặng ánh lửa”, “Trái đất đang nóng dần lên”, “Hoa hồng xanh”, “Mắt lá”, “Dưới mái nhà xanh” đủ để độc giả nhận diện được chân dung nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy dung dị mà suy tư: “Để làm dịu nỗi đau/ Tôi xoay trở/ Nghiêng nghiêng, bám tay vào hàng phím sóng/ Trùng khơi đáp lời…”.

So với những nữ sĩ cùng thế hệ, nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy dường như đứng ngoài những bộn bề danh lợi. Không giả vờ khiêm cung, chị chọn một lối đi hiền lành và thanh thản “Em về từng bước nhỏ/ Bên đất trời lớn lao”.

Thế nhưng, sự nhạy cảm của một người đàn bà cầm bút lại không cho phép chị thờ ơ với những náo động xung quanh. Chị cũng hoang mang thế sự “Nhiều khi ở giữa ngày thường/ Tôi còn lại những nỗi khổ đau của chính mình từ bi kịch của người khác/ Cánh cửa không mở ra cánh rừng/ Tôi hốt hoảng trước bức tường trắng”, và tự tìm cách thanh lọc bản thân “Khi mây không còn là mây/ Âm vang rời những âm vang/ Tôi lại là tôi/ Một phụ nữ nhỏ nhoi/ Với những đoá hồng chưa kịp tươi lại/ Sau buổi chợ mai”.

Căn tính nữ trong thơ Tôn Nữ Thu Thủy nghiêng hẳn phía chia sớt bất hạnh và bơ vơ. Những cảnh đời thường thoáng qua mà nhiều người không để ý, thì chị lại ám ảnh và day dứt. Đó có thể là người phụ nữ bất chợt nhìn thấy giữa cơn mưa với những lầm lũi không mấy ai đồng hành san sẻ: “Chị run run trong mưa/ Bước chân không dừng lại/ Vẳng nghe trẻ con cười nói/ Nhớ một ngôi nhà sau rặng cây xa/ Đi qua mưa đi qua mưa/ Trái tim nấu nung che chở/ Chị trở về bên cánh cửa/ Mang theo hơi ấm cuối cùng”.

Đó có thể là đứa trẻ tình cờ nhìn thấy bên thềm nhà vắng vẻ không vòng tay âu yếm che chở: “Mẹ đi bán rau, mẹ vẫn chưa về/ Em ngồi chơi với đồng tiền lá…/ Mẹ đi đâu chưa về mẹ ơi/ Mẹ nói ba không còn ở trên đời/ Làm sao con đi một mình không có mẹ/ Con đói quá, con mệt quá/ Con buồn ngủ quá…”.

Những câu thơ không cần đẽo gọt ngôn ngữ cũng không cần bóng bẩy ẩn dụ, lại giống như những thước phim quay chậm khơi dậy phấp phổng xót xa, đánh thức nôn nao lương thiện. Phẩm chất thi sĩ của nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy hiển lộ ngay những trắc ẩn mong manh! Thậm chí, khi xem bức tranh “Tĩnh vật giày của Van Gogh” thì chị cũng không giấu được ngậm ngùi cho những bôn ba, những chới với, những khấp khểnh, những chênh vênh mà mỗi kiếp người dự phần trong cõi nhân gian chìm nổi lênh đênh: “Chẳng giấu mình mòn vẹt/ Những chiếc giày đi tìm giấc mơ đến đứt dây/ Xấu cũ sau hành trình mải miết/ Những chiếc giày mỉm cười bước cùng số phận ai…”.

Nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy có cuộc sống giản đơn và êm ấm. Những xáo trộn chốc lát đều được chị dàn xếp, những mất mát riêng tư đều được chị vỗ về, nên mảng thơ tình của chị rất ít dư vị cồn cào. Thỉnh thoảng chị đau đáu “Mây đổi thay rồi hàng dương oằn gốc/ Mùa qua hư huyền cánh chim bặt tăm/ Cát vàng trôi đi đầy vơi vỏốc/ Tình yêu nào buộc ràng biển thức bao năm?” rồi chị lại thương lượng với sự hài lòng duyên nợ “Mai sau bóng vườn thành hư ảo/ Anh có nhìn ra một nét cười?”. Chị đặt câu hỏi mà không chờ ngóng hồi đáp. Chị đặt câu hỏi chỉ để trái tim mình xao xuyến theo những nhu cầu tự tại ung dung!

Cốt cách đằm thắm của một người phụ nữ Huế thể hiện trong thơ Tôn Nữ Thu Thủy chủ yếu tập trung vào sự chan hòa với thiên nhiên. Giữa phố xá ngột ngạt, chị hướng về lá về hoa để bộc bạch, để lý giải, để thông cảm. Nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy có cách định nghĩa về hoa khá độc đáo: “Hoa/ Nụ cười của đá xanh bao năm trước/ Đám mây của giọt lệ bao năm trước/ Làn nắng của rêu mốc tù hãm bao năm trước”.

Nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy cũng có cách ứng xử với lá khá thú vị: “Lá như tóc đậu trên vai/ Không tháng năm không hờn giận/ Bao nhiêu cơn gió đường dài/ Đã trượt ra ngoài số phận”. Hình tượng hoa và lá trở đi trở lại liên tục và dày đặc trong thơ chị, vừa là đối tượng phản ánh, vừa là ký hiệu thẩm mỹ, vừa là giá trị trữ tình. Hoa nở như cơn cớ của lãng mạn, lá rụng như hoài vọng của quá khứ, hoa và lá cùng hiện ra như tích tụ của kỷ niệm.

Dù không gian chật hẹp, thì chị cũng thấy “Ngoài cửa” thật mênh mông “Hoa súng trắng ngẩng nhìn bầu trời trắng hơn chút nữa/ Cánh chim với bầu trời bay lên/ Nguồn nắng rót niềm ấm áp vô tận/ Có phải bầu trời cũng tự nhủ sẽ xanh hơn”. Cho nên, một lần ngắm “Hoa tiểu quỳnh giữa tinh sương” khiến chị bồi hồi “Hoa sinh ra cùng giấc mơ/ Ở cách xa những dối lừa/ Ở cách xa điều ác/ Hoa sinh ra như tuổi thơ”, một trải nghiệm “Đêm sao ở Từ Viên” khiến chị nghẹn ngào “Những giọt sương vẫn chậm rơi trên lá sứ/ Ngùn ngụt hơi lạnh đông xuân chẳng ru ngủ nổi mình/ Nghe một điều gì chớm khẽ/ Níu lòng trong ánh sáng của đêm”, mà một dịp đứng “Giữa vườn hoa Trúc Lâm” cũng khiến chị mãn nguyện “Hoa vươn lên từng cánh mong manh/ Chuộc lại ngày mưa thưa sắp vào chiều tối/ Có giấc mơ hóa bướm giữa vườn/ Đất trở thành niềm vui cứu rỗi!”.

Thơ Tôn Nữ Thu Thủy không tạo ấn tượng bằng sự lấp lánh tu từ khéo léo. Thơ Tôn Nữ Thu Thủy cũng không tạo ấn tượng bằng vần điệu trầm bổng du dương. Thơ Tôn Nữ Thu Thủy có ưu điểm ở những khoảnh khắc thảng thốt của những điều bất an mơ hồ, của những phen xô lệch bịn rịn. Đó là những vang động không thể nào nghe được bằng đôi tai: “Dãy tường đá cũ còn in tiếng/ Từng lá sen làm sao tĩnh tâm”. Đó là những mong muốn không thể nào làm được bằng đôi tay: “Tôi vẽ hoa sen/ Mà chẳng vẽ được nụ cười thuần hậu ấy/ Tôi kể về hoa sen/ Mà chẳng kể hết được làn hương ấy/ Luôn luôn sen vượt qua cái nhìn của tôi/ Tôi mơ giấc mơ/ Một cô bé ôm cành hoa sen/ Được sống hạnh phúc mãi mãi”.

Bây giờ nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy đã quá tuổi lục thập. Cô nữ sinh thuở nào rạo rực những câu thơ đắm đuối qua mười hai nhịp cầu Tràng Tiền, hôm nay đã là bà mẹ của bốn gã trai phương trưởng và thành đạt. Nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy lại dùng thơ ru cháu như đã từng ru con “Những ngày đẹp/ Có bao giờ phai đi/ Bầu trời xanh mãi thầm thì”, và lắng đọng cho chính mình “Giữ lại một ngày ta như lá/ Xanh giữa trưa vàng êm ả ru/ Có một niềm vui thường im lặng/ Có bao giờ nói hết mùa thu…”.

6-2019

L.T.N
Nguồn: http://vnca.cand.com.vn/

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm