TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Nhà văn Mai Văn Tạo – Viết từ tấm lòng sâu nặng để tri ân nguồn cội

Nhà văn Mai Văn Tạo – Viết từ tấm lòng sâu nặng để tri ân nguồn cội

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-09-15 04:36:29
mail facebook google pos stwis
706 lượt xem

TRẦN QUANG KHANH

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn)  -Vùng đất miền Tây Nam Bộ đã luôn ghi khắc văn nghiệp của các nhà văn kỳ cựu, đưa tên tuổi họ trở thành những nguồn sáng rạng rỡ với những trang viết đậm hồn đất và tình người của xứ sở nơi đây. Có thể kể đến nhà văn, nhà nghiên cứu, học giả Nguyễn Chánh Sắt, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Văn Hầu…; các nhà văn Sơn Nam, Anh Đức, Trang Thế Hy, Nguyễn Quang Sáng, Lê Văn Thảo, Nguyễn Lập Em, Phạm Trung Khâu, Lê Đình Trường, Ngô Khắc Tài…; các nhà thơ Thanh Hải, Phạm Hữu Quang, Đinh Thị Thu Vân, Trịnh Bửu Hoài, Thu Nguyệt, Phạm Nguyên Thạch, Ngọc Phượng, Song Hảo…

Nhà văn Mai Văn Tạo

Và càng khó có thể lãng quên một tên tuổi lớn, với nhiều đóng góp ấn tượng và quan trọng cho vùng đất này - đó là nhà văn Mai Văn Tạo. Ông tên thật là Nguyễn Thanh Tân, sinh 15.3.1924 tại xã Vĩnh Tế, tỉnh Châu Đốc cũ (nay thuộc tỉnh An Giang). Nhà văn đã từ giã cõi đời vào ngày 03.7.2002. Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, để lại di sản thơ văn gần 30 tác phẩm, in từ Nam chí Bắc. Ông có những tác phẩm đã để lại dư âm, đương thời gây được tiếng vang như các truyện ngắn: “Hoa Lê” (1962), “Đường rừng” (1973), “Bông điệp đỏ” (1975)… Các bút kí, truyện kí: “Núi Sam quê mình”, “Lời ru của Mẹ”, “Lại về quê lụa Tân Châu”, “Làng quê ngày ấy”, “Củ Chi đất thép”, “Em bé sông Hương”... Ông đồng thời còn là soạn giả các vở kịch nói và cải lương, tuồng cổ với bút hiệu Chí Linh. Năm 1999, ông đã cho ra mắt tập tản văn Mai Văn Tạo, với độ dày 300 trang. Nhà văn một thời tham gia chiến đấu trong quân đội, sau làm công tác biên tập tại Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam.

Mai Văn Tạo ghi dấu ấn bởi những trang viết mang đậm hơi thở lịch sử thời đại, nặng tình, gắn với các sắc thái của đời sống quê hương và những vùng đất mà ông đã đi qua, gắn bó. Ông viết văn như là một cách hồi tưởng dòng ký ức, kể lại những câu chuyện giản dị mà lấp lánh những giá trị nhân văn bền chặt, sâu sắc. Ông từng trải lòng: “Lịch sử An Giang đã viết bằng những cuộc đời lận đận, những số phận bi thương, những tâm hồn vĩ đại, bằng máu và nước mắt, bằng những lưỡi gươm và cây súng thô sơ. Tới bây giờ tôi được vinh hạnh viết cuộc đời của mẹ - Người mẹ An Giang - bằng cây bút. Hạnh phúc cho người cầm bút biết bao (SGK Ngữ văn lớp 7, NXB Giáo Dục 2007). Đọc những dòng viết chân thật gợi thương cảm ấy, nhà báo Lê Phú Khải đã phải bật lời thảng thốt ngợi ca: “Riêng tôi, chưa thấy có người cầm bút nào lại nặng tình quê hương như ông Tạo”. Tấm hình Núi Sam được phóng to, lồng khung kính trang trọng trong nhà ông ở giữa chợ Tân Định (Sài Gòn cũ) là minh chứng rõ nét nhất.

“Tôi muốn thấy lại ánh lửa đồng những đêm Đức Cố quản Trần Văn Thành luyện tập nghĩa quân Láng Cháy - Bãi Thưa. Tôi đã về Hồ Đá, An Định, Thới Sơntìm những lùm bụi nào các chí sĩ Cần Vương hội tụ, chỗ nào Cử Tri ngồi vắt óc làm thơ, Nguyễn Thông dạy học, Bùi Hữu Nghĩa trấn đồn… Về Mỹ Luông ngắm cột dây thép ông Đỏ treo cờ năm 1940… Qua Kiến An nhìn tận mắt lò rèn của bác thợ Gộc rèn gươm khởi nghĩa… Trờ lại cầu sắt Vĩnh Thông nhìn lại chiến trường xưa…” (Đất quê hương, 1979)

Niềm ao ước của nhà văn thật đẹp, cao cả biết bao. Một cách sống ân nghĩa đáng cho người đời sau trân quý. Nhà văn như sống giàu tình nặng nghĩa với những trang sử vàng hào hùng của các ông cha thuở trước. Với tấm lòng yêu nước thương dân, yêu làng quê xứ sở, các bậc nghĩa sĩ xưa đã dấn thân vào bao cuộc chiến đầy nỗi can qua, nhọc nhằn, hòa lẫn máu và nước mắt để bảo vệ bờ cõi quê hương, giữ gìn lòng nhân và chính nghĩa. Những danh sĩ, những địa danh bi hùng xưa cũ, ông đã cất công truy tìm đến “gốc rể lẫn ngọn ngành”.

“Tôi tha thiết muốn biết triền đá nào chí sĩ can trường Trương Gia Mô đã từ ngọn tháp rơi xuống tuẫn tiết, không thể sa vào tay giặc Pháp… Tôi hiểu được thêm rằng Phật Thầy chùa Tây An là nhà chí sĩ bản lĩnh mượn chiếc áo nhà tu che mắt kẻ thù…”

Hơn thế nữa, nhà văn còn bộc bạch tâm sự khi đất nước chưa được hòa bình. - “Tôi lững thững đi vào đường phố Châu Đốc, Long Xuyên như một con người nhàm chán mảnh đất đang đi - bóng núi làng xưa phía trước…”. Dòng tùy bút là nỗi suy tư miên man của một mảnh hồn nặng nợ với quê hương xứ sở, bản quán cội nguồn. Có lẽ nơi nhân vật “tôi” sinh ra - đất mẹ đã hóa thân thành một linh hồn cất tiếng nói, đang dõi theo từng rung cảm trái tim nơi ông.

Nhà văn Mai Văn Tạo sinh ra và lớn lên trong ngôi làng vùng biên viễn Vĩnh Tế. Bà con, chòm xóm miền sơn cước xứ Học Lĩnh Sơn - Vĩnh Tế Sơn thân thiết với ông từ tên gọi “ở nhà” rất mộc: “Chín Giỏi”. Cả làng ông Chín ấy đã cuộn chảy lớn lên từ dòng sữa Vĩnh Tế ngọt lịm, ấm nồng. Từ nhịp đập háo hức, rực lứa của trái tim ông mới sản sinh được những lời văn chân mộc, thiết tha, đằm thắm làm về tình quê, tình người của làng mình, của vùng biên giới cực Nam Tổ quốc đầy sâu nặng, thân thương. Điều đó còn lắng sâu trong bài ca vọng cổ nổi tiếng của soạn giả Chí Linh -“Quê Mẹ An Giang”, đã để lại dấu ấn đậm đà hương vị đồng quê, cho những đứa con đã ra đi biệt xứ, những mảnh đời trôi sông, lạc bến nơi chợ lạ xứ xa đêm ngày khắc khoải. Thêm một vùng đất được định danh trong cõi chữ miên man của hoài niệm ký ức. Một vẻ đẹp lấp lánh rất riêng giữa trăm miền quê hương của Tổ quốc…

Các lớp học trò ngày trước, đã học qua chương trình bộ môn Quốc văn lớp 7 đều biết đến tác phẩm Mai Văn Tạo, qua thể tài tản văn và các đoạn trích dẫn từ bút kí của ông. Đó là những trang viết về “An Giang quê tôi”, “Ký ức một miền quê”, “An Giang - tình sâu nghĩa nặng”….Trong ông luôn phảng phất niềm tự hào về “cái đẹp, cái lớn của quê mình”, qua bút pháp tả cảnh gợi sự tâm tình, giàu biểu cảm. Như sự hiện diện của dòng sông Vĩnh Tế, khung cảnh quê hương đối với người dân bản xứ, đã được ông ghi lại: “Tuổi thơ tôi hằn sâu trong ký ức những ngọn núi trông xa lấp lánh như kim cương, lúc xanh mờ, khi xanh thẫm, lúc tím lơ, khi rực rỡ như núi ngọc màu xanh. Những năm tháng xa quê, dông tố cuộc đời tưởng chừng như cuốn bay tất cả, nhưng trong tâm tư tôi những dòng sông quê mênh mông vẫn cuồn cuộn chảy, những dòng kinh biêng biếc vẫn lặng lờ trôi. Tôi yêu những cánh đồng bao la vàng rực ngày mùa. Tôi yêu cả tiếng chuông chùa ngân thăm thẳm canh khuya. Tôi yêu cây gáo mồ côi, cây gáo đôi im lìm xa xăm ngoài đồng bãi. Với điệp khúc “Tôi yêu…Tôi yêu …” như một lối văn vừa kể, vừa tỏ bày. Tất cả tạo điểm nhấn tư tưởng, làm điểm tựa cho cảm xúc tuôn trào một niềm yêu quý quê hương xứ sở đầy chất chứa. Văn ông đậm đà sắc thái tự sự trữ tình, nhẹ nhàng mà cứ da diết trĩu nặng tâm hồn. Kỷ niệm vui buồn tuổi ấu thơ, khung cảnh quê nhà tĩnh lặng đơn sơ, mộc mạc, mỹ quan của sắc màu đá núi được đặt trong tâm cảnh, nhà văn đã dẫn dắt bạn đọc đi từ biểu đạt trực tiếp đến truyền tải những tâm tình gián tiếp, giàu sức gợi những cung bậc cảm xúc, tình cảm. Từ kỷ niệm của hồi ức đi đến tâm tình và mong ước những chuyến đi điền dã “tự nguyện” về những nơi vùng đất lịch sử, con người kiên cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm:

“An Giang từ bao đời đến bây giờ là đất nóng, là bãi chiến trường. Bờ cõi An Giang đời này sang đời khác luôn bị xâm lăng và đẫm máu… Tôi thèm được leo lên Pháo Đài tìm lại phiến đá nào đã in dấu chân Hoàng Đạo Cật, cùng các đồng đội, đồng chí của anh…” Tôi muốn tìm lại vang bóng con người đến phút cuối đời còn làm cho giặc khiếp sợ mà nhà cách mạng Phan Bội Châu nghe tin đã khóc…”

Từ truyền thống đấu tranh can trường của đồng bào mình - khoảnh khắc sống và trở về giữa vùng đất quê hương chịu nhiều bom đạn, giờ đã ngời rạng nét hòa bình an lạc, tác giả bày tỏ niềm xúc cảm nhớ nhung, tự hào khi quay về quê cũ, cảm thấy quê hương mình đẹp hơn lúc ra đi. Những nỗi niềm cảm, tưởng sâu thẳm trước thời gian, trước đất mẹ…

Đọc Mai Văn Tạo ta cảm nhận được tình cảm yêu thương, gắn bó sâu nặng của nhà văn đối với từng tất đất quê hương… Một giọng văn đằm thắm, gợi cảm sâu sắc. Sức hấp dẫn của văn Mai Văn Tạo đến giọng điệu trữ tình, những quan sát tinh tế, chọn lọc và chân thực. Mỗi lời văn thủ thỉ, thiết tha với cả tâm tình, hồn quê len lỏi qua mỗi nhịp đập con tim, khối óc và nơi con chữ tượng hình. Nơi ấy, đã được ông định danh như “lẽ sống” đời mình. Ông muốn mang theo quê hương trên mỗi bước hành trình. Để vừa đi, vừa sống mà không xa nguồn cội, luôn thủy chung nhất quán với tình đất, tình người quê hương.

Trần Quang Khanh - Hội viên: Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật An Giang, Hội Khoa học Lịch sử An Giang

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm