TIN TỨC

Nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy: Giữ lại một ngày ta như lá

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-10-01 06:09:54
mail facebook google pos stwis
3494 lượt xem

LÊ THIẾU NHƠN

Khi đang là sinh viên khoa Văn ở Trường Đại học Sư phạm Huế, Tôn Nữ Thu Thủy viết bài thơ đầu tiên về mối tình tưởng tượng với ý định để dành tặng người yêu của mình, không ngờ giây phút đó lại thành khởi điểm để chị gắn bó một đời cùng thi ca.

Nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy

Suốt hành trình sáng tạo, chỉ bằng giọng điệu thì thầm của một phụ nữ gốc gác cố đô, nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy chinh phục bạn đọc theo cách lặng lẽ và nhẹ nhàng “Trồng cây tùng để làm tin/ Mở lồng thả hết cánh chim cho trời”.

Sinh ra và lớn lên bên bờ sông Hương, tâm hồn Tôn Nữ Thu Thủy được nuôi nấng bằng những cơn gió khe khẽ qua những hàng cây im ắng trong Đại Nội. Nguồn mơ mộng ấy ngỡ cho chị một cuộc sống yên bình nơi chôn nhau cắt rốn, không ngờ số phận lại đẩy đưa chị phải rời xa những tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga mỗi chiều.

Năm 1976, cô giáo trẻ Tôn Nữ Thu Thủy 23 tuổi đến tỉnh Khánh Hòa làm giáo viên ở Cam Ranh, mang theo bao nhiêu ngổn ngang thương nhớ “Mái nhà cha mẹ thôi đành/ Xa xăm ở giữa nội thành xa xăm”. Sau khi lấy chồng, chị chuyển về dạy học ở Nha Trang. Những ngày tha hương và những ngày bận bịu ở đô thị ven biển giúp chị gần gũi hơn với thơ. Rồi vần điệu của Tôn Nữ Thu Thủy cũng không thể tiếp tục dan díu với từng con sóng trắng xô dạt tít tắp Hòn Tằm, Hòn Yến, Hòn Mun…

Năm 1988, chị lại cùng gia đình chuyển vào định cư tại TP Hồ Chí Minh. Mảnh đất mới chộn rộn hơn, con người mới chen lấn hơn, Tôn Nữ Thu Thủy từ giã bục giảng để đi làm báo và làm sách. Những ngày xuôi ngược tầng thấp tầng cao giăng mắc nỗi niềm, chị tập đối diện chính mình “Giá như bao giờ cũng biết/ Buồn vui là tự nơi mình/ Giá như đừng cô đơn quá/ Núi xanh mở lối gập ghềnh”, và chị tập an ủi chính mình “Sương vừa rơi giữa đêm nay/ Để mềm chiếc bóng của ngày hôm qua”.

Nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy cư ngụ trong một con hẻm nhỏ ở quận 8, sự ồn ào không làm chị bức bối, sự đơn điệu không làm chị hiu quạnh: “Trong không gian trắng/ Có người biết mình yêu điều gì, cần phải làm gì/ Cặm cụi bên những vi mạch từng ngôn ngữ kết nối sinh sôi cho đời…”.

Chị may mắn có được người chồng là nhạc sĩ, luôn thấu hiểu và khích lệ vợ mình bên ngọn đèn bàn viết xanh xao chữ nghĩa. Những tập thơ nối tiếp nhau ra đời “Viết tặng ánh lửa”, “Trái đất đang nóng dần lên”, “Hoa hồng xanh”, “Mắt lá”, “Dưới mái nhà xanh” đủ để độc giả nhận diện được chân dung nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy dung dị mà suy tư: “Để làm dịu nỗi đau/ Tôi xoay trở/ Nghiêng nghiêng, bám tay vào hàng phím sóng/ Trùng khơi đáp lời…”.

So với những nữ sĩ cùng thế hệ, nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy dường như đứng ngoài những bộn bề danh lợi. Không giả vờ khiêm cung, chị chọn một lối đi hiền lành và thanh thản “Em về từng bước nhỏ/ Bên đất trời lớn lao”.

Thế nhưng, sự nhạy cảm của một người đàn bà cầm bút lại không cho phép chị thờ ơ với những náo động xung quanh. Chị cũng hoang mang thế sự “Nhiều khi ở giữa ngày thường/ Tôi còn lại những nỗi khổ đau của chính mình từ bi kịch của người khác/ Cánh cửa không mở ra cánh rừng/ Tôi hốt hoảng trước bức tường trắng”, và tự tìm cách thanh lọc bản thân “Khi mây không còn là mây/ Âm vang rời những âm vang/ Tôi lại là tôi/ Một phụ nữ nhỏ nhoi/ Với những đoá hồng chưa kịp tươi lại/ Sau buổi chợ mai”.

Căn tính nữ trong thơ Tôn Nữ Thu Thủy nghiêng hẳn phía chia sớt bất hạnh và bơ vơ. Những cảnh đời thường thoáng qua mà nhiều người không để ý, thì chị lại ám ảnh và day dứt. Đó có thể là người phụ nữ bất chợt nhìn thấy giữa cơn mưa với những lầm lũi không mấy ai đồng hành san sẻ: “Chị run run trong mưa/ Bước chân không dừng lại/ Vẳng nghe trẻ con cười nói/ Nhớ một ngôi nhà sau rặng cây xa/ Đi qua mưa đi qua mưa/ Trái tim nấu nung che chở/ Chị trở về bên cánh cửa/ Mang theo hơi ấm cuối cùng”.

Đó có thể là đứa trẻ tình cờ nhìn thấy bên thềm nhà vắng vẻ không vòng tay âu yếm che chở: “Mẹ đi bán rau, mẹ vẫn chưa về/ Em ngồi chơi với đồng tiền lá…/ Mẹ đi đâu chưa về mẹ ơi/ Mẹ nói ba không còn ở trên đời/ Làm sao con đi một mình không có mẹ/ Con đói quá, con mệt quá/ Con buồn ngủ quá…”.

Những câu thơ không cần đẽo gọt ngôn ngữ cũng không cần bóng bẩy ẩn dụ, lại giống như những thước phim quay chậm khơi dậy phấp phổng xót xa, đánh thức nôn nao lương thiện. Phẩm chất thi sĩ của nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy hiển lộ ngay những trắc ẩn mong manh! Thậm chí, khi xem bức tranh “Tĩnh vật giày của Van Gogh” thì chị cũng không giấu được ngậm ngùi cho những bôn ba, những chới với, những khấp khểnh, những chênh vênh mà mỗi kiếp người dự phần trong cõi nhân gian chìm nổi lênh đênh: “Chẳng giấu mình mòn vẹt/ Những chiếc giày đi tìm giấc mơ đến đứt dây/ Xấu cũ sau hành trình mải miết/ Những chiếc giày mỉm cười bước cùng số phận ai…”.

Nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy có cuộc sống giản đơn và êm ấm. Những xáo trộn chốc lát đều được chị dàn xếp, những mất mát riêng tư đều được chị vỗ về, nên mảng thơ tình của chị rất ít dư vị cồn cào. Thỉnh thoảng chị đau đáu “Mây đổi thay rồi hàng dương oằn gốc/ Mùa qua hư huyền cánh chim bặt tăm/ Cát vàng trôi đi đầy vơi vỏốc/ Tình yêu nào buộc ràng biển thức bao năm?” rồi chị lại thương lượng với sự hài lòng duyên nợ “Mai sau bóng vườn thành hư ảo/ Anh có nhìn ra một nét cười?”. Chị đặt câu hỏi mà không chờ ngóng hồi đáp. Chị đặt câu hỏi chỉ để trái tim mình xao xuyến theo những nhu cầu tự tại ung dung!

Cốt cách đằm thắm của một người phụ nữ Huế thể hiện trong thơ Tôn Nữ Thu Thủy chủ yếu tập trung vào sự chan hòa với thiên nhiên. Giữa phố xá ngột ngạt, chị hướng về lá về hoa để bộc bạch, để lý giải, để thông cảm. Nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy có cách định nghĩa về hoa khá độc đáo: “Hoa/ Nụ cười của đá xanh bao năm trước/ Đám mây của giọt lệ bao năm trước/ Làn nắng của rêu mốc tù hãm bao năm trước”.

Nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy cũng có cách ứng xử với lá khá thú vị: “Lá như tóc đậu trên vai/ Không tháng năm không hờn giận/ Bao nhiêu cơn gió đường dài/ Đã trượt ra ngoài số phận”. Hình tượng hoa và lá trở đi trở lại liên tục và dày đặc trong thơ chị, vừa là đối tượng phản ánh, vừa là ký hiệu thẩm mỹ, vừa là giá trị trữ tình. Hoa nở như cơn cớ của lãng mạn, lá rụng như hoài vọng của quá khứ, hoa và lá cùng hiện ra như tích tụ của kỷ niệm.

Dù không gian chật hẹp, thì chị cũng thấy “Ngoài cửa” thật mênh mông “Hoa súng trắng ngẩng nhìn bầu trời trắng hơn chút nữa/ Cánh chim với bầu trời bay lên/ Nguồn nắng rót niềm ấm áp vô tận/ Có phải bầu trời cũng tự nhủ sẽ xanh hơn”. Cho nên, một lần ngắm “Hoa tiểu quỳnh giữa tinh sương” khiến chị bồi hồi “Hoa sinh ra cùng giấc mơ/ Ở cách xa những dối lừa/ Ở cách xa điều ác/ Hoa sinh ra như tuổi thơ”, một trải nghiệm “Đêm sao ở Từ Viên” khiến chị nghẹn ngào “Những giọt sương vẫn chậm rơi trên lá sứ/ Ngùn ngụt hơi lạnh đông xuân chẳng ru ngủ nổi mình/ Nghe một điều gì chớm khẽ/ Níu lòng trong ánh sáng của đêm”, mà một dịp đứng “Giữa vườn hoa Trúc Lâm” cũng khiến chị mãn nguyện “Hoa vươn lên từng cánh mong manh/ Chuộc lại ngày mưa thưa sắp vào chiều tối/ Có giấc mơ hóa bướm giữa vườn/ Đất trở thành niềm vui cứu rỗi!”.

Thơ Tôn Nữ Thu Thủy không tạo ấn tượng bằng sự lấp lánh tu từ khéo léo. Thơ Tôn Nữ Thu Thủy cũng không tạo ấn tượng bằng vần điệu trầm bổng du dương. Thơ Tôn Nữ Thu Thủy có ưu điểm ở những khoảnh khắc thảng thốt của những điều bất an mơ hồ, của những phen xô lệch bịn rịn. Đó là những vang động không thể nào nghe được bằng đôi tai: “Dãy tường đá cũ còn in tiếng/ Từng lá sen làm sao tĩnh tâm”. Đó là những mong muốn không thể nào làm được bằng đôi tay: “Tôi vẽ hoa sen/ Mà chẳng vẽ được nụ cười thuần hậu ấy/ Tôi kể về hoa sen/ Mà chẳng kể hết được làn hương ấy/ Luôn luôn sen vượt qua cái nhìn của tôi/ Tôi mơ giấc mơ/ Một cô bé ôm cành hoa sen/ Được sống hạnh phúc mãi mãi”.

Bây giờ nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy đã quá tuổi lục thập. Cô nữ sinh thuở nào rạo rực những câu thơ đắm đuối qua mười hai nhịp cầu Tràng Tiền, hôm nay đã là bà mẹ của bốn gã trai phương trưởng và thành đạt. Nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy lại dùng thơ ru cháu như đã từng ru con “Những ngày đẹp/ Có bao giờ phai đi/ Bầu trời xanh mãi thầm thì”, và lắng đọng cho chính mình “Giữ lại một ngày ta như lá/ Xanh giữa trưa vàng êm ả ru/ Có một niềm vui thường im lặng/ Có bao giờ nói hết mùa thu…”.

6-2019

L.T.N
Nguồn: http://vnca.cand.com.vn/

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm