TIN TỨC

Nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy: Giữ lại một ngày ta như lá

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-10-01 06:09:54
mail facebook google pos stwis
3373 lượt xem

LÊ THIẾU NHƠN

Khi đang là sinh viên khoa Văn ở Trường Đại học Sư phạm Huế, Tôn Nữ Thu Thủy viết bài thơ đầu tiên về mối tình tưởng tượng với ý định để dành tặng người yêu của mình, không ngờ giây phút đó lại thành khởi điểm để chị gắn bó một đời cùng thi ca.

Nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy

Suốt hành trình sáng tạo, chỉ bằng giọng điệu thì thầm của một phụ nữ gốc gác cố đô, nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy chinh phục bạn đọc theo cách lặng lẽ và nhẹ nhàng “Trồng cây tùng để làm tin/ Mở lồng thả hết cánh chim cho trời”.

Sinh ra và lớn lên bên bờ sông Hương, tâm hồn Tôn Nữ Thu Thủy được nuôi nấng bằng những cơn gió khe khẽ qua những hàng cây im ắng trong Đại Nội. Nguồn mơ mộng ấy ngỡ cho chị một cuộc sống yên bình nơi chôn nhau cắt rốn, không ngờ số phận lại đẩy đưa chị phải rời xa những tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga mỗi chiều.

Năm 1976, cô giáo trẻ Tôn Nữ Thu Thủy 23 tuổi đến tỉnh Khánh Hòa làm giáo viên ở Cam Ranh, mang theo bao nhiêu ngổn ngang thương nhớ “Mái nhà cha mẹ thôi đành/ Xa xăm ở giữa nội thành xa xăm”. Sau khi lấy chồng, chị chuyển về dạy học ở Nha Trang. Những ngày tha hương và những ngày bận bịu ở đô thị ven biển giúp chị gần gũi hơn với thơ. Rồi vần điệu của Tôn Nữ Thu Thủy cũng không thể tiếp tục dan díu với từng con sóng trắng xô dạt tít tắp Hòn Tằm, Hòn Yến, Hòn Mun…

Năm 1988, chị lại cùng gia đình chuyển vào định cư tại TP Hồ Chí Minh. Mảnh đất mới chộn rộn hơn, con người mới chen lấn hơn, Tôn Nữ Thu Thủy từ giã bục giảng để đi làm báo và làm sách. Những ngày xuôi ngược tầng thấp tầng cao giăng mắc nỗi niềm, chị tập đối diện chính mình “Giá như bao giờ cũng biết/ Buồn vui là tự nơi mình/ Giá như đừng cô đơn quá/ Núi xanh mở lối gập ghềnh”, và chị tập an ủi chính mình “Sương vừa rơi giữa đêm nay/ Để mềm chiếc bóng của ngày hôm qua”.

Nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy cư ngụ trong một con hẻm nhỏ ở quận 8, sự ồn ào không làm chị bức bối, sự đơn điệu không làm chị hiu quạnh: “Trong không gian trắng/ Có người biết mình yêu điều gì, cần phải làm gì/ Cặm cụi bên những vi mạch từng ngôn ngữ kết nối sinh sôi cho đời…”.

Chị may mắn có được người chồng là nhạc sĩ, luôn thấu hiểu và khích lệ vợ mình bên ngọn đèn bàn viết xanh xao chữ nghĩa. Những tập thơ nối tiếp nhau ra đời “Viết tặng ánh lửa”, “Trái đất đang nóng dần lên”, “Hoa hồng xanh”, “Mắt lá”, “Dưới mái nhà xanh” đủ để độc giả nhận diện được chân dung nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy dung dị mà suy tư: “Để làm dịu nỗi đau/ Tôi xoay trở/ Nghiêng nghiêng, bám tay vào hàng phím sóng/ Trùng khơi đáp lời…”.

So với những nữ sĩ cùng thế hệ, nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy dường như đứng ngoài những bộn bề danh lợi. Không giả vờ khiêm cung, chị chọn một lối đi hiền lành và thanh thản “Em về từng bước nhỏ/ Bên đất trời lớn lao”.

Thế nhưng, sự nhạy cảm của một người đàn bà cầm bút lại không cho phép chị thờ ơ với những náo động xung quanh. Chị cũng hoang mang thế sự “Nhiều khi ở giữa ngày thường/ Tôi còn lại những nỗi khổ đau của chính mình từ bi kịch của người khác/ Cánh cửa không mở ra cánh rừng/ Tôi hốt hoảng trước bức tường trắng”, và tự tìm cách thanh lọc bản thân “Khi mây không còn là mây/ Âm vang rời những âm vang/ Tôi lại là tôi/ Một phụ nữ nhỏ nhoi/ Với những đoá hồng chưa kịp tươi lại/ Sau buổi chợ mai”.

Căn tính nữ trong thơ Tôn Nữ Thu Thủy nghiêng hẳn phía chia sớt bất hạnh và bơ vơ. Những cảnh đời thường thoáng qua mà nhiều người không để ý, thì chị lại ám ảnh và day dứt. Đó có thể là người phụ nữ bất chợt nhìn thấy giữa cơn mưa với những lầm lũi không mấy ai đồng hành san sẻ: “Chị run run trong mưa/ Bước chân không dừng lại/ Vẳng nghe trẻ con cười nói/ Nhớ một ngôi nhà sau rặng cây xa/ Đi qua mưa đi qua mưa/ Trái tim nấu nung che chở/ Chị trở về bên cánh cửa/ Mang theo hơi ấm cuối cùng”.

Đó có thể là đứa trẻ tình cờ nhìn thấy bên thềm nhà vắng vẻ không vòng tay âu yếm che chở: “Mẹ đi bán rau, mẹ vẫn chưa về/ Em ngồi chơi với đồng tiền lá…/ Mẹ đi đâu chưa về mẹ ơi/ Mẹ nói ba không còn ở trên đời/ Làm sao con đi một mình không có mẹ/ Con đói quá, con mệt quá/ Con buồn ngủ quá…”.

Những câu thơ không cần đẽo gọt ngôn ngữ cũng không cần bóng bẩy ẩn dụ, lại giống như những thước phim quay chậm khơi dậy phấp phổng xót xa, đánh thức nôn nao lương thiện. Phẩm chất thi sĩ của nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy hiển lộ ngay những trắc ẩn mong manh! Thậm chí, khi xem bức tranh “Tĩnh vật giày của Van Gogh” thì chị cũng không giấu được ngậm ngùi cho những bôn ba, những chới với, những khấp khểnh, những chênh vênh mà mỗi kiếp người dự phần trong cõi nhân gian chìm nổi lênh đênh: “Chẳng giấu mình mòn vẹt/ Những chiếc giày đi tìm giấc mơ đến đứt dây/ Xấu cũ sau hành trình mải miết/ Những chiếc giày mỉm cười bước cùng số phận ai…”.

Nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy có cuộc sống giản đơn và êm ấm. Những xáo trộn chốc lát đều được chị dàn xếp, những mất mát riêng tư đều được chị vỗ về, nên mảng thơ tình của chị rất ít dư vị cồn cào. Thỉnh thoảng chị đau đáu “Mây đổi thay rồi hàng dương oằn gốc/ Mùa qua hư huyền cánh chim bặt tăm/ Cát vàng trôi đi đầy vơi vỏốc/ Tình yêu nào buộc ràng biển thức bao năm?” rồi chị lại thương lượng với sự hài lòng duyên nợ “Mai sau bóng vườn thành hư ảo/ Anh có nhìn ra một nét cười?”. Chị đặt câu hỏi mà không chờ ngóng hồi đáp. Chị đặt câu hỏi chỉ để trái tim mình xao xuyến theo những nhu cầu tự tại ung dung!

Cốt cách đằm thắm của một người phụ nữ Huế thể hiện trong thơ Tôn Nữ Thu Thủy chủ yếu tập trung vào sự chan hòa với thiên nhiên. Giữa phố xá ngột ngạt, chị hướng về lá về hoa để bộc bạch, để lý giải, để thông cảm. Nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy có cách định nghĩa về hoa khá độc đáo: “Hoa/ Nụ cười của đá xanh bao năm trước/ Đám mây của giọt lệ bao năm trước/ Làn nắng của rêu mốc tù hãm bao năm trước”.

Nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy cũng có cách ứng xử với lá khá thú vị: “Lá như tóc đậu trên vai/ Không tháng năm không hờn giận/ Bao nhiêu cơn gió đường dài/ Đã trượt ra ngoài số phận”. Hình tượng hoa và lá trở đi trở lại liên tục và dày đặc trong thơ chị, vừa là đối tượng phản ánh, vừa là ký hiệu thẩm mỹ, vừa là giá trị trữ tình. Hoa nở như cơn cớ của lãng mạn, lá rụng như hoài vọng của quá khứ, hoa và lá cùng hiện ra như tích tụ của kỷ niệm.

Dù không gian chật hẹp, thì chị cũng thấy “Ngoài cửa” thật mênh mông “Hoa súng trắng ngẩng nhìn bầu trời trắng hơn chút nữa/ Cánh chim với bầu trời bay lên/ Nguồn nắng rót niềm ấm áp vô tận/ Có phải bầu trời cũng tự nhủ sẽ xanh hơn”. Cho nên, một lần ngắm “Hoa tiểu quỳnh giữa tinh sương” khiến chị bồi hồi “Hoa sinh ra cùng giấc mơ/ Ở cách xa những dối lừa/ Ở cách xa điều ác/ Hoa sinh ra như tuổi thơ”, một trải nghiệm “Đêm sao ở Từ Viên” khiến chị nghẹn ngào “Những giọt sương vẫn chậm rơi trên lá sứ/ Ngùn ngụt hơi lạnh đông xuân chẳng ru ngủ nổi mình/ Nghe một điều gì chớm khẽ/ Níu lòng trong ánh sáng của đêm”, mà một dịp đứng “Giữa vườn hoa Trúc Lâm” cũng khiến chị mãn nguyện “Hoa vươn lên từng cánh mong manh/ Chuộc lại ngày mưa thưa sắp vào chiều tối/ Có giấc mơ hóa bướm giữa vườn/ Đất trở thành niềm vui cứu rỗi!”.

Thơ Tôn Nữ Thu Thủy không tạo ấn tượng bằng sự lấp lánh tu từ khéo léo. Thơ Tôn Nữ Thu Thủy cũng không tạo ấn tượng bằng vần điệu trầm bổng du dương. Thơ Tôn Nữ Thu Thủy có ưu điểm ở những khoảnh khắc thảng thốt của những điều bất an mơ hồ, của những phen xô lệch bịn rịn. Đó là những vang động không thể nào nghe được bằng đôi tai: “Dãy tường đá cũ còn in tiếng/ Từng lá sen làm sao tĩnh tâm”. Đó là những mong muốn không thể nào làm được bằng đôi tay: “Tôi vẽ hoa sen/ Mà chẳng vẽ được nụ cười thuần hậu ấy/ Tôi kể về hoa sen/ Mà chẳng kể hết được làn hương ấy/ Luôn luôn sen vượt qua cái nhìn của tôi/ Tôi mơ giấc mơ/ Một cô bé ôm cành hoa sen/ Được sống hạnh phúc mãi mãi”.

Bây giờ nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy đã quá tuổi lục thập. Cô nữ sinh thuở nào rạo rực những câu thơ đắm đuối qua mười hai nhịp cầu Tràng Tiền, hôm nay đã là bà mẹ của bốn gã trai phương trưởng và thành đạt. Nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy lại dùng thơ ru cháu như đã từng ru con “Những ngày đẹp/ Có bao giờ phai đi/ Bầu trời xanh mãi thầm thì”, và lắng đọng cho chính mình “Giữ lại một ngày ta như lá/ Xanh giữa trưa vàng êm ả ru/ Có một niềm vui thường im lặng/ Có bao giờ nói hết mùa thu…”.

6-2019

L.T.N
Nguồn: http://vnca.cand.com.vn/

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”
Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.
Xem thêm
Chiến tranh và chiến tranh - Tiếng kêu thương thảm khốc!
László Krasznahorkai sinh năm 1954 tại Gyula, Hungary, học Luật, có bằng Ngôn ngữ Hung và Sư phạm. Nhà văn tự do từ năm 1982. Tiểu thuyết: Sátántangó (Sasantango, 1985), Az ellenállás melankóliája (The Melancholy ơf Resistance, 1989), Az urgai fology (The Prisoner ơf Urga, 1993), Háború és háború (War and War), 1999), Északról hegy, Délróltó, Nyugatról utak, Keletról folyó (From the North by Hill, From the South by Lek, From the West by Roads, From the East by River, 2003), Rombolás és bánat az Égalatt (Destruction and Sorrow beneath the Heavens, 2004), Seiobo járt odalent (Seiobo There Below, 2008), Báró Wenkheim hazatér (The Homecoming ơf Baron Wenkheim, 2016)…
Xem thêm
Cảm nhận về tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của tác giả Trương Văn Dân
Nhận được Bàn tay nhỏ dưới mưa tác giả gởi tặng cũng hơn nửa tháng rồi, tính nhâm nhi đọc nhưng cứ lần lữa mãi. Nay có thời gian thảnh thơi tôi mới có dịp thưởng thức tác phẩm của anh.
Xem thêm
Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương
Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức
Bài viết của nhà thơ Ngô Minh Oanh về tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong
Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc,
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm